Luận án tiến sĩ: Xây dựng bảng câu thử thính lực tiếng Việt dành cho người nghe kém tuổi già

Luận án tiến sĩ kỹ thuật nghiên cứu nghiên cứu xây dựng bảng câu thử thính lực lời tiếng việt ứng dụng trong nghe kém tuổi già, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết,

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Tai - Mũi - Họng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2017

155
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Lịch sử nghiên cứu bảng câu thử thính lực lời

1.2. Tình hình trên thế giới

1.3. Giải phẫu và sinh lý thính giác

1.4. Giải phẫu và sinh lý tai liên quan thính giác

1.5. Đường dẫn truyền thính giác

1.6. Đường thần kinh liên quan nghe hiểu và trả lời

1.7. Thính lực lời

1.8. Ứng dụng thính lực lời

1.9. Các chỉ số đo thính lực lời

1.10. Biểu đồ thính lực lời chuẩn

1.11. Quả chuối ngôn ngữ

1.12. Cơ sở ngôn ngữ học để xây dựng BCTTLL tiếng Việt

1.13. Ngữ âm tiếng Việt

1.14. Từ trong tiếng việt

1.15. Câu trong tiếng Việt

1.16. Nghe kém tuổi già

1.17. Giải phẫu bệnh

1.18. Các giai đoạn nghe kém nghe tuổi già: 3 giai đoạn

1.19. Tình hình nghiên cứu về nghe kém tuổi già

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.3. Thiết kế nghiên cứu

2.4. Nội dung nghiên cứu

2.5. Các kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu

2.6. Vật liệu và phương tiện nghiên cứu

2.7. Từ đơn âm tiết tiếng Việt phổ thông, thông dụng

2.8. Phần mềm ghi âm

2.9. Phần mềm phân tích tiếng nói

2.10. Phần mềm SPSS 18.0: Để kiểm định thống kê

2.11. Nguồn âm mẫu

2.12. Máy đo thính lực đơn âm

2.13. Máy đo thính lực lời

2.14. Máy nội soi TMH

2.15. Các bước tiến hành

2.16. Lập bảng và xử lý số liệu

2.17. Xử lý số liệu

2.18. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.19. Địa điểm nghiên cứu

2.20. Thời gian nghiên cứu

2.21. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Xây dựng BCTTLL tiếng Việt để sử dụng đo tính thính lực lời

3.2. Phân tích ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp TV

3.3. Xây dựng BCTTLL

3.4. Ghi âm BCTTLL

3.5. Kiểm định BCTTLL về âm học

3.6. Kiểm định về mặt thính học

3.7. Ứng dụng đo tính TLL qua BCTTLL trên bệnh nhân nghe kém tuổi già

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Xây dựng bảng câu thử thính lực lời tiếng Việt

4.2. Đơn vị cơ bản để xây dựng BCTTLL tiếng Việt

4.3. Phân loại tiếng (âm tiết) theo âm sắc (cao, trung, thấp)

4.4. Cấu trúc bảng câu thử thính lực lời

4.5. Vấn đề phương ngữ tiếng Việt trong thính lực lời

4.6. Vấn đề xây dựng nguồn âm mẫu

4.7. Kiểm định bảng câu thử thính lực lời về mặt âm học

4.8. Kiểm định bảng câu thử thính lực lời về thính học

4.9. Ứng dụng đo tính TLL trên bệnh nhân nghe kém tuổi già

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu thính lực và nghe kém tuổi già

Nghiên cứu này tập trung vào việc xây dựng bảng câu thử thính lực tiếng Việt nhằm ứng dụng trong đánh giá nghe kém tuổi già. Thính lực là khả năng tiếp nhận và xử lý âm thanh, đặc biệt quan trọng trong giao tiếp hàng ngày. Nghe kém tuổi già là tình trạng suy giảm thính lực phổ biến ở người cao tuổi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống. Việc xây dựng bảng câu thử thính lực tiếng Việt là cần thiết để đánh giá chính xác khả năng nghe hiểu của người cao tuổi, từ đó hỗ trợ lựa chọn máy trợ thính phù hợp.

