Mở đầu Nêu lý do chọn đề tài đồng thời đề ra mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, đối tượng khảo sát và cấu trúc của đề tài. Tổng quan Tông quan các nghiên cứu có liên quan đên đê tài trong và ngoài nước và tông quan vệ dia bản nghiên cứu, đôi tượng nghiên cứu. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 3 Trinh bày các cơ sở lý luận phục vụ cho việc nghiên cứu dé tai bao gôm các khái niệm, lý thuyết nền. Nêu các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tải, cụ thể: Phương pháp thu thập số liệu (cơ sở chọn mẫu, phương thức điều tra số liệu).
Phương pháp xử lý số liệu. Kết quả và thảo luận Trình bày các kết quả có được từ nghiên cứu gồm: So sánh thành quả hoạt động của các công ty theo nhóm giới tính của lãnh đạo công ty. Phân tích sự đa dạng giới tính trong hoạt động quả trị ảnh hưởng đến thành quả hoạt động của các công ty. Đề xuất một số hàm ý, giải pháp, chính sách nhằm nâng cao vai trò của đa dạng gidi.
Kết luận và kiến nghị Tổng hợp đánh giá lại nội dung nghiên cứu, nêu ra nhận xét từ kết quả nghiên cứu, những hạn chế còn gặp phải trong quá trình thực hiện nghiên cứu. Từ đó đưa ra những kết luận, kiến nghị đối với các cơ quan có thâm quyên, các công ty kiểm toán, và các công ty đại chúng niêm yết trên Sản Giao dịch Chứng khoán Việt Nam. CHƯƠNG 2 TONG QUAN 2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới đã có rất nhiều tác giả thực hiện nhiều đề tài nguyên cứu về các yếu tô quản trị như Perihan Iren (2016) đã sử dụng số liệu hơn 60 công ty niên yết tại sở giao dịch chứng khoán Abu Dhabi và Dubai về tác động của đa dang giới lên giá tri kế toán của công ty. Kết quả cho thay tác động không đáng ké của nữ giới trong HĐQT.
Mặc khác theo nghiên cứu của david A. Carter va Betty Jo Simkins va W. Gary Simpson (2003) sự đa dang trong hội đồng quản trị có liên quan đến giá trị tài chính này càng được cải thiện, mối quan hệ tích cực giữa nữ giới trong hội đồng quản tri. Ngược lại với nguyên cứu trên thì Renee Adam lại cho rằng sự đa dạng giới ảnh hưởng tiêu cực tới giá trị của công ty nên cân nô lực nhiêu hơn đề giám sát.
Ngoài ra có các yếu tố khác như theo Irwin friend va Larry H P Lang (1998) thì tỷ lệ nợ liên quan tiêu cực đến việc nam giữ cô phần của ban quản lý sự tồn tại của cô đông lớn không thuộc quyên sở hữu có thé gây hại cho tài chính. Ngược lại theo John D. Knopf và stefan Peterson, nghiên cứu cho thấy rằng mối quan hệ tích cực nhất quán giữa phan chủ sở hữu do cô đông lớn và mức nợ công ty. Nghiên cứu của Jenny Li Zhang (2011) về ảnh hưởng của CFO cá nhân đối với hoạt động kế toán.
Sau khi điều tra hơn 359 giám đốc ở các công ty khác nhau, kết quả cho thấy rằng ảnh hưởng của CFO đối với công ty là rất lớn. Ngoài ra nguyên cứu còn cho kết quả tuổi tác và trình độ học van của CFO ảnh hưởng hạn chế đến các quyết định của CFO.Mặc khác Naqiong Tong và longfei Tang lại có kết quả khác, tác gia cho rằng CFO có ảnh hưởng rat lớn đén sự thành công hay thất bạn của công ty, nắm một vai trò rất quan trọng. Nischal Risal (2020) có nguyên cứu khác về mối quan hệ giữa hoạt động tài chính với quy mô công ty , tính thanh khoản đòn bẩy, rủi ro có thé xảy ra, mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả. Nguyên cứu cho thấy rằng quy mô cả công ty có tác động tích cực, còn sự biến động thanh khoản không ảnh hưởng đến hoạt động của công ty, nhưng đòn bay lại tác động mạnh đến hoạt động tài chính của công ty.
Quy mô công ty và hoạt động tài chính cũng là đề tài mà tác giả Dereje Gebeyehu, Azmeraw Misganaw Getahun và Dagne Desta Ayele nguyên cứu, theo ông tăng trưởng doanh nghiệp, quy mô công ty, đòn bay và phân phối chi nhánh được coi là những tác nhân quan trọng trong việc xác định lợi nhuận của công ty.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước Trong nước cũng có nhiều tác giả nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tổ quảng trị đến ngành công nghiệp trên thị trường chứng khoán như, Lai cao mai phương (2020). Nghiên cứu khái quát thị trường chứng khoán (TTCK) ASEAN. Nghiên cứu sử dụng biến phụ thuộc là tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội, biến độc lập đại diện cho quy mô phát triển của TTCK. Kết quả cho thấy cả ba biến đều có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế tại ASEANð6.
