Chương 1 TỔNG QUAN VỀ NGƢỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT 1. KHÁI NIỆM NGƢỜI ĐẠI DIỆN PHÁP LUẬT Người đại diện theo pháp luật trong doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp được quy định trong hầu hết các hình thức tổ chức kinh doanh khác nhau và hiện hữu trong quá trình thành lập và hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên Luật doanh nghiệp chỉ quy định hay nói cách khác là xác định ai là người có thể làm người đại diện theo pháp luật trong doanh nghiệp mà chưa đề cập rõ người đại diện theo pháp luật là như thế nào, (chỉ biết rằng họ có vai trò quan trọng trong doanh nghiệp). Khi tham khảo Điều 4 (giải thích từ ngữ) Luật doanh nghiệp, người đọc không thấy được bất kỳ một sự giải thích nào về người đại diện theo pháp luật trong doanh nghiệp trong khi Luật doanh nghiệp có rất nhiều quy định về người đại diện theo pháp luật trong doanh nghiệp, về nghĩa vụ và trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật.
Chính vì Luật doanh nghiệp không quy định rõ ràng về người đại diện theo pháp luật cho nên người đọc chỉ có thể tham khảo những quy định về đại diện nói chung, và người đại diện theo pháp luật nói riêng được quy định trong Bộ luật dân sự. Theo Bộ luật dân sự quy định về đại diện nói chung, cụ thể là "đại diện là việc một người nhân danh và vì lợi ích của người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện. Chủ thể có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua người đại diện. Quan hệ đại diện được xác lập theo pháp luật hoặc theo ủy quyền (khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 139 Bộ luật dân sự).
Cụ thể hơn, "đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện" (khoản 1 Điều 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 142 Bộ luật dân sự)."Đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật quy định hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định"(Điều 140 Bộ luật dân sự). Bộ luật dân sự cũng không giải thích thế nào là người đại diện theo pháp luật mà chỉ liệt kê những người đại diện theo pháp luật, cụ thể là người đại diện theo pháp luật bao gồm: - Cha, mẹ đối với con chưa thành niên; - Người giám hộ đối với người được giám hộ; - Người được Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; - Người đứng đầu pháp nhân theo quy định của điều lệ pháp nhân hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; - Chủ hộ gia đình đối với hộ gia đình; - Tổ trưởng tổ hợp tác đối với tổ hợp tác; - Những người khác theo quy định của pháp luật (Điều 141 Bộ luật dân sự). Các quy định trên của Bộ luật dân sự chưa giải thích cụ thể về người đại diện theo pháp luật mà chỉ biết đối với trường hợp pháp nhân thì người đại diện theo pháp luật là người đứng đầu pháp nhân theo quy định của điều lệ pháp nhân hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền [8, Điều 141 khoản 4]. Ngoài ra, trên cơ sở những quy định của Bộ luật dân sự, đối với pháp nhân có thể thấy được sự khác biệt giữa hai hình thức đại diện này.
Đó là: Đối với hình thức đại diện theo pháp luật, người đại diện sẽ đương nhiên có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch, những hành vi pháp lý mà pháp nhân do họ làm đại diện có thể làm theo luật định, nhân danh pháp nhân và vì lợi ích của pháp nhân [8, Điều 144 khoản 1]. Đối với hình thức đại diện theo ủy quyền, người đại diện theo ủy quyền chỉ có thể làm những gì mà văn bản ủy quyền đã ghi nhận. Nói cách khác, phạm vi đại diện theo ủy quyền được xác lập theo sự ủy quyền [8, Điều 144 khoản 2]. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trên thế giới, đối với việc phân biệt đại diện theo pháp luật và theo ủy quyền, các học giả Đức đã đưa ra lý thuyết về phân biệt người đại diện theo pháp luật và theo ủy quyền vào cuối thế kỷ 19.
Điều này được ghi nhận ở Bộ luật dân sự Cộng hòa Liên bang Đức và lý thuyết này được công nhận ở các hệ thống Luật dân sự. Sau này các Bộ luật dân sự kế tiếp đều đưa ra sự phân biệt giữa đại diện theo pháp luật và đại diện thông qua hợp đồng [34, tr. Luật doanh nghiệp tuy có nhiều chỉnh sửa nhưng vấn đề người đại diện theo pháp luật chưa được quy định một cách rõ ràng, mà chỉ mang tính chung chung không cụ thể mặc dù đây là một vấn đề có nhiều tranh luận và trên thực tế có nhiều cách hiểu khác nhau. Một khi đã có nhiều cách hiểu khác nhau thì sẽ có các cách áp dụng khác nhau, và như vậy, sẽ có một số không ít người không hiểu đó có thể phải chịu những rủi ro vì pháp luật không rõ ràng như vậy.