1.1. Lịch sử nghiên cứu thính lực

Từ cuối thế kỷ XIX, các nghiên cứu về thính lực đã bắt đầu với việc sử dụng âm thoa và tiếng nói thầm để đánh giá sức nghe. Đến đầu thế kỷ XX, máy đo thính lực điện tử ra đời, cho phép đánh giá chính xác hơn. Tuy nhiên, các phương pháp này vẫn bị hạn chế do chỉ sử dụng đơn âm, trong khi tiếng nói thực tế là phức âm. Thính lực lời (TLL) sử dụng lời nói tự nhiên làm nguồn kích thích, giúp đánh giá toàn diện quá trình nghe hiểu, đặc biệt ở người cao tuổi.

1.2. Tình hình nghiên cứu nghe kém tuổi già

Nghe kém tuổi già là một vấn đề y tế nghiêm trọng, ảnh hưởng đến khoảng 30% người trên 65 tuổi. Các nghiên cứu trên thế giới đã xây dựng nhiều bảng câu thử thính lực cho các ngôn ngữ khác nhau, nhưng tại Việt Nam, việc này vẫn còn hạn chế. Nghiên cứu này nhằm lấp đầy khoảng trống đó bằng cách xây dựng bảng câu thử thính lực tiếng Việt phù hợp với đặc điểm ngôn ngữ và văn hóa của người Việt.

II. Phương pháp nghiên cứu và xây dựng bảng câu thử

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích ngữ âm và thính học để xây dựng bảng câu thử thính lực tiếng Việt. Các câu thử được chọn lọc từ ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày, đảm bảo tính phổ biến và dễ hiểu. Quá trình xây dựng bao gồm các bước: phân tích ngữ âm, ghi âm, kiểm định âm học và thính học. Bảng câu thử được thiết kế để đánh giá khả năng nghe hiểu của người cao tuổi trong các tình huống giao tiếp thực tế.

2.1. Phân tích ngữ âm và từ vựng

Các câu thử được phân tích dựa trên cấu trúc ngữ âm tiếng Việt, bao gồm nguyên âm, phụ âm và thanh điệu. Các từ được chọn lọc từ vựng phổ thông, đảm bảo tính dễ hiểu và phù hợp với người cao tuổi. Ngữ âm tiếng Việt được phân loại theo âm sắc (cao, trung, thấp) để đảm bảo sự cân bằng trong bảng câu thử.

2.2. Kiểm định âm học và thính học

Sau khi xây dựng, bảng câu thử được kiểm định về mặt âm học để đảm bảo chất lượng âm thanh và độ chính xác. Các thử nghiệm thính học được thực hiện trên người cao tuổi để đánh giá hiệu quả của bảng câu thử trong việc đo lường khả năng nghe hiểu. Kết quả cho thấy bảng câu thử có độ tin cậy cao và phù hợp với mục đích nghiên cứu.

III. Ứng dụng và giá trị thực tiễn

Bảng câu thử thính lực tiếng Việt có giá trị thực tiễn cao trong việc đánh giá và hỗ trợ người cao tuổi bị nghe kém. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp công cụ đo lường chính xác mà còn góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người cao tuổi thông qua việc lựa chọn máy trợ thính phù hợp. Bảng câu thử cũng có thể được ứng dụng trong các nghiên cứu y học và giáo dục liên quan đến thính lực.

3.1. Đánh giá hiệu quả máy trợ thính

Bảng câu thử được sử dụng để đánh giá hiệu quả của máy trợ thính trong việc cải thiện khả năng nghe hiểu của người cao tuổi. Kết quả cho thấy máy trợ thính có thể cải thiện đáng kể khả năng nghe, đặc biệt khi sử dụng bảng câu thử để điều chỉnh thiết bị.

