Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn (chuyên ngành Ngôn ngữ học, mã số 62 22 02 40) với đề tài "Ngôn ngữ hội thoại trong thể loại phỏng vấn (trên tư liệu báo in tiếng Việt hiện nay)" được tác giả Phạm Thị Mai Hương thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của tập thể cán bộ hướng dẫn gồm PGS.TS. Nguyễn Thế Kỷ và PGS.TS. Phạm Văn Tình, bảo vệ năm 2017.
Về tính cấp thiết, tác giả chỉ ra rằng trong tiến trình nghiên cứu ngôn ngữ học, ngôn ngữ hội thoại là mảng đề tài lớn đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Tuy nhiên, các công trình đi sâu vào ngôn ngữ hội thoại trong tiếng Việt, đặc biệt là ở các thể loại báo chí, còn khiêm tốn. Trong bối cảnh truyền thông hiện đại, phỏng vấn là thể loại giữ vị trí quan trọng nhằm khai thác thông tin khách quan và chân thực. Dù xuất hiện với tần suất cao trên báo in, số lượng tác phẩm phỏng vấn hay và sáng tạo chưa nhiều; nhiều người làm báo chưa làm chủ kỹ năng hỏi hoặc rơi vào khuôn mẫu xơ cứng. Về bản chất, phỏng vấn là một dạng giao tiếp đặc thù chịu sự chi phối của các quy tắc hội thoại và chiến lược ngữ dụng. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: từ trước đến nay, ngôn ngữ phỏng vấn chủ yếu được tiếp cận dưới góc độ thể loại báo chí, kỹ năng tác nghiệp hoặc phong cách ngôn ngữ cá nhân của nhà báo, mà chưa được khảo sát có hệ thống với tư cách là một cuộc hội thoại dưới lăng kính của Ngữ dụng học và Lý thuyết hội thoại.
Mục đích nghiên cứu của luận án là vận dụng lý thuyết hội thoại để làm sáng tỏ ngôn ngữ hội thoại trong thể loại phỏng vấn trên báo in từ các bình diện cấu trúc, chức năng của cặp thoại, sự tương tác giữa các thành tố, chiến lược phỏng vấn và các hành vi ngôn ngữ có khả năng vi phạm nguyên tắc lịch sự. Luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:
- Khảo sát, phân tích tư liệu các cuộc phỏng vấn để làm sáng tỏ đặc điểm cấu trúc, chức năng của cuộc thoại phỏng vấn nói chung, đặc biệt là cặp thoại phỏng vấn.
- Chỉ ra sự tương tác giữa tham thoại dẫn nhập và tham thoại hồi đáp trong cuộc thoại phỏng vấn.
- Chỉ ra chức năng của các hành vi ngôn ngữ thường dùng và tính tương tác của chúng trong hội thoại phỏng vấn.
- Tìm hiểu và phân tích các chiến lược sử dụng ngôn ngữ trong phỏng vấn báo in, chỉ ra mức độ đe dọa thể diện của hành vi hỏi đồng thời đề xuất một số biện pháp gia tăng tính lịch sự khi phỏng vấn.
