Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI ĐẠI DIỆN HỢP PHÁP TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Khái niệm và vị trí vai trò của người đại diện hợp pháp trong tố tụng hình sự 1. Khái niệm Luật TTHS là một ngành luật trong hệ thống pháp luật, tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Để đảm bảo cho việc phát hiện, xác dịnh tội phạm và người phạm tội được chính xác, xử lý nghiêm minh, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội đồng thời bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, Bộ luật TTHS quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
Nghiên cứu về người đại diện hợp pháp trong TTHS không thể không tìm hiểu về chủ thể tham gia vào quan hệ TTHS. Có thể liệt kê rất nhiều các chủ thể khác nhau tham gia vào quan hệ pháp luật TTHS trong đó có thể phân thành hai nhóm chủ thể đó là: người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng. Người tham gia tố tụng bao gồm: Người tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bào chữa và người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch. Người đại diện hợp pháp thuộc về nhóm người tham gia tố tụng.
Trên thực tế, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân thì người tham gia tố tụng thường tự mình thực hiện tư cách tố tụng. Tuy nhiên, có những trường hợp vì một lý do khách quan nào đó mà những người tham gia tố tụng không thể tự mình thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng chẳng hạn như bị ốm đau, bệnh hiểm nghèo, thiên tai, địch họa hoặc có nhược điểm về 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể chất hoặc tinh thần. Do vậy, những người tham gia tố tụng trên cần thiết phải có người đại diện cho họ để có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Trong một xã hội hiện đại, khi các quyền của con người ngày càng được coi trọng, nhu cầu cuộc sống của con người ngày càng được đáp ứng đầy đủ trên mọi mặt của đời sống xã hội thì việc những chủ thể là cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác có thể ký các hợp đồng dịch vụ với các văn phòng luật sư, các công ty luật để thay mình tham gia tố tụng, thực hiện quyền và nghĩa vụ theo phạm vi ủy quyền là việc làm ngày càng trở nên phổ biến.
Tuy nhiên, không phải việc ủy quyền cũng phải nằm trong giới hạn mà pháp luật cho phép. Đối với một số trường hợp, luật quy định người tham gia tố tụng phải tự mình thực hiện mà không thể ủy quyền được cho người khác đặc biệt là những vấn đề liên quan đến trách nhiệm hình sự. Khái niệm về người đại diện hợp pháp hiện chưa được quy định trong Luật tố tụng hình sự năm 2003. Như vậy, để hiểu được khái niệm này cần phải tìm hiểu thông qua từ điển Luật học và các quy định của pháp luật chuyên ngành như: Bộ luật dân sự và luật tố tụng dân sự và một số các quan điểm nghiên cứu khác.
Theo từ điển Luật học thì: “Đại diện là việc một người, một cơ quan, tổ chức nhân danh người, cơ quan tổ chức khác xác lập, thực hiện hành vi pháp lý trong phạm vi thẩm quyền đại diện”[31, tr. Đại diện có đại diện theo ủy quyền và và đại diện theo pháp luật Theo quan điểm của tác giả Đinh Văn Quế thì: “Người đại diện hợp pháp của bị cáo là người mà người theo pháp luật hoặc được bị cáo ủy quyền tham gia tố tụng, có quyền và nghĩa vụ như bị cáo. Bộ luật dân sự năm 2005, điều 139 quy định: “Đại diện là việc một người (sau đây gọi tắt là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi tắt là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện” 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định: “Người đại diện trong tố tụng dân sự bao gồm đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền…”. Tại điều luật trên cũng quy định rõ đối tượng là đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền.
Tại khoản 1, điều 54 Luật tố tụng hành chính năm 2011 cũng quy định về người đại diện: “Người đại diện trong Luật tố tụng hành chính bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền.” dễ dàng nhận thấy quy định này cũng giống như quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005. Tiếp theo khoản 2 điều 54 quy định cụ thể các đối tượng chủ thể là người đại diện theo pháp luật, theo ủy quyền và điều kiện là người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng hành chính. Như vậy, có thể hiểu người đại diện hợp pháp là người tham gia vào quan hệ tố tụng hình sự với tư cách là người tham gia tố tụng. Khi tham gia vào quan hệ pháp luật này, người đại diện nhân danh người được đaị diện để thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong phạm vi mà mình được ủy quyền (đối với đại diện theo ủy quyền) hoặc giới hạn bởi quy định của pháp luật (đối với người đại diện theo pháp luật).
Từ những phân tích và nhận định trên, tác giả xin đưa ra quan điểm của cá nhân mình về khái niệm người đại diện hợp pháp quy định trong BLTTHS như sau: “ Người đại diện hợp pháp trong TTHS tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng hình sự với tư cách là người tham gia tố tụng, nhân danh người được đại diện để thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được đại diện. Người đại diện trong pháp luật TTHS được thực hiện dưới hai hình thức: người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền.” 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Vị trí của người đại diện hợp pháp trong Tố tụng Hình sự Với tư cách là người tham gia tố tụng, người đại diện hợp pháp có vị trí hết sức quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện. Trong thực tế cuộc sống, không phải lúc nào người tham gia tố tụng (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự) cũng tự mình tham gia vào các quan hệ tố tụng.
Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể người được đại diện do có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần, vì sức khẻ không đảm bảo, khả năng trình bày, lập luận trước các cơ quan tiến hành tố tụng kém và phần lớn là do thiếu kiến thức pháp luật nên họ không thể tự mình thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng. Vì vậy, họ phải thông qua người đại diện để xác lập và thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình. Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì tùy vào từng trường hợp cụ thể mà người đại diện có thể đại diện cho cá nhân và cũng có thể đại diện cho cơ quan, tổ chức xã hội tham gia vào quan hệ tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho người được đại diện hoặc cho chủ thể khác trong những trường hợp nhất định. Sự tham gia của người đại diện hợp pháp giúp người được đại diện bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích của mình trong quan hệ pháp luật tố tụng hình sự, họ là người góp phần vào việc làm rõ sự thật khách quan của vụ án.
Người đại diện hợp pháp còn có vai trò giúp đỡ người được đại diện về kiến thức pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án, thúc đẩy quá trình giải quyết vụ án hình sự được nhanh chóng, thuận tiện và đúng pháp luật. Việc quy định quyền lựa chọn và thay đổi người bào chữa (điều 57- Bộ luật TTHS năm 2003), quyền và nghĩa vụ của người bào chữa (trong đó có người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo) tại điều 58- Bộ luật TTHS năm 2003 tạo ra cơ sở pháp lý trong việc lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu được Điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bị can và 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người có mặt trong những hoạt động điều tra khác; xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa; người bào chữa còn có quyền đề nghị Cơ quan điều tra (CQĐT) báo trước về thời gian, địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can; có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật TTHS; được thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nà nước, bí mật công tác; được quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; được gặp người bị tạm giữ, gặp bị can, bị cáo khi đang bị tạm giam; đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra theo quy định của pháp luật; được quyền tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa; khiếu nại các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 57 của Bộ luật này. Ngoài việc quy định quyền thì người bào chữa còn có các nghĩa vụ theo quy định tại khoản 3 điều 58 Bộ luật TTHS như: Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.