ĐẶT VẤN ĐỀ Giao tiếp bằng lời là hoạt động thƣờng xuyên và quan trọng trong đời sống của con ngƣời. Trong giao tiếp bằng lời, nghe - hiểu tiếng nói là khâu quan trọng. Sự tiếp nhận âm thanh ngôn ngữ đƣợc thực hiện không chỉ nhờ bộ máy thính giác, mà còn bằng hoạt động phân tích tổng hợp của vỏ não. Để đánh giá suy giảm sức nghe, từ lâu con ngƣời đã biết dùng đồng hồ và các dụng cụ phát ra âm thanh để ƣớc lƣợng sức nghe.
Cuối thế kỷ XIX, F. Bézold lần đầu tiên đã sử dụng âm thoa sau đó dùng tiếng nói thầm để đánh giá sức nghe. Hạn chế của phƣơng pháp trên là chỉ đƣa ra sự đánh giá sơ bộ về sức nghe. Đầu thế kỷ XX, máy đo thính lực điện tử ra đời, cho phép đánh giá sức nghe về thể loại và mức độ.
Tuy vậy, phƣơng pháp này vẫn bị hạn chế, vì kích thích dùng để đo là các đơn âm, trong khi tiếng nói trong thực tế giao tiếp hàng ngày là phức âm. Đo sức nghe bằng đơn âm có giá trị phân tích đối với sức nghe và chỉ khảo sát đánh giá đƣợc một số bộ phận của cơ quan thính giác (tai giữa, tai trong…), không cho phép đánh giá đầy đủ, hoàn chỉnh của quá trình nghe-hiểu, đặc biệt các cơ quan trung ƣơng thần kinh. Thính lực lời (TLL) là dùng lời nói, ngôn ngữ tự nhiên đã đƣợc qui chuẩn qua máy đo thính lực làm nguồn kích thích để đo sức nghe. TLL nghiên cứu tổng hợp về thính giác giúp chúng ta xem xét cả phần ngoại biên (tai), phần trung ƣơng (thần kinh) của bộ máy thính giác và đánh giá hiệu suất của bộ máy đó về mặt xã hội.
Vì vậy, TLL cần thiết và hữu dụng trong thực tế giám định sức nghe, đánh giá hiệu quả phẫu thuật phục hồi chức năng nghe nhƣ cấy điện cực ốc tai và hiệu quả của máy trợ thính cũng nhƣ việc lựa chọn máy trợ thính thích hợp. Ngày nay TLL đã đƣợc sử dụng rộng rãi và thƣờng xuyên trong thực hành chuyên khoa TMH ở các nƣớc trên thế giới. 2 Tùy thuộc vào đặc điểm ngôn ngữ của từng nƣớc, ngƣời ta xây dựng các bảng từ thử và bảng câu thử TLL khác nhau. Ở Việt nam, đã có ba bảng từ thử TLL đƣợc xây dựng.
Đó là bảng từ thử hỗn hợp âm tiết do Phạm Kim và cộng sự [1]; bảng từ thử một và hai âm tiết của Nguyễn Hữu Khôi [2]; bảng từ thử thể loại Freiburger do Ngô Ngọc Liễn xây dựng và đã đƣợc ứng dụng trong giám định điếc nghề nghiệp [3]. Trong TLL, bảng câu thử thính lực lời (BCTTLL) có vị trí quan trọng. Bởi vì, trong giao tiếp hàng ngày, chúng ta tiếp nhận thông tin không phải qua các từ tách biệt, mà qua các câu hoàn chỉnh. Vì vậy BCTTLL cho phép đánh giá một cách tổng hợp, đầy đủ hoàn thiện quá trình nghe hiểu trong giao tiếp bằng lời.Việc xây dựng BCTTLL rất cần thiết trong việc đo tính sức nghe đối với ngƣời lớn, xác định ngƣỡng nghe nhận lời nói, đặc biệt là đối với ngƣời nghe kém do tuổi già trong việc đánh giá hiệu suất của máy trợ thính và lựa chọn máy trợ thính thích hợp… Gần đây BCTTLL đƣợc phát triển nhiều ở các nƣớc trên thế giới.
Còn nƣớc ta, cho đến nay chƣa có công trình nào nghiên cứu xây dựng BCTTLL tiếng Việt. Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi đã lựa chọn và thực hiện luận án với tên gọi “Nghiên cứu xây dựng bảng câu thử thính lực lời Tiếng Việt, ứng dụng trong nghe kém tuổi già”. MỤC TIÊU Luận án hƣớng đến các mục tiêu sau: 1. Xây dựng bảng câu thử thính lực lời tiếng Việt.