- Nghiên cứu trường hợp và chỉ ra chiến lược sử dụng ngôn ngữ trong các thể loại phỏng vấn chân dung, phỏng vấn thời sự và phỏng vấn điều tra.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là ngôn ngữ hội thoại của các cuộc phỏng vấn với tư cách là một thể loại báo chí. Phạm vi tư liệu khảo sát gồm 500 bài phỏng vấn đăng tải trên các tờ báo in tiếng Việt từ năm 2013 đến thời điểm thực hiện luận án (2017), bao gồm: Tiền phong, An ninh thế giới, Gia đình và Xã hội, Thanh niên, Lao động, Tuổi trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội mới, Nông thôn Ngày nay, Giáo dục và Thời đại,... Về phạm vi nội dung, tác giả chỉ giới hạn khảo sát các cuộc phỏng vấn mang tính chất song thoại (hỏi – đáp giữa một phóng viên và một đối tượng phỏng vấn), không khảo sát các hình thức thảo luận, tọa đàm, mạn đàm hay diễn đàn nhiều người tham gia.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành điểm luận toàn diện các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế trên ba nhóm nội dung chính:
Nhóm nghiên cứu về lý thuyết hội thoại và phân tích hội thoại trên thế giới:
Tác giả truy nguyên nền tảng phân tích hội thoại từ phương pháp luận dân tộc học (Ethnomethodology) của Harold Garfinkel (1967) và quan điểm về trật tự tương tác của Erving Goffman (1959, 1963, 1967, 1981). Đến cuối thập niên 1960 - đầu thập niên 1970, Harvey Sacks cùng Emmanuel A. Schegloff và Gail Jefferson đã đưa phân tích hội thoại thành lĩnh vực độc lập. Tiếp đó, H.P. Grice (1975) với công trình Logic and conversation xác lập nguyên lý cộng tác và các phương châm hội thoại. Các công trình mang tính lý luận đại cương tiếp theo gồm Robin Wooffitt (2005), David Liddicoat (2007); cùng các nghiên cứu ứng dụng cấu trúc tương tác của Elinor Ochs (1996), Margret Selting và Elizabeth Couper-Kuhlen (2001), Cecilia Ford (2002, 2004), Charles Goodwin (2000), Christian Heath và Paul Luff (2000), Paul Drew và John Heritage (1992), J. Maxwell Atkinson và Paul Drew (1979), Marilyn R. Whalen và Don H. Zimmerman (1990), Deirdre Boden (1994), Douglas W. Maynard (2003), Jörg R. Bergmann (1993).
Nhóm nghiên cứu về ngữ dụng học và hội thoại tại Việt Nam:
Đỗ Hữu Châu được ghi nhận qua Đại cương Ngôn ngữ học (1993, 2002) và Cơ sở ngữ dụng học (2003) khi giới thiệu có hệ thống cấu trúc, quy tắc và chức năng các đơn vị hội thoại. Nguyễn Đức Dân (1998) trong Ngữ dụng học phân tích cấu trúc, nguyên lý hội thoại và phép lịch sự. Nguyễn Văn Khang (1999) tiếp cận hội thoại từ góc nhìn ngôn ngữ học xã hội. Nguyễn Thiện Giáp (2000) trong Dụng học Việt ngữ làm rõ cấu trúc hội thoại, lời ướm và nguyên tắc hợp tác. Đỗ Thị Kim Liên (1999, 2005) nghiên cứu tương tác hỏi – đáp và phân tích ngữ dụng trong tác phẩm văn học. Các tác giả nghiên cứu đơn vị cấu trúc hội thoại gồm Nguyễn Thị Đan (1994), Dương Thị Tuyết Hạnh (1999), Phạm Văn Thấu (2000), Mai Xuân Huy. Ở mảng hội thoại ứng dụng thực tế có các nghiên cứu về hội thoại mua bán (Trần Thanh Vân,...) và hội thoại dạy học (Bùi Thị Ngọc Anh 2001, Vũ Thị Thanh Hương 2004, Quách Thị Gấm 2010, Nguyễn Thị Hồng Ngân 2012, Trần Thị Phượng 2015).
Nhóm nghiên cứu ngôn ngữ báo chí và thể loại phỏng vấn:
Nghiên cứu ngôn ngữ báo chí nói chung có Vũ Quang Hào (2001), Hoàng Anh (2003), Nguyễn Tri Niên (2003), Nguyễn Đức Dân (2007), Trần Thu Nga (2007), Nguyễn Thế Kỷ (2005), Nguyễn Thị Thanh Hương (2003), Nguyễn Thị Thu Hường (2013), Huỳnh Thị Chuyên (2014), Nguyễn Hồng Sao (2010). Về kỹ năng và thể loại phỏng vấn có G. Xvích và A. Lurốpxki, Line Ross, X. Muratốp, Michael Schudson, Samy Cohen (2004), Maria Lukina (2005), Trần Bảo Khánh (2003), Lê Hồng Quang (2005), Lê Thị Nhã (2010, 2015). Về đặc trưng ngôn ngữ thể loại phỏng vấn có Hà Nguyên Sơn (2006), Trần Phúc Trung (2011), Phạm Thị Tuyết Minh (2007), Nguyễn Anh Tuấn (2010), Vũ Thị Bảo Thơ (2009), Hoàng Lê Thúy Ngọc (2012).