Kết quả nghiên cứu có giá trị đối với các nhà quan lý trong việc cung cấp một số gợi ý nhằm phát triển TTCK bền vững, góp phần thúc day tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia này. Phạm Mạnh Tiến(2016) nguyên cứu về Tác động của quản trị doanh nghiệp đến hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết trên HOSE. Nghiên cứu này sử dụng số liệu của 223 công ty đang niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh (HOSE), các biến số được đưa vào nghiên cứu liên quan đến chủ thê quản trị, để xem xét sự tác động của chúng đến các chỉ số hiệu quả tài chính của công ty. Kết quả nghiên cứu cho thấy ROE và EPS không chịu ảnh hưởng bởi các chủ thể quản trị công ty, trong khi biến số Cô đông lớn, Lãnh đạo sở hữu số lượng cổ phần chi phối và Trình độ của chủ tịch hội đồng quản trị có tác động đến ROA.
Hoàng Thị Phương Oanh và Nguyễn Ngọc Hồng Trang (2019). Nghiên cứu xem xét tác động của sự đa dạng giới tính trong Hội đồng quản trị (HĐQT) đến thành quả hoạt động của 170 doanh nghiệp phi tài chính được niêm yết trên Thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2010-2015. Kết quả nghiên cứu cho thấy rang sự đa dạng giới tính được đo lường thông qua tỉ lệ thành viên nữ và số lượng nữ giới trong Hội đồng quản trị có ảnh hưởng tích cực đến thành quả hoạt động của doanh nghiệp. Ngoài ra, kết quả phân tích thực nghiệm còn cho thấy rằng Hội đồng quản trị có từ ba thành viên nữ trở lên sẽ mang lại ảnh hưởng tích cực hơn đối với thành quả hoạt động của doanh nghiệp so với khi Hội đồng quản trị chỉ có từ hai thành viên trở xuống.
Nguyễn Thị Hương Mai (2017). Kết quả chỉ ra rằng có 3 yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động công ty là tỷ suất nợ, quy mô công ty và thời gian hoạt động Nguyễn Thu Thủy và Nguyễn Văn Thuận (2021) Nghiên cứu này kiêm chứng tác động của quản trị công ty đến hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam giai đoạn 2008 — 2018. Tac giả sử dụng phương pháp GMM với bộ đữ liệu gồm 479 công ty gồm 5. Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối tương quan thuận chiều giữa quyền kiêm nhiệm (CEOKN), quy mô ban kiểm soát (QMBKS) với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp và mỗi tương quan ngược chiều giữa thành viên hội đồng quản trị độc lập (TVHDQTDL) với hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
Đặng Ngọc Hưng (2016) đã có kết quả khác. Nghiên cứu tìm hiểu thực trạng chênh lệch lợi nhuận sau thuế khi kiểm toán và các nhân tố ảnh hưởng đến chênh lệch lợi nhuận sau thuế trước và sau kiểm toán của các công ty đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ báo cáo tai chính (BCTC) va báo cáo tài chính hợp nhất (BCTCHN) của 260 công ty. Kết quả nghiên cứu cho thay có 76,9% các công ty có chênh lệch lợi nhuận sau thuế trước và sau kiểm toán, trong đó chênh lệch trọng yếu là 28,8%.
Nghiên cứu của Nguyễn Minh Tân và cộng sự (2015) kết quả cho thấy rằng loại hình kinh đoanh, thâm niên, qui mô và giới tính chủ doanh nghiệp đều có tác động đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ. Kết luận và khoảng trống nghiên cứu Kết luận: Từ những tài liệu nghiên cứu trong nước và nước ngoài cho thấy việc nghiên cứu các yếu tô quản trị ảnh hưởng đến thành quả kinh doanh của công ty là một chủ đề đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu tại Việt Nam và trên thế giới. Với những nghiên cứu trước đó, có thể thấy thành quả của công ty được đo lường chủ yếu bằng các chỉ tiêu như ROA, ROE, ROS, ROCE, Tobin’Q. Các chỉ tiêu tài chính như tỷ lệ nợ, đòn bay tài chính hệ số tài sản cố định.
Yếu tố đa dạng giới được đánh giá bằng các chỉ tiêu: ty lệ phần trăm nữ giới trong HĐQT, tỷ lệ phan trăm nữ giới trong BGD, giới tính KTT, còn có các yếu tố như quy mô công ty, quy mô HĐQT, thâm niên công ty, quyền kiêm nhiệm, cũng được đưa vào các mô hình dé đánh giá tác động của các yếu tố này đến thành quả kinh doanh của công ty. Các tác giả cũng đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như phân tích thống kê mô tả, kiểm định T-test, kiểm định anova, hồi quy tuyến tính theo FEM và REM.và vận dụng nhiều mô hình đo lường khác nhau trong đó đa dạng nhất là mô hình Thẻ điểm cân bằng (BSC), mô hình Lăng kính hiệu suất (PP) và mô hình Kim tự tháp hiệu suất, mô hình Malcolm Baldrige, mô hình ưu việt EFQM. Khoảng trống trong nguyên cứu: Đã có nhiều nguyên cứu trước đây về các yếu tố quản trị ảnh hưởng đến thành quả kinh doanh của công ty, nhưng đa số là sử dụng một năm dir liệu với nhiều công ty chưa thấy được sự thay đổi của các công ty theo thời gian. Vì vậy cần thực hiện nguyên cứu các yếu tô quản trị ảnh hưởng đến thành quả kinh doanh.
Một minh chứng từ các công ty ngành công nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam đề khắc phục được nhược điểm nêu ở trên, tác giả đã sử dụng dữ liệu của 13 năm liên tục ( 2009 — 2021) dé thực hiện dé tài nguyên cứu. Tong quan sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam 2. Lịch sử hình thành và phát triển Ủy ban chứng khoán Việt Nam được thành lập ngày 28/11/1996 theo Nghị đỉnh số 75/CP của Chính phủ.