Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG TRONG TOÀ ÁN NHÂN DÂN THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Khái niệm người tiến hành tố tụng hình sự trong Toà án nhân dân Ngay từ khi ra đời, “TTHS cũng như luật TTHS đã được đặt trên vai nhiệm vụ bảo vệ trật tự pháp luật và an ninh xã hội – điều kiện trọng yếu nhất quyết định tới sự phát triển bền vững của một quốc gia” [10, tr. Tiến hành các hoạt động tố tụng là nhu cầu tất yếu trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự khi có tội phạm xảy ra, hướng tới việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội ở các xã hội có nhà nước. Nhà nước thực hiện chức năng này thông qua việc thiết lập ra các cơ quan để đảm nhiệm các hoạt động trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, đó là các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
Các cơ quan thực hiện những chức năng này để giải quyết các vụ án hình sự được gọi là các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự. “Khi THTT giải quyết các vụ án, các cơ quan THTT có trách nhiệm tôn trọng và bảo đảm quyền con người của người bị tình nghi phạm tội, bị can, bị cáo” [6]. Như vậy cơ quan THTT hình sự là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền được giao thực hiện chức năng tố tụng trong việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án nhằm giải quyết vụ án khách quan, công bằng, bảo đảm và tôn trọng quyền con người, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, xã hội, mọi hoạt động của cơ quan THTT phải được dựa trên cơ sở và phạm vi của pháp luật tố tụng hình sự. Nếu như cơ quan THTT hình sự là các pháp nhân công quyền trong lĩnh vực tư pháp đại diện cho nhà nước tiến hành các chức năng buộc tội và xét xử trong quá trình giải quyết vụ án hình sự thì người THTT hình sự trong 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các cơ quan đó có trách nhiệm thực thi các quyền hạn, trách nhiệm để thực hiện chức năng của các cơ quan THTT hình sự.
Theo quy định của BLTTHS năm 2003, người THTT hình sự là một trong các chủ thể của tố tụng hình sự, có vai trò quan trọng mang tính quyết định trong quá trình chứng minh, giải quyết vụ án hình sự cũng như trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người. Những người THTT hình sự có nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau nhưng hoạt động của họ có mối liên hệ mật thiết, thống nhất với nhau và đều có trách nhiệm là nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. “Khi THTT giải quyết các vụ án, người THTT không được lợi dụng quyền tiến hành giải quyết vụ án xâm phạm đến quyền của những người bị tình nghi phạm tội, bị can, bị cáo” [6]. Hoạt động của họ là hoạt động tư pháp (hoạt động điều tra, truy tố, xét xử).
Họ thực hiện những hành vi như áp dụng pháp luật, được sử dụng quyền lực nhà nước thực hiện theo thủ tục và trình tự tư pháp chặt chẽ…; họ được bổ nhiệm theo điều kiện và cách thức do luật định. Vậy người THTT hình sự là một chức danh tư pháp thể hiện cấp bậc, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của một người được nhà nước bổ nhiệm nếu đáp ứng các tiêu chuẩn do pháp luật quy định và được giao nhiệm vụ tiến hành các hoạt động trong việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự và thi hành các bản án, quyết định của toà án theo trình tự, thủ tục do bộ luật tố tụng hình sự quy định. Trên cơ sở phân loại theo các cơ quan THTT thì có người THTT hình sự trong Cơ quan điều tra, người THTT hình sự trong cơ quan Viện kiểm sát và người THTT hình sự trong Toà án. Trong các giai đoạn của tố tụng hình sự thì xét xử là hoạt động trung tâm với nguyên tắc xuyên suốt là độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Chỉ Toà án mới có chức năng xét xử. Ở nhà nước ta, trong bộ máy nhà nước thì Toà án có 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm để bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật. Toà án là một trong ba cơ quan do Quốc hội – cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất lập ra, chịu trách nhiệm trước Quốc hội và phải báo cáo về hoạt động của mình tại các kỳ họp Quốc hội. “Toà án nhân dân tối cao, các toà án nhân dân địa phương, các toà án quân sự, các toà án khác do luật quy định là những cơ quan xét xử của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [23].