Vị trí của luận án: Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên ở cấp độ tiến sĩ tại Việt Nam nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện về ngôn ngữ hội thoại trong thể loại phỏng vấn báo in tiếng Việt, kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết phân tích hội thoại, lý thuyết hành vi ngôn ngữ và lý thuyết lịch sự.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên ba trụ cột lý thuyết của ngữ dụng học:
-
Lý thuyết hội thoại (Conversation Theory): Tác giả tiếp thu mô hình cấu trúc tổ chức tôn ti của Trường phái Phân tích hội thoại Thụy Sĩ – Pháp (tiêu biểu là E. Roulet, J. Moeschler, C. Kerbrat-Orecchioni và được Đỗ Hữu Châu giới thiệu ở Việt Nam), phân cấp đơn vị từ lớn đến nhỏ: Cuộc thoại (conversation/interaction) $\rightarrow$ Đoạn thoại (sequence) $\rightarrow$ Cặp trao đáp/Cặp thoại (exchange) $\rightarrow$ Tham thoại (intervention) $\rightarrow$ Hành vi ngôn ngữ/Hành động nói (speech act). Vận động hội thoại được phân tích qua ba quá trình: sự trao lời (allocution), sự trao đáp (exchange) và sự tương tác hội thoại (interaction). Đồng thời, luận án khảo sát việc vận dụng 4 phương châm hội thoại trong Nguyên tắc cộng tác của H.P. Grice: Phương châm về lượng (maxim of quantity), Phương châm về chất (maxim of quality), Phương châm quan hệ (maxim of relation), và Phương châm cách thức (maxim of manner).
-
Lý thuyết hành vi ngôn ngữ (Speech Acts Theory): Kế thừa quan điểm của J.L. Austin và J.R. Searle về ba cấp độ hành vi (tạo lời, ở lời, mượn lời). Luận án tập trung vào hành vi ở lời (illocutionary act) theo 5 phạm trù phân loại của Searle: Tuyên bố (declarative), Tái hiện (representative), Điều khiển (directive), Cam kết (commissive), và Biểu cảm (expressive). Đồng thời, tác giả vận dụng các khái niệm phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời (illocutionary force indicating devices - IFIDs), phân định hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn ngữ gián tiếp.
-
Lý thuyết lịch sự (Politeness Theory): Tiếp thu mô hình lịch sự chiến lược của P. Brown và S.C. Levinson (1987) dựa trên khái niệm thể diện (face), gồm thể diện âm tính (negative face), thể diện dương tính (positive face), hành vi đe dọa thể diện (face threatening acts - FTA) và công thức xác định trọng lượng đe dọa thể diện:
$$W_X = P(H,S) + D(H,S) + R_X$$
(trong đó $P$ là quyền lực tương đối, $D$ là khoảng cách xã hội, $R$ là mức độ áp đặt của hành vi). Luận án kết hợp mô hình trên với lý thuyết lịch sự chuẩn mực phương Đông và quan niệm lịch sự của người Việt theo phân tích của Vũ Thị Thanh Hương.
Luận án phối hợp các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp phân tích hội thoại: Tiếp cận quy nạp từ 500 văn bản phỏng vấn để tái hiện cơ chế sản sinh, miêu tả cấu trúc và chức năng các đơn vị giao tiếp trong mối quan hệ với ngữ cảnh và quan hệ liên nhân.
- Phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên: Thu thập ngẫu nhiên 500 tác phẩm phỏng vấn từ các ấn phẩm báo in giai đoạn 2013–2017 nhằm bảo đảm tính phong phú và tính đại diện của tư liệu.
