Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VÀ THANH LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN 1.1 Khái niệm tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản và mối quan hệ giữa quản lý và thanh lý tài sản phá sản 1.1 Khái niệm tài sản phá sản a. Khái niệm tài sản Tài sản theo Điều 163 Bộ luật dân sự 2005 của Việt Nam (sau đây gọi là BLDS) bao gồm “vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. So với thuật ngữ “vật có thực” theo quy định của BLDS 1995 thì “vật” ở đây được hiểu theo nghĩa rộng hơn, bao gồm vật đang có và vật sẽ được hình thành trong tương lai. Sự thay đổi trong quy định như vậy là phù hợp với nhu cầu về giao dịch dân sự trong nền kinh tế thị trường.
Không phải chỉ những vật đang hiện hữu mà những vật đang được hình thành như: máy móc đang lắp ráp, nhà đang xây, thuyền đang đóng…cũng được coi là tài sản và có thể là đối tượng của giao dịch. “Tài sản” ở đây còn bao gồm “tiền”; Tiền trong kinh tế học được hiểu là thứ đại diện cho giá trị của hàng hoá và dịch vụ, là phương tiện lưu thông trong giao dịch dân sự. Như vậy, tiền giữ vai trò rất quan trọng và được coi là tài sản đặc biệt, nó có chức năng là phương tiện thanh toán, phương tiện tính toán và là phương tiện tích luỹ. Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm ổn định giá trị của đồng tiền và có các quy định chặt chẽ trong việc phát hành tiền và hạn chế quyền định đoạt tiền của chủ sở hữu.
Ngoài ra, “tài sản” còn bao gồm “giấy tờ có giá”, tuy nhiên chỉ những giấy tờ có giá là đối tượng của giao dịch dân sự và trong thời hạn lưu thông mới 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trở thành tài sản. Các loại giấy tờ có giá bao gồm: cổ phiếu, tín phiếu, trái phiếu, thương phiếu, chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu…, chúng đều có một mệnh giá nhất định. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, giấy tờ có giá là phương tiện thanh toán tiện lợi, hiệu quả và khá an toàn nên ngày càng được sử dụng rộng rãi. , “quyền tài sản” cũng là một nội dung của “tài sản”.
Theo Điều 182 BLDS năm 2005, quyền tài sản “là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ”. Có thể thấy rằng nội dung “tài sản” theo pháp luật Việt Nam hiện hành khá rộng, bao gồm toàn bộ các tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng trong xã hội. Nhưng các nhà làm luật khi đưa ra khái niệm “tài sản” trong BLDS 2005 cũng như nhiều khái niệm trong các văn bản quy phạm pháp luật khác còn thể hiện dưới dạng liệt kê nên khi có sự thay đổi nhất định trong đời sống kinh tế- xã hội thì nó trở nên thiếu sót. Vì vậy, khi đưa ra các khái niệm nói riêng và xây dựng luật nói chung, nhà làm luật cần có quy định theo hướng mở để phù hợp với xu thế phát triển hiện nay.
Khái niệm tài sản phá sản. Pháp luật các nước khác nhau có quan niệm không giống nhau về tài sản phá sản (TSPS). Luật phá sản Đức xác định TSPS dựa trên loại hình tài sản được phân loại là động sản hay bất động sản, tài sản vô hình hay hữu hình [52]; Luật phá sản của Mỹ coi TSPS hiện có của doanh nghiệp phản ánh trên sổ sách kế toán tại thời điểm mở thủ tục phá sản, tài sản thu hồi được tự việc xiết nợ [63]. Luật Phá sản Nhật Bản chỉ coi TSPS của doanh nghiệp nằm trong lãnh thổ quốc gia, không tính đến tài sản của doanh nghiệp ở nước ngoài [60]; Nga thì coi cả tài sản phát sinh trong quá trình giải quyết phá sản nằm trong khối TSPS [61].
Nhìn chung, toàn bộ sản nghiệp của doanh nghiệp, hợp tác xã (sau đây 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gọi chung là DN) sau khi có quyết định thụ lý vụ phá sản của toà án hợp thành một khối, gọi là TSPS. Pháp luật phá sản Việt Nam không đưa ra khái niệm TSPS mà chỉ có quy định về tài sản của DN lâm vào tình trạng phá sản. Điều 19 Luật phá sản doanh nghiệp 1993 quy định: “Tài sản của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp hoặc thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp (đối với doanh nghiệp Nhà nước), trong đó gồm : 1. Tài sản cố định và tài sản lưu động của doanh nghiệp đang có ở doanh nghiệp; 2.
Tiền hoặc tài sản góp vốn, liên doanh, liên kết với cá nhân, doanh nghiệp hoặc tổ chức khác; 3. Tiền hoặc tài sản của doanh nghiệp mà cá nhân, tổ chức doanh nghiệp khác đang nợ hoặc chiếm đoạt; 4. Tài sản mà doanh nghiệp đang cho thuê hoặc cho mượn; 5. Các quyền về tài sản.