3.2. Ứng dụng trong giáo dục và y tế

Ngoài việc hỗ trợ người cao tuổi, bảng câu thử còn có thể được ứng dụng trong giáo dục để đào tạo các chuyên gia thính học. Trong y tế, bảng câu thử giúp chẩn đoán và điều trị các vấn đề liên quan đến thính lực, đặc biệt là nghe kém tuổi già.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu xây dựng bảng câu thử thính lực lời tiếng việt ứng dụng trong nghe kém tuổi già

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Giao tiếp bằng lời là hoạt động thƣờng xuyên và quan trọng trong đời sống của con ngƣời. Trong giao tiếp bằng lời, nghe - hiểu tiếng nói là khâu quan trọng. Sự tiếp nhận âm thanh ngôn ngữ đƣợc thực hiện không chỉ nhờ bộ máy thính giác, mà còn bằng hoạt động phân tích tổng hợp của vỏ não. Để đánh giá suy giảm sức nghe, từ lâu con ngƣời đã biết dùng đồng hồ và các dụng cụ phát ra âm thanh để ƣớc lƣợng sức nghe.

Cuối thế kỷ XIX, F. Bézold lần đầu tiên đã sử dụng âm thoa sau đó dùng tiếng nói thầm để đánh giá sức nghe. Hạn chế của phƣơng pháp trên là chỉ đƣa ra sự đánh giá sơ bộ về sức nghe. Đầu thế kỷ XX, máy đo thính lực điện tử ra đời, cho phép đánh giá sức nghe về thể loại và mức độ.

Tuy vậy, phƣơng pháp này vẫn bị hạn chế, vì kích thích dùng để đo là các đơn âm, trong khi tiếng nói trong thực tế giao tiếp hàng ngày là phức âm. Đo sức nghe bằng đơn âm có giá trị phân tích đối với sức nghe và chỉ khảo sát đánh giá đƣợc một số bộ phận của cơ quan thính giác (tai giữa, tai trong…), không cho phép đánh giá đầy đủ, hoàn chỉnh của quá trình nghe-hiểu, đặc biệt các cơ quan trung ƣơng thần kinh. Thính lực lời (TLL) là dùng lời nói, ngôn ngữ tự nhiên đã đƣợc qui chuẩn qua máy đo thính lực làm nguồn kích thích để đo sức nghe. TLL nghiên cứu tổng hợp về thính giác giúp chúng ta xem xét cả phần ngoại biên (tai), phần trung ƣơng (thần kinh) của bộ máy thính giác và đánh giá hiệu suất của bộ máy đó về mặt xã hội.

Vì vậy, TLL cần thiết và hữu dụng trong thực tế giám định sức nghe, đánh giá hiệu quả phẫu thuật phục hồi chức năng nghe nhƣ cấy điện cực ốc tai và hiệu quả của máy trợ thính cũng nhƣ việc lựa chọn máy trợ thính thích hợp. Ngày nay TLL đã đƣợc sử dụng rộng rãi và thƣờng xuyên trong thực hành chuyên khoa TMH ở các nƣớc trên thế giới. 2 Tùy thuộc vào đặc điểm ngôn ngữ của từng nƣớc, ngƣời ta xây dựng các bảng từ thử và bảng câu thử TLL khác nhau. Ở Việt nam, đã có ba bảng từ thử TLL đƣợc xây dựng.

