Chương 1 TỔNG QUAN VỀ NGƢỜI KHÔNG QUỐC TỊCH 1. Khái niệm về quốc tịch và ngƣời không quốc tịch 1. Khái niệm về quốc tịch Trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, quốc tịch là một khái niệm ra đời vào thời kỳ xã hội đang chuyển dần từ chế độ phong kiến sang chủ nghĩa tư bản. Vào thời kỳ này khái niệm "công dân" thay thế cho khái niệm "thần dân" trước đây.
Chế định này được gia cấp tư sản đưa ra nhằm thu hút quần chúng nhân dân ủng hộ cuộc cách mạng nhằm lật đổ chế độ phong kiến, thiết lập chính quyền mới của giai cấp tư sản [15, tr. Đây là một bước phát triển quan trọng trong lịch sử loài người, lần đầu tiên người dân sống trong một quốc gia đã có cho riêng mình một chế định mang tính pháp lý, lần đầu tiên họ được coi là công dân của một quốc gia chứ không phải là thần dân trong chế độ phong kiến. Mặc dù vậy, ý nghĩa về sự bình đẳng mà giai cấp tư sản hứa hẹn mang lại cho họ khi đưa ra chế định quốc tịch ở thời kỳ này cũng chỉ mang tính hình thức. Trên thực tế, chỉ có giai cấp tư sản là giai cấp nắm chính quyền mới được hưởng thụ một cách đầy đủ nhất sự bình đẳng và lợi ích mà chế định này mang lại.
Trước đây, thuật ngữ “thần dân” còn dùng để chỉ người dân trong nhà nước quân chủ. Hiện nay, hiến pháp các nước quan chủ lập hiến (Bỉ, Tây Ban Nha, Hà Lan.) cũng không dùng thuật ngữ “thần dân” mà dùng thuật ngữ “công dân”, “quốc tịch”. Thuật ngữ "quốc tịch" hiện nay được sử dụng phổ biến và thống nhất trong pháp luật quốc gia và công pháp quốc tế của nhiều quốc gia trên thế giới, nó không chỉ dùng để chỉ quốc tịch của cá nhân mà còn chỉ quốc tịch của pháp nhân (doanh nghiệp, tập đoàn, tàu bay, tàu biển. Ngày nay, khi quan hệ giữa các quốc gia ngày càng phát triển, quan hệ 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giữa công dân của những quốc gia đó cũng ngày càng phức tạp.
Do đó, việc xác định quốc tịch ngày càng trở nên quan trọng có ý nghĩa. Công dân được sử dụng mọi quyền do pháp luật quy định và thực hiện những nghĩa vụ pháp lý tương ứng. Nhà nước bảo đảm để công dân có thể thực hiện các quyền của mình và kiểm soát công dân thực hiện các nghĩa vụ. Quốc tịch của Liên minh Châu Âu là một chế định hoàn toàn mới (quốc tịch EU).
Quốc tịch của Liên minh Châu Âu được trao cho công dân các nước trong Liên minh là trường hợp đặc biệt vì công dân chỉ gắn với Nhà nước chứ không gắn với Liên minh vì Liên minh khác với Liên bang. Công dân Liên minh Châu Âu có quyền tự do đi lại và sống trên phạm vi lãnh thổ của các nước thuộc Liên minh. Trong trường hợp này, công dân Liên minh Châu Âu chỉ có ý nghĩa trong phạm vi nội bộ Liên minh chứ không có ý nghĩa quốc tế. Trong các quan hệ quốc tế chỉ có quốc tịch của từng nước thành viên của Liên minh là có ý nghĩa như việc bảo hộ ngoại giao, lãnh sự.
Trường hợp này giống Liên minh Nga - Belorussia (Belarus), công dân Nga có quyền tự do đi lại sang Belorussia và sinh sống ở đó, công dân Belorussia cũng có quyền đi lại và sinh sống trên lãnh thổ của Nga mà không có sự phân biệt. Những người dân này định cư ở đâu thì có quyền bầu cử và ứng cử vào cơ quan tự quản địa phương nơi mình cư trú. Cũng giống như Liên minh Châu Âu, điều này chỉ được ghi nhận trong nội bộ của Nga và Belorussia mà không có ý nghĩa đối với quốc tế [15, tr. Ngày nay, khái niệm công dân và địa vị pháp lý của họ trong hệ thống pháp luật quốc gia được quan tâm và được ghi nhận một cách rõ ràng, đúng nghĩa nhất.
Quốc tịch không còn là một chế định mang tính hình thức mà nó đã trở thành cách thức biểu đạt rõ nhất mối quan hệ hai chiều giữa một bên là Nhà nước và một bên là công dân của họ. Quốc tịch có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền con 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người. Nó là tiền đề pháp lý để các cá nhân được hưởng các quyền khác, là sợi dây liên hệ giữa một cá nhân với một quốc gia, thể hiện mối liên hệ giữa cá nhân đó với Nhà nước, xác định quyền và nghĩa vụ hai chiều giữa Nhà nước và công dân. Quốc tịch có tính bền vững, sự thay đổi về thời gian hay không gian không phải là điều kiện để làm thay đổi hay chấm dứt mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước và công dân, các bên vẫn phải tuân theo đầy đủ quyền và nghĩa vụ.
Đây là yếu tố nhân thân không thể thiếu trong pháp luật của bất kỳ quốc gia nào. Việc thay đổi quốc tịch của người này không làm thay đổi quốc tịch của người khác (ngoại trừ trường hợp con sinh ra). Đây là cơ sở để xác định quyền và nghĩa vụ của công dân đối với Nhà nước và Nhà nước đối với công dân. Quốc tịch có một ý nghĩa quốc tế rất lớn, là cơ sở để Nhà nước thực hiện quyền bảo hộ ngoại giao đối với công dân của nước mình ở nước ngoài, đồng thời là cơ sở để các nước hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống tội phạm.