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case study): Khảo sát chuyên sâu 3 cuộc phỏng vấn điển hình đại diện cho 3 thể loại: phỏng vấn chân dung, phỏng vấn thời sự và phỏng vấn điều tra.
- Phương pháp miêu tả: Nhận diện, phân loại và mô tả đặc điểm của từng kiểu cặp thoại, tham thoại và hành vi ngôn ngữ.
- Thủ pháp thống kê và mô hình hóa: Thống kê tần số xuất hiện của các đơn vị cấu tạo (hành vi chủ hướng, hành vi phụ thuộc, tham thoại dẫn nhập, hành vi hỏi trực tiếp/gián tiếp) và sơ đồ hóa cấu trúc tương tác của các cặp thoại phỏng vấn.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết
Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu về hội thoại, ngữ dụng học báo chí và thể loại phỏng vấn trong nước cũng như quốc tế. Tác giả tiến hành phân biệt tường minh giữa phương pháp phỏng vấn (công cụ thu thập tư liệu tác nghiệp, đối tượng phỏng vấn có thể ẩn danh hoặc xuất hiện gián tiếp) và thể loại phỏng vấn (tác phẩm báo chí hoàn chỉnh xuất bản dưới dạng đối thoại hỏi – đáp, danh tính đối tượng được công khai minh bạch). Luận án xác định 3 tiểu loại phỏng vấn trọng tâm: phỏng vấn chân dung (nhân vật tự bộc lộ cá tính, quan điểm), phỏng vấn điều tra (sử dụng câu hỏi kiểm tra, phản biện nhằm làm sáng tỏ các vấn đề phức tạp) và phỏng vấn thời sự (khai thác thông tin sự kiện mang tính thời sự).
Về bản chất giao tiếp, phỏng vấn báo in là hình thức "văn bản hóa lời nói", mang tính chất song thoại phục vụ cho "người thứ ba" (đông đảo công chúng độc giả). Nhà báo giữ quyền chủ động trao lời thông qua câu hỏi và định hướng cuộc thoại, trong khi người được phỏng vấn thực hiện trao đáp. Tác giả cũng phân tích sự chi phối của 4 phương châm hội thoại Grice và các khái niệm hành vi ngôn ngữ, thể diện đối với thể loại phỏng vấn.
Chương 2. Đặc điểm cấu trúc của cặp thoại trong hội thoại phỏng vấn
Chương 2 tập trung giải phẫu cấu trúc nội tại của tham thoại và cặp thoại trong ngữ liệu khảo sát. Tham thoại trong phỏng vấn được cấu tạo bởi hai thành tố: Hành vi chủ hướng (HVCH - mang đích giao tiếp chính) và Hành vi phụ thuộc (HVPT - bổ trợ, giải thích, định hướng cho HVCH). Tham thoại dẫn nhập (TTDN) do nhà báo thực hiện thường lấy hành vi hỏi làm chủ hướng, kết hợp với các hành vi phụ thuộc như trần thuật, dẫn dắt, biểu cảm. Tham thoại hồi đáp (TTHĐ) do người trả lời thực hiện nhằm phản hồi trực tiếp hoặc gián tiếp đối với TTDN.
Luận án phân loại cấu trúc cặp thoại phỏng vấn thành: cặp thoại một tham thoại (trường hợp tỉnh lược hoặc độc thoại đặc thù) và cặp thoại hai tham thoại (mô hình hỏi – đáp phổ biến). Về phương diện tương tác, tác giả phân định quan hệ trao đáp tích cực (người được phỏng vấn hợp tác, cung cấp thông tin đúng trọng tâm yêu cầu) và quan hệ trao đáp tiêu cực (người được phỏng vấn từ chối trả lời, né tránh, hoài nghi hoặc phản bác câu hỏi).