Đó là bảng từ thử hỗn hợp âm tiết do Phạm Kim và cộng sự [1]; bảng từ thử một và hai âm tiết của Nguyễn Hữu Khôi [2]; bảng từ thử thể loại Freiburger do Ngô Ngọc Liễn xây dựng và đã đƣợc ứng dụng trong giám định điếc nghề nghiệp [3]. Trong TLL, bảng câu thử thính lực lời (BCTTLL) có vị trí quan trọng. Bởi vì, trong giao tiếp hàng ngày, chúng ta tiếp nhận thông tin không phải qua các từ tách biệt, mà qua các câu hoàn chỉnh. Vì vậy BCTTLL cho phép đánh giá một cách tổng hợp, đầy đủ hoàn thiện quá trình nghe hiểu trong giao tiếp bằng lời.Việc xây dựng BCTTLL rất cần thiết trong việc đo tính sức nghe đối với ngƣời lớn, xác định ngƣỡng nghe nhận lời nói, đặc biệt là đối với ngƣời nghe kém do tuổi già trong việc đánh giá hiệu suất của máy trợ thính và lựa chọn máy trợ thính thích hợp… Gần đây BCTTLL đƣợc phát triển nhiều ở các nƣớc trên thế giới.

Còn nƣớc ta, cho đến nay chƣa có công trình nào nghiên cứu xây dựng BCTTLL tiếng Việt. Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi đã lựa chọn và thực hiện luận án với tên gọi “Nghiên cứu xây dựng bảng câu thử thính lực lời Tiếng Việt, ứng dụng trong nghe kém tuổi già”. MỤC TIÊU Luận án hƣớng đến các mục tiêu sau: 1. Xây dựng bảng câu thử thính lực lời tiếng Việt.

Ứng dụng bảng câu thử thính lực lời tiếng Việt trong nghe kém tuổi già. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Lịch sử nghiên cứu bảng câu thử thính lực lời 1. Tình hình trên thế giới Từ cuối thế kỷ XIX, Bézold đã nêu tầm quan trọng của TLL và đã đề xuất đo thính lực bằng tiếng nói thầm với các số và các từ bằng tiếng Đức [3].

Sang đầu thế kỷ XX, sự phát triển mới của các ngành vật lý và kỹ thuật điện tử giúp cho ngành ngữ âm học thực nghiệm tiến bộ rất nhanh. Trƣớc đây có các thiết bị nghiên cứu ngữ âm học bằng khí cụ, hiện nay có các chƣơng trình, phần mềm số hóa phân tích tiếng nói cho phép phân tích miêu tả một cách nhanh chóng và chính xác các thông số âm học. Những tiến bộ trong nghiên cứu ngữ âm học trong ngôn ngữ học tác động tích cực đến các lĩnh vực liên quan trong Y học nói chung và sự phát triển thính học, trong đó có nghiên cứu TLL, nói riêng. Trên thế giới ngƣời ta đã xây dựng các bảng từ thử và bảng câu thử thính lực lời khác nhau.

Trong luận án này chúng tôi tập trung trình bày những vấn đề liên quan đến BCTTLL của các nƣớc trên thế giới.  Bảng câu thử thính lực lời (BCTTLL) tiếng Anh  Năm 1955 Silverman and Hirsh đã xây dựng BCTTLL: “The CID everyday sentences” gồm 10 danh sách, mỗi danh sách 10 câu, 5từ khóa mỗi câu đƣợc đo trong môi trƣờng im lặng [4].  Năm 1977 Kalikow, Stevens, and Elliott xây dựng BCTTLL trong môi trƣờng có tiếng ồn: “The Speech Perception in Noise (SPIN)” trong đó ½ số câu là những câu có khả năng dự đoán cao cao và ½ là các câu có khả năng dự đoán thấp. Bảng câu gồm 8 nhóm, mỗi nhóm 50 câu, cân bằng về nghe hiểu và ngữ âm [4],[5].

 Năm 1984 Bilger, Nuetzel, Rabinowitz and Rzeczkowski đã sữa lại thành test (R-SPIN) đo trong môi trƣờng ồn đƣợc tiêu chuẩn hóa âm nền [4]. 4  Năm 1993 viện nghiên cứu Etymotic xây dựng BCTTLL “The speech in noise” (SIN), gồm 72 danh sách, mỗi danh sách 10 câu, mỗi câu gồm 5 từ khóa, đo trong môi trƣờng ồn). Các danh sách không tƣơng. Sau đó Cox, Gray, and Alexander cải tiến thành “R-SIN” có sự cân bằng giữa các danh sách, nhƣng lại phải đo trong thời gian dài, gần đây Etymotic đã phát triển “QUICKSIN” đo trong thời gian ngắn.