Ứng dụng bảng câu thử thính lực lời tiếng Việt trong nghe kém tuổi già. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Lịch sử nghiên cứu bảng câu thử thính lực lời 1. Tình hình trên thế giới Từ cuối thế kỷ XIX, Bézold đã nêu tầm quan trọng của TLL và đã đề xuất đo thính lực bằng tiếng nói thầm với các số và các từ bằng tiếng Đức [3].
Sang đầu thế kỷ XX, sự phát triển mới của các ngành vật lý và kỹ thuật điện tử giúp cho ngành ngữ âm học thực nghiệm tiến bộ rất nhanh. Trƣớc đây có các thiết bị nghiên cứu ngữ âm học bằng khí cụ, hiện nay có các chƣơng trình, phần mềm số hóa phân tích tiếng nói cho phép phân tích miêu tả một cách nhanh chóng và chính xác các thông số âm học. Những tiến bộ trong nghiên cứu ngữ âm học trong ngôn ngữ học tác động tích cực đến các lĩnh vực liên quan trong Y học nói chung và sự phát triển thính học, trong đó có nghiên cứu TLL, nói riêng. Trên thế giới ngƣời ta đã xây dựng các bảng từ thử và bảng câu thử thính lực lời khác nhau.
Trong luận án này chúng tôi tập trung trình bày những vấn đề liên quan đến BCTTLL của các nƣớc trên thế giới. Bảng câu thử thính lực lời (BCTTLL) tiếng Anh Năm 1955 Silverman and Hirsh đã xây dựng BCTTLL: “The CID everyday sentences” gồm 10 danh sách, mỗi danh sách 10 câu, 5từ khóa mỗi câu đƣợc đo trong môi trƣờng im lặng [4]. Năm 1977 Kalikow, Stevens, and Elliott xây dựng BCTTLL trong môi trƣờng có tiếng ồn: “The Speech Perception in Noise (SPIN)” trong đó ½ số câu là những câu có khả năng dự đoán cao cao và ½ là các câu có khả năng dự đoán thấp. Bảng câu gồm 8 nhóm, mỗi nhóm 50 câu, cân bằng về nghe hiểu và ngữ âm [4],[5].
Năm 1984 Bilger, Nuetzel, Rabinowitz and Rzeczkowski đã sữa lại thành test (R-SPIN) đo trong môi trƣờng ồn đƣợc tiêu chuẩn hóa âm nền [4]. 4 Năm 1993 viện nghiên cứu Etymotic xây dựng BCTTLL “The speech in noise” (SIN), gồm 72 danh sách, mỗi danh sách 10 câu, mỗi câu gồm 5 từ khóa, đo trong môi trƣờng ồn). Các danh sách không tƣơng. Sau đó Cox, Gray, and Alexander cải tiến thành “R-SIN” có sự cân bằng giữa các danh sách, nhƣng lại phải đo trong thời gian dài, gần đây Etymotic đã phát triển “QUICKSIN” đo trong thời gian ngắn.
Bảng câu QuickSIN có 12 danh sách tƣơng đƣơng, mỗi danh sách gồm 6 câu, mỗi câu 5 từ khóa, đo trong môi trƣờng ồn [4],[6]. Năm 1994 Nilsson, Soli, and Sullivan xây dựng BCTTLL “The Hearing in noise tets” (HINT), gồm 25 nhóm câu, mỗi nhóm 10 câu; các nhóm câu có sự cân bằng về tần số xuất hiện các âm vị và độ dễ/khó nghe (hiểu) ở ngƣời bình thƣờng. Bảng câu đƣợc áp dụng đo sức nghe trong môi trƣờng im lặng và trong môi trƣờng có tiếng ồn [4],[7]. BCTTLL tiếng Pháp: Năm 1978 Fournier JE xây dựng 10 nhóm câu, mỗi nhóm 10 câu, mỗi câu gồm 2 từ khóa kết hợp với động từ [8].
Năm 2008 Heleen Luts và cộng sự đã xây dựng 16 nhóm câu, mỗi nhóm 10 câu, mỗi câu gồm từ 6 đến 15 từ [9]. Năm 2008 Vaillancourt V và cộng sự đã xây dựng 520 câu tiếng Pháp, mỗi câu 5-7 âm tiết [10]. Năm 2011 Wable xây dựng 17 nhóm câu, mỗi nhóm 8 câu, mỗi câu 5 đến 8 từ [11]. BCTTLL tiếng Đức: Năm 2002 Brand xây dựng 20 nhóm câu, mỗi nhóm gồm 10 câu, 5 - 8 từ mỗi câu [11].