Chương 3. Đặc điểm chức năng của cặp thoại trong hội thoại phỏng vấn
Chương 3 khảo sát chức năng của các cặp thoại theo tiến trình vận động của cuộc phỏng vấn:
- Cặp thoại mở đầu cuộc thoại phỏng vấn: Thực hiện chức năng thiết lập tiếp xúc, tạo không khí giao tiếp và định hướng chủ đề; biểu hiện qua hành vi trần thuật – thông báo (cung cấp bối cảnh sự việc) hoặc hành vi chào hỏi mang tính nghi thức.
- Cặp thoại kết thúc cuộc thoại phỏng vấn: Đảm nhiệm chức năng khép lại cuộc giao tiếp; vận dụng các từ ngữ và hành vi ngôn ngữ báo hiệu kết thúc như cảm ơn, chúc mừng, cam kết, khẳng định lại thông điệp cốt lõi.
- Cặp thoại triển khai cuộc thoại phỏng vấn: Là bộ phận thân thoại thực hiện chức năng khai thác thông tin chuyên sâu. Luận án phân tích chi tiết chức năng của hành vi hỏi trực tiếp (dùng câu hỏi chuyên dụng để lấy thông tin chân xác, xác nhận dữ liệu) và hành vi hỏi gián tiếp (sử dụng câu trần thuật, cảm thán hoặc biểu cảm để kích thích đối tượng bộc lộ quan điểm mà không gây áp lực trực diện).
Chương 4. Chiến lược phỏng vấn và sự vi phạm nguyên tắc lịch sự trong hội thoại phỏng vấn
Chương 4 nghiên cứu các chiến thuật ngữ dụng mà nhà báo sử dụng để điều hành vận động trao đáp. Nhà báo sử dụng các hành vi ngôn ngữ tiền dẫn nhập (nhắc lại sự kiện, trích dẫn phát ngôn, đưa ra bằng chứng) để tạo tiền đề cho hành vi hỏi chính thức. Phân tích yếu tố lịch sự, tác giả chỉ ra rằng bản chất của hành vi hỏi và các đề tài phỏng vấn nhạy cảm (đời tư, sai phạm, trách nhiệm quản lý) luôn tiềm ẩn nguy cơ đe dọa thể diện (FTA) của người trả lời. Để cân bằng giữa mục tiêu khai thác thông tin và duy trì quan hệ giao tiếp, nhà báo sử dụng các biện pháp giảm thiểu đe dọa thể diện như: sử dụng lời mào đầu rào đón, dùng từ xưng hô tôn kính, chuyển đổi câu hỏi sang dạng gián tiếp, hoặc chia sẻ góc nhìn đồng cảm. Cuối chương, luận án thực hiện nghiên cứu điển hình (case study) về chiến lược sử dụng ngôn ngữ trong 3 văn bản phỏng vấn tiêu biểu tương ứng với 3 thể loại: chân dung, thời sự và điều tra.
Bảng tổng hợp hệ thống bảng số liệu được tác giả xây dựng trong luận án:
| Ký hiệu bảng |
Tên bảng trong văn bản luận án |
Vị trí chương |
| Bảng 2.1 |
Các hành vi chủ hướng trong tham thoại dẫn nhập phỏng vấn |
Chương 2 |
| Bảng 2.2 |
Các hành vi phụ thuộc trong tham thoại dẫn nhập phỏng vấn |
Chương 2 |
| Bảng 2.3 |
Mức độ sử dụng các kiểu mô hình hình thức của TTDN trong cặp thoại phỏng vấn |
Chương 2 |
| Bảng 2.4 |
Các kiểu mô hình hình thức của cặp thoại phỏng vấn |
Chương 2 |
| Bảng 3.1 |
Các chức năng của hành vi hỏi trong phỏng vấn |
Chương 3 |
| Bảng 4.1 |
Mức độ sử dụng các biện pháp nhằm giảm thiểu mức độ đe dọa thể diện người được hỏi |
Chương 4 |
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp khoa học trên hai phương diện lý luận và thực tiễn:
Về mặt lý luận:
- Đóng góp vào việc mở rộng và bổ sung tính xác thực của lý thuyết hội thoại khi ứng dụng trên tư liệu báo in tiếng Việt – một dạng thức diễn ngôn "văn bản hóa lời nói" mang tính tương tác hướng tới công chúng độc giả.