Bảng câu QuickSIN có 12 danh sách tƣơng đƣơng, mỗi danh sách gồm 6 câu, mỗi câu 5 từ khóa, đo trong môi trƣờng ồn [4],[6].  Năm 1994 Nilsson, Soli, and Sullivan xây dựng BCTTLL “The Hearing in noise tets” (HINT), gồm 25 nhóm câu, mỗi nhóm 10 câu; các nhóm câu có sự cân bằng về tần số xuất hiện các âm vị và độ dễ/khó nghe (hiểu) ở ngƣời bình thƣờng. Bảng câu đƣợc áp dụng đo sức nghe trong môi trƣờng im lặng và trong môi trƣờng có tiếng ồn [4],[7].  BCTTLL tiếng Pháp:  Năm 1978 Fournier JE xây dựng 10 nhóm câu, mỗi nhóm 10 câu, mỗi câu gồm 2 từ khóa kết hợp với động từ [8].

 Năm 2008 Heleen Luts và cộng sự đã xây dựng 16 nhóm câu, mỗi nhóm 10 câu, mỗi câu gồm từ 6 đến 15 từ [9].  Năm 2008 Vaillancourt V và cộng sự đã xây dựng 520 câu tiếng Pháp, mỗi câu 5-7 âm tiết [10].  Năm 2011 Wable xây dựng 17 nhóm câu, mỗi nhóm 8 câu, mỗi câu 5 đến 8 từ [11].  BCTTLL tiếng Đức: Năm 2002 Brand xây dựng 20 nhóm câu, mỗi nhóm gồm 10 câu, 5 - 8 từ mỗi câu [11].

 BCTTLL tiếng Đan Mạch:  Năm 2003 Wagener xây dựng BCTTLL gồm 16 nhóm câu, mỗi nhóm 10 câu, mỗi câu 5 từ [12]. 5  Năm 2009 Jens Bo Nielsen và Torsten Dau xây dựng BCTTLL gồm 18 nhóm câu, mỗi nhóm 10 câu, mỗi câu 5 từ [13].  BCTTLL tiếng Hà Lan: Năm 1979 Plomp, R và cộng sự xây dựng BCTTLL gồm 10 nhóm câu, mỗi nhóm 13 câu, mỗi câu 8-9 âm tiết [14],[15].  BCTTLL tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: Năm 2008 Sule Cekic, Gonca Sennaroglu xây dựng 240 câu, 24 nhóm [16].

 BCTTLL tiếng Bun-ga-ri: Năm 2008 Stephan R Lolov và cộng sự xây dựng BCTTLL gồm 12 nhóm câu, mỗi nhóm 20 câu, mỗi câu 4-6 từ [17].  BCTTLL tiếng Thụy Điển:  Năm 1982 Hagerman and Kinne For xây dựng BCTTLL, mỗi nhóm 10 câu, mỗi câu 5 từ [18].  Năm 2005 Hallgren và CS xây dựng BCTTLL gồm 25 nhóm câu, mỗi nhóm 10 câu, mỗi câu 5-9 từ [11].  BCTTLL tiếng Nhật: Năm 2008 Masae Shiroma, Takako Iwaki, Takeshi Kubo đã xây dựng 12 nhóm câu, mỗi nhóm 20 câu, mỗi câu trung bình 22,7 âm vị [19].