Từ trong nhận thức của họ đến quan hệ giao dịch cũng có thể có nhầm lẫn và dẫn đến những tranh chấp không đáng có xảy ra. Vậy phải hiểu thế nào là người đại diện theo pháp luật trong Luật doanh nghiệp? Pháp luật chỉ quy định phải đăng ký người đại diện theo pháp luật, họ giữ chức vụ gì trong công ty thể hiện trong điều lệ và giấy đề nghị đăng ký kinh doanh và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp. Để trả lời câu hỏi trên phải đặt ra những câu hỏi là người đại diện theo pháp luật là ai, giữ chức vụ gì, họ có những thẩm quyền gì, họ giữ tư cách gì trong doanh nghiệp, và quan trọng hơn là quyền hạn của họ trong vấn đề đại diện thay mặt doanh nghiệp như thế nào? Vai trò như thế nào đối với các quan hệ bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Những câu hỏi trên đặt ra và Luật doanh nghiệp đã trả lời đến đâu quy định đến đâu là vấn đề hiện nay phải quan tâm.
Theo cách nghĩ của một số người thì người đại diện theo pháp luật có những quyền hành rộng lớn nhưng họ không nói rõ là rộng lớn đến đâu cả, chỉ biết rằng nếu người nào là người đại diện theo pháp luật là có thể thay đổi cán cân quyền lực của công ty [26, tr 148], 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoặc là người đại diện pháp luật có quyền thay mặt công ty trong mọi giao dịch và công ty phải chịu trách nhiệm trong các giao dịch đó. Hiểu vấn đề như vậy thì thực sự nguy hiểm cho công ty, cổ đông và người thứ ba vì người đại diện theo pháp luật công ty trong một chừng mực nào đó, họ có quyền thay mặt công ty khi họ được pháp luật công nhận và trong giới hạn sự thỏa thuận các các thành viên trong điều lệ. Khi đề cập người đại diện theo pháp luật là để người bên ngoài có thể biết được ai là người có thể ràng buộc công ty vào trách nhiệm của nó, biểu hiện cụ thể ở đây là người sẽ phát biểu và cam kết thay cho công ty, ký văn kiện ràng buộc công ty [17, tr. 18], và người thứ ba chỉ cần biết ai là người đại diện theo pháp luật của công ty để bắt công ty chịu trách nhiệm mà không cần biết trong nội bộ công ty ai có quyền hơn ai.
Đối với vấn đề nội bộ công ty, người có quyền hành có thể là một người không làm đại diện pháp luật. Nhân viên công ty được cho biết khi vào làm là họ thuộc quyền của ai và ai có quyền gì đối với họ. Những người có quyền đối với nhân viên thường không phải là người đại diện pháp luật. Bên trong công ty không cần người đại diện pháp luật mà là ai có quyền hành gì cụ thể [14, tr.
19], mà cụ thể hơn ai là người điều hành họ. Quan trọng hơn, họ chỉ cần biết ai là người đại diện theo pháp luật của công ty khi họ có tranh chấp với công ty về hợp đồng lao động (chẳng hạn bị sa thải trái pháp luật hoặc về một vấn đề nào đó về hợp đồng lao động) để kiện công ty ra tòa và để tòa triệu tập người đại diện theo pháp luật của công ty để có thể quy trách nhiệm cho công ty. Trong một phương diện nào đó, có thể hiểu rằng người đại diện theo pháp luật và hành vi của người này là cơ sở, là điều kiện cơ bản khi đề cập đến vấn đề trách nhiệm của công ty, tức là ràng buộc công ty với bên ngoài. Công ty là thực thể pháp lý do pháp luật sinh ra và chịu trách nhiệm bằng khối tài sản của mình, nó có khả năng chịu trách nhiệm và nghĩa vụ như những con người tự nhiên.
Luật sư Nguyễn Ngọc Bích trên Thời báo kinh tế 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sài Gòn số 31/2006 đưa ra quan điểm, "khi nhìn vào công ty thì người khác không thấy ai cả mà chỉ thấy toàn là nhà xưởng, cán bộ, công nhân, vậy công ty là ai? Làm sao ràng buộc công ty vào hành động của nó, làm sao giao dịch với công ty, gửi thư cho công ty. Chính vì vậy mà nhà làm luật đã nghĩ ra người đại diện theo pháp luật để đại diện cho công ty" [14, tr. Có thể hiểu người đại diện theo pháp luật là người thay mặt công ty trong các giao dịch với người thứ ba, bởi vì công ty không thể giao dịch với bên ngoài mà không có người đại diện cho nó và sự thay đổi của người này không ảnh hưởng đến công ty và giao dịch của công ty vẫn thi hành. Người đại diện theo pháp luật do pháp luật nghĩ ra, cho nên pháp luật cũng giới hạn cho nó những thẩm quyền mang tính đại diện cho công ty, không thể toàn quyền được vì nếu toàn quyền thì sẽ dẫn đến phá sản công ty vì tính toàn quyền của nó.
Người đại diện theo pháp luật của công ty là người nắm giữ một chức vụ (có thể là tổng giám đốc, chủ tịch.) và người đại diện pháp luật không thay đổi và tồn tại với công ty. Vậy, người đại diện pháp luật của công ty là người được công ty cử ra để tiếp xúc giao dịch với những người bên ngoài công ty. Luật sư Nguyễn Ngọc Bích cho rằng, "nếu tả chân thì người đại diện pháp luật của công ty là người nhận và gửi giấy tờ nhân danh công ty và việc làm của người ấy ràng buộc công ty" [14, tr.