- Làm rõ cấu trúc phân tầng của cuộc thoại phỏng vấn báo chí, xác lập mô hình tổ chức tham thoại (với hạt nhân là hành vi chủ hướng kết hợp hành vi phụ thuộc) và các kiểu quan hệ trao đáp trong cặp thoại.
- Bổ sung tư liệu thực tế cho lý thuyết hành vi ngôn ngữ và lý thuyết lịch sự trong môi trường giao tiếp báo chí tiếng Việt.
Về mặt thực tiễn:
- Hệ thống hóa các thành tố cấu trúc và chức năng của các kiểu cặp thoại, góp phần xây dựng các mô hình giao tiếp phỏng vấn chuẩn mực về mặt văn hóa và nghi thức xã hội.
- Tổng kết và hệ thống hóa các chiến lược giao tiếp nghiệp vụ mà các nhà báo kinh nghiệm sử dụng để điều hành cuộc đối thoại, thiết kế câu hỏi tiền dẫn nhập, kiểm soát vận động trao đáp nhằm khai thác thông tin hiệu quả.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp ngôn ngữ giúp người làm báo giảm thiểu mức độ đe dọa thể diện đối với người được phỏng vấn, hạn chế tình trạng xung đột hoặc rơi vào thế bế tắc trong giao tiếp báo chí.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, căn cứ vào giới hạn phạm vi nghiên cứu do tác giả xác định trong văn bản:
- Luận án chỉ tập trung khảo sát các cuộc phỏng vấn dạng song thoại (giao tiếp tay đôi giữa một phóng viên và một người trả lời), chưa bao quát các cuộc giao tiếp đa thoại như tọa đàm bàn tròn, phỏng vấn nhiều người hoặc diễn đàn báo chí.
- Khung ngữ liệu chỉ giới hạn trong phạm vi 500 bài phỏng vấn trên các ấn phẩm báo in tiếng Việt từ năm 2013 đến 2017, chưa mở rộng đối sánh với phỏng vấn trên báo phát thanh, báo truyền hình hay báo mạng điện tử.
Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở từ luận án là mở rộng việc ứng dụng lý thuyết hội thoại để nghiên cứu ngôn ngữ phỏng vấn trên các phương tiện truyền thông đa phương tiện, khảo sát sự biến đổi của cấu trúc tương tác hỏi – đáp trong môi trường báo chí số và các cuộc đối thoại truyền thông phức hợp.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên ngành Ngôn ngữ học / Việt ngữ học: Cung cấp khung phương pháp luận hoàn chỉnh về phân tích hội thoại ứng dụng, cấu trúc tham thoại, cặp thoại và phân tích hành vi ngôn ngữ trên diễn ngôn truyền thông. Phần cơ sở lý thuyết (Chương 1) và phân tích cấu trúc cặp thoại (Chương 2, Chương 3) là tài liệu tham khảo giá trị cho các nghiên cứu ngữ dụng học chuyên sâu.
- Giảng viên, sinh viên ngành Báo chí – Truyền thông và người làm báo thực tế: Cung cấp cơ sở khoa học về nghệ thuật đặt câu hỏi, cách thức vận dụng các hành vi tiền dẫn nhập, phương thức điều hành vận động trao đáp và các kỹ thuật giảm thiểu đe dọa thể diện (Chương 4). Đây là tài liệu hữu ích cho việc giảng dạy và thực hành các môn Kỹ năng phỏng vấn báo chí, Ngôn ngữ báo chí.
- Người làm công tác truyền thông, phát ngôn và quan hệ công chúng: Tham khảo cơ chế vận hành của các loại câu hỏi phỏng vấn, nhận diện các bẫy ngữ dụng và nâng cao kỹ năng hồi đáp trong các tình huống tiếp xúc với báo chí.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân biệt "phương pháp phỏng vấn" và "thể loại phỏng vấn" dựa trên những tiêu chí nào?