 BCTTLL tiếng Hàn Quốc: Năm 2008 Sung K. Moon và cộng sự xây dựng 24 nhóm câu, mỗi nhóm 10 câu, mỗi câu có 9 đến 10 từ [20].  BCTTLL tiếng Tây Ban Nha: Năm 2008 Alicia Huarte xây dựng 15 nhóm câu, mỗi nhóm 10 câu, mỗi câu gồm 4 đến 7 từ [21].  BCTTLL tiếng Trung Quốc: Năm 2005 Wong và Soli xây dựng 24 nhóm câu, mỗi nhóm 10 câu, mỗi câu10 âm vị [22].

Trong các công trình nghiên cứu về BCTTLL trên thế giới, các tác giả đã xây dựng câu phù hợp với đặc điểm ngôn ngữ của nƣớc đó. BCTTLL đƣợc xây dựng lấy từ các câu phổ biến, thông dụng trong sách giáo khoa, báo, tạp chí; hoặc các từ thông dụng xây dựng câu theo cấu trúc cố định về từ loại (tên, động từ, số, tính từ, tân ngữ) hoặc thay đổi theo ngữ nghĩa và ngữ pháp. Bảng câu thử thính lực lời phân thành nhiều nhóm, cân bằng về số câu mỗi nhóm và đặc biệt là đảm bảo sự cân bằng giữa các nhóm về khả năng nghe 6 hiểu trên ngƣời bình thƣờng và có một số bảng thì đựơc cân bằng cả về ngữ âm thông qua sự cân bằng về âm vị (BCTTLL của Wong và Soli; BCTTLL của Jens Bo Nielsen và Torsten Dau…). BCTTLL gồm các câu đơn, dễ hiểu, thông dụng trong giao tiếp hàng ngày của ngƣời bản ngữ.

Có số lƣợng từ trong mỗi câu không nhiều: 3-10 từ. BCTTLL đƣợc đo tính trong môi trƣờng im lặng hoặc ồn hoặc cả hai. Khi đánh giá sức nghe cho bệnh nhân, mỗi nhóm là 1 đơn vị đo tính. BCTTLL trên thế giới đƣợc ứng dụng trong đo tính để tìm ngƣỡng nghe nhận lời, ứng dụng trong đánh giá hiệu suất máy trợ thính… 1.

Việt Nam Trƣớc đây TLL Tiếng Việt đã đƣợc các chuyên gia đầu nghành quan tâm, chú ý và đã xây dựng các bảng từ thử. Những bảng từ thử này đã đặt những cơ sở nền móng cho thính lực lời Tiếng Việt. - 1976 PGS Phạm Kim và cộng sự đã xây dựng bảng từ thử thể loại hỗn hợp âm tiết [2]. - 1986 GS Nguyễn Hữu Khôi xây dựng bảng từ thử 1AT và 2AT trên cơ sở cho là Tiếng Việt cũng có cấu trúc hỗn hợp âm tiết và đã bảo vệ luận án PTS theo BTT trên [3].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu xây dựng bảng câu thử thính lực tiếng Việt cho người nghe kém tuổi già" tập trung vào việc phát triển một công cụ đánh giá thính lực phù hợp với người cao tuổi, nhằm cải thiện khả năng chẩn đoán và điều trị các vấn đề liên quan đến thính lực trong nhóm đối tượng này. Nghiên cứu không chỉ cung cấp một bảng câu hỏi thử thính lực được thiết kế đặc biệt cho người nghe kém mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát hiện sớm và can thiệp kịp thời để nâng cao chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề sức khỏe liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Nghiên cứu mật độ xương, tình trạng vitamin D và một số markers chu chuyển xương ở trẻ từ 6 đến 14 tuổi tại thành phố Cần Thơ, nơi nghiên cứu về sức khỏe xương ở trẻ em, hoặc Nghiên cứu tình hình thai to và các yếu tố liên quan ở các sản phụ tại BV Phụ sản TP Cần Thơ năm 2014-2015, cung cấp cái nhìn về sức khỏe sinh sản. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các vấn đề sức khỏe trong cộng đồng.