BCTTLL tiếng Đan Mạch: Năm 2003 Wagener xây dựng BCTTLL gồm 16 nhóm câu, mỗi nhóm 10 câu, mỗi câu 5 từ [12]. 5 Năm 2009 Jens Bo Nielsen và Torsten Dau xây dựng BCTTLL gồm 18 nhóm câu, mỗi nhóm 10 câu, mỗi câu 5 từ [13]. BCTTLL tiếng Hà Lan: Năm 1979 Plomp, R và cộng sự xây dựng BCTTLL gồm 10 nhóm câu, mỗi nhóm 13 câu, mỗi câu 8-9 âm tiết [14],[15]. BCTTLL tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: Năm 2008 Sule Cekic, Gonca Sennaroglu xây dựng 240 câu, 24 nhóm [16].
BCTTLL tiếng Bun-ga-ri: Năm 2008 Stephan R Lolov và cộng sự xây dựng BCTTLL gồm 12 nhóm câu, mỗi nhóm 20 câu, mỗi câu 4-6 từ [17]. BCTTLL tiếng Thụy Điển: Năm 1982 Hagerman and Kinne For xây dựng BCTTLL, mỗi nhóm 10 câu, mỗi câu 5 từ [18]. Năm 2005 Hallgren và CS xây dựng BCTTLL gồm 25 nhóm câu, mỗi nhóm 10 câu, mỗi câu 5-9 từ [11]. BCTTLL tiếng Nhật: Năm 2008 Masae Shiroma, Takako Iwaki, Takeshi Kubo đã xây dựng 12 nhóm câu, mỗi nhóm 20 câu, mỗi câu trung bình 22,7 âm vị [19].
BCTTLL tiếng Hàn Quốc: Năm 2008 Sung K. Moon và cộng sự xây dựng 24 nhóm câu, mỗi nhóm 10 câu, mỗi câu có 9 đến 10 từ [20]. BCTTLL tiếng Tây Ban Nha: Năm 2008 Alicia Huarte xây dựng 15 nhóm câu, mỗi nhóm 10 câu, mỗi câu gồm 4 đến 7 từ [21]. BCTTLL tiếng Trung Quốc: Năm 2005 Wong và Soli xây dựng 24 nhóm câu, mỗi nhóm 10 câu, mỗi câu10 âm vị [22].
Trong các công trình nghiên cứu về BCTTLL trên thế giới, các tác giả đã xây dựng câu phù hợp với đặc điểm ngôn ngữ của nƣớc đó. BCTTLL đƣợc xây dựng lấy từ các câu phổ biến, thông dụng trong sách giáo khoa, báo, tạp chí; hoặc các từ thông dụng xây dựng câu theo cấu trúc cố định về từ loại (tên, động từ, số, tính từ, tân ngữ) hoặc thay đổi theo ngữ nghĩa và ngữ pháp. Bảng câu thử thính lực lời phân thành nhiều nhóm, cân bằng về số câu mỗi nhóm và đặc biệt là đảm bảo sự cân bằng giữa các nhóm về khả năng nghe 6 hiểu trên ngƣời bình thƣờng và có một số bảng thì đựơc cân bằng cả về ngữ âm thông qua sự cân bằng về âm vị (BCTTLL của Wong và Soli; BCTTLL của Jens Bo Nielsen và Torsten Dau…). BCTTLL gồm các câu đơn, dễ hiểu, thông dụng trong giao tiếp hàng ngày của ngƣời bản ngữ.
Có số lƣợng từ trong mỗi câu không nhiều: 3-10 từ. BCTTLL đƣợc đo tính trong môi trƣờng im lặng hoặc ồn hoặc cả hai. Khi đánh giá sức nghe cho bệnh nhân, mỗi nhóm là 1 đơn vị đo tính. BCTTLL trên thế giới đƣợc ứng dụng trong đo tính để tìm ngƣỡng nghe nhận lời, ứng dụng trong đánh giá hiệu suất máy trợ thính… 1.
Việt Nam Trƣớc đây TLL Tiếng Việt đã đƣợc các chuyên gia đầu nghành quan tâm, chú ý và đã xây dựng các bảng từ thử. Những bảng từ thử này đã đặt những cơ sở nền móng cho thính lực lời Tiếng Việt. - 1976 PGS Phạm Kim và cộng sự đã xây dựng bảng từ thử thể loại hỗn hợp âm tiết [2]. - 1986 GS Nguyễn Hữu Khôi xây dựng bảng từ thử 1AT và 2AT trên cơ sở cho là Tiếng Việt cũng có cấu trúc hỗn hợp âm tiết và đã bảo vệ luận án PTS theo BTT trên [3].