Theo tác giả, phương pháp phỏng vấn là phương thức tác nghiệp nhằm thu thập thông tin, tư liệu phục vụ sáng tạo các thể loại báo chí khác nhau (tin, phóng sự, ký); người trả lời có thể xuất hiện trực tiếp hoặc gián tiếp. Ngược lại, thể loại phỏng vấn là một tác phẩm báo chí độc lập được đăng tải dưới hình thức đối thoại hỏi – đáp nối tiếp; người trả lời bắt buộc phải xuất hiện trực tiếp với danh tính, chức danh cụ thể và chịu trách nhiệm pháp lý trước công chúng về thông tin cung cấp.
2. Khung cấu trúc hội thoại mà luận án áp dụng gồm những cấp bậc đơn vị nào?
Luận án kế thừa mô hình tôn ti của Trường phái Phân tích hội thoại Thụy Sĩ – Pháp, gồm 5 đơn vị cấu trúc từ lớn đến bé:
- Cuộc thoại (conversation/interaction)
- Đoạn thoại (sequence)
- Cặp trao đáp / Cặp thoại (exchange)
- Tham thoại (intervention)
- Hành vi ngôn ngữ (speech act)
Trong đó, ba đơn vị đầu có tính chất lưỡng thoại, hai đơn vị sau có tính chất đơn thoại.
3. Công thức tính trọng lượng đe dọa thể diện được luận án tiếp thu từ Brown & Levinson có ý nghĩa gì?
Công thức $W_X = P(H,S) + D(H,S) + R_X$ xác định mức độ đe dọa thể diện của một phát ngôn dựa trên ba tham số: quyền lực tương đối giữa người nói và người nghe ($P$), khoảng cách xã hội giữa hai bên ($D$), và mức độ áp đặt của hành vi ngôn ngữ trong nền văn hóa ($R$). Tham số $W_X$ càng cao thì phát ngôn càng đòi hỏi người nói phải sử dụng các chiến lược lịch sự tương ứng để duy trì hòa khí giao tiếp.
4. Phương châm về chất của Grice được nhà báo vận dụng linh hoạt như thế nào trong phỏng vấn điều tra?
Theo luận án, về nguyên tắc logic, người nói không được nói điều mình thiếu bằng chứng xác thực. Tuy nhiên, trong phỏng vấn điều tra, việc người làm báo chủ động đưa ra các phát ngôn giả định hoặc câu hỏi khi chưa có bằng chứng xác thực tuyệt đối đôi khi lại trở thành chiến thuật ngữ dụng hữu hiệu nhằm thăm dò phản ứng, buộc đối tượng phải lên tiếng xác nhận hoặc bác bỏ, từ đó khai thác được thông tin chân thực.
5. Ba thể loại phỏng vấn nào được luận án lựa chọn để nghiên cứu điển hình về chiến lược ngôn ngữ?
Luận án lựa chọn 3 thể loại phỏng vấn tiêu biểu trên báo in để phân tích trường hợp chuyên sâu trong Chương 4 gồm: Phỏng vấn chân dung (nhân vật tự bộc lộ), Phỏng vấn thời sự (thông tin sự kiện nóng), và Phỏng vấn điều tra (kiểm tra, phản biện sự việc phức tạp).
Kết luận
Luận án của tác giả Phạm Thị Mai Hương là công trình chuyên khảo nghiên cứu toàn diện về ngôn ngữ hội thoại trong thể loại phỏng vấn báo in tiếng Việt dưới giác độ Ngữ dụng học và Phân tích hội thoại. Bằng việc phân tích ngữ liệu 500 bài báo giai đoạn 2013–2017, luận án đã làm sáng tỏ cấu trúc phân tầng, chức năng ngữ dụng của các cặp thoại và hệ thống hóa các chiến lược điều hành giao tiếp, giảm thiểu đe dọa thể diện trong phỏng vấn. Kết quả nghiên cứu đóng góp thiết thực cho cả lý luận phân tích diễn ngôn tiếng Việt lẫn thực tiễn đào tạo và tác nghiệp báo chí hiện đại.