Tài sản của doanh nghiệp tư nhân còn bao gồm cả tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân không trực tiếp dùng vào hoạt động kinh doanh.” LPS 2004, theo Điều 49: “1. Tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản bao gồm: - Tài sản và quyền về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã có tại thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; - Các khoản lợi nhuận, các tài sản và các quyền về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã sẽ có do việc thực hiện các giao dịch được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tài sản là vật đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp, hợp tác xã. Trường hợp thanh toán tài sản là vật bảo đảm được trả cho các chủ nợ có bảo đảm nếu giá trị của vật bảo đảm vượt quá khoản nợ có bảo đảm phải thanh toán thì phần vượt quá đó là tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã; - Giá trị quyền sử dụng đất của doanh nghiệp, hợp tác xã được xác định theo quy định của pháp luật về đất đai. Tài sản của doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh lâm vào tình trạng phá sản bao gồm tài sản quy định tại khoản 1 Điều này và tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành ng vào hoạt động kinh doanh.
Trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh có tài sản thuộc sở hữu chung thì phần tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh đó được chia theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định có liên quan.” Như vậy, so với quy định của LPS doanh nghiệp 1993, LPS đã quy định thời điểm xác định tài sản của DN lâm vào tình trạng phá sản sớm hơn và quy định phạm vi rộng hơn, rõ ràng hơn về tài sản đó. Tài sản của DN được xác định tại thời điểm “toà án thụ lý đơn” chứ không phải là thời điểm toà án ra quyết định mở thủ tục giải quyết phá sản. , khối TSPS sẽ được bảo đảm hơn khi lâm vào tình trạng phá sản có DN cố tiêu dùng thật nhiều nếu không cũng bị thu hồi ; một số khác thì có hành vi tẩu tán, cất giấu tài sản. Theo LPS, lợi nhuận, các tài sản và các quyền về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã sẽ có do việc thực hiện các giao dịch được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cũng được coi là nằm trong khối TSPS.
Như vậy, dù là tài sản đó hình thành trong tương lai nhưng giao dịch để tạo cho DN có được tài sản đó xác lập trước khi toà án thụ lý đơn nên cũng cần 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đưa vào khối TSPS nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của DN. Bên cạnh đó, có thể thấy luật đưa ra phạm vi TSPS rất rộng: trường hợp thanh toán tài sản là vật đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của DN cho các chủ nợ có đảm bảo mà vật bảo đảm có giá trị vượt quá khoản nợ có bảo đảm phải thanh toán thì phần vượt quá đó là tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã. Ngoài ra, quyền sử dụng đất của doanh nghiệp, hợp tác xã cũng nằm trong khối TSPS và được xác định theo quy định của pháp luật về đất đai. Nhìn một cách khái quát, nhà làm luật Việt Nam dường như đồng nhất khái niệm tài sản của DN lâm vào tình trạng phá sản với khái niệm TSPS.
Tuy vậy, có thể nhận thấy phạm vi TSPS rộng hơn khái niệm tài sản của DN lâm vào tình trạng phá sản. Nếu Luật phá sản doanh nghiệp 1993 chỉ đề cập đến tài sản có trong khối TSPS thì theo LPS, TSPS bao gồm tài sản có và tài sản nợ của DN lâm vào tình trạng phá sản. Trong tài sản có của doanh nghiệp, ngoài tài sản của DN lâm vào tình trạng phá sản, còn có các tài sản khác, như: tài sản hình thành trong giai đoạn thanh lý tài sản, tài sản thu hồi được từ những giao dịch vô hiệu mà DN thực hiện trong khoảng thời gian nhất định, tài sản có được trong quá trình DN phục hồi hoạt động kinh doanh. Bằng cách đưa ra các quy định để DN có thể bằng nhiều cách thức làm tăng khối TSPS, LPS đã phần nào thực hiện được mục tiêu của mình.
Có thể hiểu: TSPS là toàn bộ tài sản có và tài sản nợ của DN tính từ thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cho đến khi giải quyết xong vụ việc phá sản. Trong quá trình giải quyết phá sản, việc xác định đúng, đầy đủ các tài sản của DN có ý nghĩa rất quan trọng. Theo quy định 1 49 LPS, tài sản của DN có bốn nhóm chính và phạm vi khối TSPS khá rộng. Tuy nhiên, với các quy định mang tính liệt kê như vậy sẽ rất 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dễ bỏ qua một số tài sản mà lẽ ra có thể thu hồi và thanh lý để thanh toán nghĩa vụ cho chủ nợ.
Chẳng hạn, ng i Điều 49 LPS thì tài sản thu được từ các giao dịch vô hiệu hoặc thu được từ các giao dịch không công bằng của con nợ, tài sản và quyền tài sản mà con nợ có được sau ngày mở thủ tục phá sản cũng nên coi là tài sản có thể thu hồi để thực hiện nghĩa vụ của DN. , việc thực hiện thu hồi loại tài sản trên thực tế sẽ rất khó khăn vì luật quy định.