Như vậy xét về chức năng thì chỉ Toà án là cơ quan duy nhất có quyền xét xử, trong tố tụng hình sự thì chỉ Toà án mới có thẩm quyền xét xử hình sự, chỉ Toà án mới có quyền tuyên bố một người phạm tội hay không phạm tội “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” [24, tr. Hệ thống tổ chức của Toà án được ghi nhận tại Hiến pháp 1992 tại Điều 127 và được cụ thể hoá ở Điều 2 Luật tổ chức TAND năm 2002. Theo đó Toà án được tổ chức theo đơn vị hành chính lãnh thổ, bao gồm: TAND tối cao; các TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; các TAND huyện, quận, thị xã thành phố thuộc tỉnh; các Toà án quân sự; các toà án khác do luật định. Về mặt cơ cấu tổ chức Toà án bao gồm có Toà án nhân dân và Toà án quân sự.
TAND có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự ngoài lĩnh vực quân sự bao gồm TAND tối cao; các TAND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; các TAND huyện, quận, thị xã thành phố thuộc tỉnh. Toà án quân sự gồm: Toà án quân sự trung ương nằm trong cơ cấu của TAND tối cao, các Toà án quân sự quân khu và tương đương, các Toà án quân sự khu vực [23, Điều 2]. Toà án quân sự có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự mà bị cáo là: Quân nhân tại ngũ, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tình trạng sẵn sàng chiến đấu, dân quân tự vệ phối thuộc chiến đấu với quân đội và những người khác được trưng tập làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lý; Thường dân phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho quân đội; Những người khác được pháp luật quy định thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự [22, Điều 3]. Trong thực tế thì hành vi phạm tội có liên quan đến lĩnh vực quân sự rất ít khi xảy ra, ngược lại hành vi phạm tội trong dân sự diễn biến rất phức tạp, số vụ án mà TAND phải thụ lý hàng năm gấp rất nhiều lần so với số vụ án hình sự mà Toà án quân sự phải thụ lý.
Chính vì vậy vai trò của TAND trong hoạt động xét xử để đấu tranh phòng chống tội phạm là quan trọng hơn cả. Để thực hiện chức năng xét xử thì cần phải có đội ngũ những người THTT hình sự trong TAND. Những người THTT hình sự trong TAND là những người trực tiếp thực hiện hoạt động xét xử và quyết định hình phạt đối với người phạm tội. Vì vậy để pháp luật được nghiêm minh, công tác xét xử đạt hiệu quả phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động của người THTT hình sự trong TAND.
Vai trò, nhiệm vụ của họ đặc biệt quan trọng, điều này đòi hỏi họ phải vô tư, khách quan, công bằng trong hoạt động xét xử của mình. Bên cạnh đó thì trình độ, năng lực của những người THTT hình sự trong TAND này phải được bồi dưỡng, nâng cao vì vậy việc bổ nhiệm, tuyển chọn cũng như việc quy định quyền hạn, trách nhiệm đều được Pháp luật tố tụng hình sự quy định. Theo quy định tại Điểm c, Khoản 2, Điều 33 của Bộ luật TTHS năm thì người THTT hình sự bao gồm Chánh án, Phó Chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư kí TAND. Theo quy định của Điều 18 và Điều 27 Luật tổ chức Toà án thì cơ cấu tổ chức của Toà án nhân dân bao gồm Chánh án, Phó Chánh án TAND, Thẩm phán, Thư kí TAND và Hội thẩm nhân dân.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy Chánh án, Phó Chánh án TAND, Thẩm phán, Thư kí TAND và Hội thẩm nhân dân là những người THTT hình sự trong TAND. Chánh án, Phó Chánh án TAND, Thẩm phán, Thư kí TAND là những người được bổ nhiệm, tuyển dụng theo quy định của pháp luật vào biên chế của TAND nên họ đương nhiên là người THTT hình sự trong TAND. Riêng đối với Hội thẩm nhân dân họ không thuộc biên chế của TAND họ không phải là người làm việc chuyên nghiệp trong cơ quan tố tụng nào mà họ công tác ở nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Họ không phải do bổ nhiệm hay tuyển dụng mà được bầu bởi cơ quan quyền lực nhà nước để tham gia vào hoạt động xét xử.
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Việc cơ quan quyền lực nhà nước bầu Hội thẩm nhân dân tham gia vào hoạt động xét xử thể hiện được quyền làm chủ của người dân trong hoạt động này, qua đó thể hiện được bản chất của nhà nước ta. Bên cạnh đó theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003: “Việc xét xử của Toà án nhân dân có Hội thẩm nhân dân, của Toà án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia. Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán” [24, Điều 15].