Quốc tịch còn có ý nghĩ pháp lý quốc tế to lớn trong việc hợp tác bảo vệ quyền con người. Trong từ thời kỳ lịch sử, trong các xã hội khác nhau, ở các Nhà nước khác nhau thì công dân sẽ có địa vị pháp lý khác nhau. Địa vị pháp lý đó được củng cố và hoàn thiện hơn qua từng giai đoạn phát triển của xã hội. Bởi vậy, thời điểm lịch sử thay đổi dẫn đến khái niệm về quốc tịch, pháp luật về quốc tịch thay đổi.
Quốc tịch là căn cứ duy nhất xác định công dân của một Nhà nước, là sự quy thuộc của một người vào một quốc gia nào đó. Mỗi quốc gia có một chế định pháp lý khác nhau về quốc tịch, do vậy, Luật Quốc tịch mỗi nước quy định cụ thể vấn đề về nhập quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch của mỗi công dân phù hợp với đặc thù của nước đó và có những biện pháp khác nhau để đảm bảo quyền lợi cho những công dân. Quốc tịch là một khái niệm, một phạm trù chính trị - pháp lý xác định 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một mối quan hệ giữa cá nhân một con người với một Nhà nước nhất định, đó là sự ràng buộc về mặt pháp lý giữa một cá nhân và một quốc gia. Quan hệ này cho phép xác định con người nào đó là công dân của một nước cụ thể.
Nhìn chung, hầu hết các quốc gia đều ghi nhận các phương thức: (1) Hưởng quốc tịch theo nguyên tắc huyết thống; (2) Hưởng quốc tịch theo nguyên tắc nơi sinh; (3) Hưởng quốc tịch theo sự gia nhập quốc tịch; (4) Hưởng quốc tịch theo sự lựa chọn quốc tịch và (5) Hưởng quốc tịch theo sự phục hồi quốc tịch. Ngoài ra, thực tiễn sinh hoạt quốc tế còn có phương thức thưởng quốc tịch. Đa phần, một người sinh ra chỉ có một quốc tịch, tuy nhiên có những trường hợp do những nguyên nhân khác nhau, mà một người có thể có hai quốc tịch và cũng có thể không có quốc tịch nào. Luật Quốc tịch của mỗi quốc gia quy định cụ thể về vấn đề nhập quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch, tước quốc tịch đối với công dân phù hợp với đặc thù của nước đó.
Quốc tịch gắn liền với mỗi con người từ khi sinh ra đến khi chết đi, là tiền đề để họ được hưởng các quyền công dân và làm nghĩa vụ công dân đối với nhà nước mà mình mang quốc tịch. Từ mối quan hệ chặt chẽ, có đi có lại đó chúng ta có thể định nghĩa về "quốc tịch": Quốc tịch là một phạm trù chính trị - pháp lý, thể hiện mối quan hệ bền vững, gắn bó chặt chẽ, thường xuyên về chính trị và pháp lý giữa Nhà nước và cá nhân, là căn cứ pháp lý duy nhất để xác định công dân của một Nhà nước, trên cơ sở quốc tịch sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ qua lại giữa Nhà nước và công dân. Khái niệm về người không quốc tịch Trong thế giới hiện đại ngày nay, con người luôn là tâm điểm của sự phát triển và được pháp luật bảo hộ của các nền pháp lý kể cả pháp luật quốc tế lẫn pháp luật quốc gia. Thông thường, mỗi người sinh ra đã mang một quốc 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tịch, có sự gắn bó chặt chẽ với một Nhà nước nhất định.
Mối liên hệ này sẽ gắn bó với cá nhân đó suốt cuộc đời từ khi sinh ra cho đến chết đi, trừ những trường hợp đặc biệt như xin thôi quốc tịch, bị tước quốc tịch, mất quốc tịch. Tuy nhiên trên thế giới, với nhiều nguyên nhân khác nhau vẫn xuất hiện tình trạng người không mang quốc tịch của bất kỳ quốc gia nào, có nghĩa là người đó không được coi là công dân của bất kỳ nước nào. Không quốc tịch là vấn đề phát sinh ngoài mong muốn của các quốc gia. Hậu quả của các hiện tượng xã hội quốc tế này có thể dẫn tới những căng thẳng, phức tạp giữa các quốc gia trong quan hệ quốc tế.
Vì vậy, cộng đồng quốc tế đã có nhiều cố gắng để giải quyết tình trạng người không quốc tịch. Pháp luật mỗi quốc gia có các quy chế bảo hộ công dân nước họ, cho người nước ngoài và người không quốc tịch. Tuy nhiên, phụ thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia mà người không quốc tịch được hưởng mức độ và quyền và lợi ích khác nhau, chủ yếu phụ thuộc vào mức độ phát triển kinh tế, xã hội và quan điểm của mỗi quốc gia. Cho đến thời điểm hiện tại thì xuyên suốt là những quy định có tính nguyên tắc của Công ước năm 1954 về quy chế của người không quốc tịch, Công ước quy định đầy đủ những quyền của người không quốc tịch, lấp đi khoảng trống pháp lý về người không quốc tịch.
Công ước 1954 về quy chế của người không quốc tịch được Liên Hợp Quốc thông qua ngày 28/9/1954, có hiệu lực từ ngày 06/6/1960.