Tổng quan luận án
Cây lúa (Oryza sativa L.) là nguồn lương thực thiết yếu phục vụ hơn 40% dân số thế giới. Năm 2013, tổng diện tích canh tác lúa toàn cầu đạt 220,86 triệu ha với sản lượng 705,38 triệu tấn. Để tạo ra 1 tấn lúa thương phẩm (bao gồm cả hạt và rơm rạ), cây lúa lấy từ đất khoảng 16–17 kg đạm (N) nguyên chất (De Datta, 1981; Ponnamperuma và Deturck, 1993; Sahrawat, 2000). Nhằm đáp ứng nhu cầu này, nông dân thường bón lượng lớn phân đạm vô cơ (xấp xỉ 100 kg N/ha). Tuy nhiên, hiệu suất hấp thu đạm của cây lúa chỉ đạt 30–40% (De Datta, 1978; Choudhury và Khanif, 2001); phần phân bón thất thoát qua các quá trình khử đạm, rửa trôi và bốc hơi gây ô nhiễm nguồn nước ngầm, nước mặt và không khí (Reeves et al., 2002; Shrestha và Ladha, 1998).
Tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh An Giang nói riêng (nơi diện tích đất lúa đạt 264.284,61 ha, sản lượng trên 3,9 triệu tấn vào năm 2013), việc thâm canh tăng vụ đi kèm lạm dụng phân đạm hóa học làm gia tăng chi phí sản xuất và suy giảm độ phì của đất. Trong khi đó, các vi sinh vật cố định đạm sinh học ở ruộng lúa nước có thể đóng góp tới 50 kg N/ha/vụ (Roger và Ladha, 1992). Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết là phân lập, nhận diện và khảo nghiệm các dòng vi khuẩn nội sinh bản địa thuộc chi Azospirillum có khả năng cố định đạm và sinh chất điều hòa sinh trưởng, nhằm đánh giá khả năng hỗ trợ sinh trưởng, gia tăng năng suất và thay thế một phần phân đạm vô cơ cho các giống lúa cao sản trồng trên đất phù sa ngọt tại An Giang.
Mục tiêu tổng quát của luận án là phân lập, tuyển chọn và khảo nghiệm các dòng vi khuẩn Azospirillum nội sinh lên sinh trưởng và năng suất của lúa cao sản trồng tại tỉnh An Giang. Năm mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phân lập các dòng vi khuẩn Azospirillum từ lúa hoang và lúa cao sản trồng tại tỉnh An Giang.
- Xác định đặc tính hình thái và định danh các dòng vi khuẩn Azospirillum đã phân lập bằng kỹ thuật sinh học phân tử.
- Tuyển chọn các dòng vi khuẩn Azospirillum trên lúa cao sản trồng ở điều kiện phòng thí nghiệm.
- Trắc nghiệm độ hữu hiệu của các dòng vi khuẩn Azospirillum trên lúa cao sản trồng ở điều kiện nhà lưới.
- Trắc nghiệm độ hữu hiệu của các dòng vi khuẩn Azospirillum trên lúa cao sản trồng ở điều kiện đồng ruộng tại tỉnh An Giang.
- Đối tượng nghiên cứu: 60 dòng vi khuẩn Azospirillum nội sinh phân lập từ 60 mẫu lúa (48 mẫu lúa cao sản và 12 mẫu lúa hoang mọc lẫn trong ruộng); hai giống lúa cao sản chủ lực gồm OM 6976 (tổ hợp lai IR68144/OM997/OM2718) và OM 4218 (tổ hợp lai OM2031/MTL250).
- Phạm vi không gian: Các điểm thu mẫu trên địa bàn tỉnh An Giang; các thí nghiệm phòng thí nghiệm tại Viện Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Sinh học – Trường Đại học Cần Thơ; các thí nghiệm nhà lưới và đồng ruộng thực hiện trên nền đất phù sa ngọt tại huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu thực nghiệm và thống kê nông nghiệp được thu thập, phân tích và hoàn thành trong giai đoạn 2011–2014.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng hợp lịch sử phân loại và hệ sinh thái của chi Azospirillum (thuộc lớp Alphaproteobacteria), được Beijerinck mô tả năm 1925 và Tarrand et al. định danh lại vào năm 1978 với hai loài ban đầu là A. lipoferum và A. brasilense. Các nghiên cứu kế tiếp đã mở rộng danh mục loài trong chi này: A. amazonense (Magalhães et al., 1983), A. halopraeferens (Reinhold et al., 1987), A. irakense (Khammas et al., 1989, 1991), A. doebereinerae (Eckert et al., 2001), A. oryzae (Xie và Yokota, 2005), A. melinis (Peng et al., 2006), A. canadense và A. zeae (Mehnaz et al., 2007), A. rugosum (Young et al., 2008), A. picis (Lin et al., 2009), A. thiophilum (Lavrinenko et al., 2010), A. formosense (Lin et al., 2012), A. fermentarium (Lin et al., 2013), và A. humicireducens (Zhou et al., 2013).
| Loài vi khuẩn |
Tác giả công bố |
Năm công bố |
Nguồn phân lập / Ký chủ |
| A. lipoferum |
Tarrand et al. |
1978, 1979 |
Ngũ cốc, cỏ, mía, cây có củ, cọ dầu |
| A. brasilense |
Tarrand et al. |
1978, 1979 |
Ngũ cốc, cỏ, mía, cọ dầu |
| A. amazonense |
Magalhães et al. |
1983 |
Ngũ cốc, mía, cọ dầu |
| A. halopraeferens |
Reinhold et al. |
1987 |
Cỏ Kallar (Leptochloa fusca) |
| A. irakense |
Khammas et al. |
1989, 1991 |
Cây lúa |
| A. doebereinerae |
Eckert et al. |
2001 |
Cỏ Miscanthus |
| A. oryzae |
Xie và Yokota |
2005 |
Cây lúa |
| A. canadense, A. zeae |
Mehnaz et al. |
2007 |
Cây bắp (Zea mays) |
| A. formosense |
Lin et al. |
2012 |
Đất nông nghiệp |
Về cơ chế sinh hóa, Azospirillum có khả năng khử phân tử nitơ không khí thành ammonium trong điều kiện vi hiếu khí nhờ phức hợp enzyme nitrogenase (Dilworth, 1966; Turner và Gibson, 1980). Hoạt tính nitrogenase được điều hòa bởi hệ thống gen draT và draG thông qua cơ chế gắn ADP-ribosyl thuận nghịch vào tiểu đơn vị Fe-protein dinitrogenase reductase khi có nồng độ ammonium cao hoặc oxy dư thừa (Hartmann và Burris, 1986, 1987; Fu et al., 1990; Zhang et al., 1992, 1993). Cụm gen nif (khoảng 40 kb) chứa các operon nifHDK, nifENX, fixABCX chịu trách nhiệm cấu trúc và chức năng enzyme (Elmerich et al., 1997; Galimand et al., 1989).
Bên cạnh cố định đạm, vi khuẩn còn tổng hợp Indole-3-Acetic Acid (IAA) từ tryptophan thông qua lộ trình acid indole-3-pyruvic (IPyA) với enzyme chủ chốt là indole-3-pyruvate decarboxylase do gen ipdC mã hóa (Costacurta et al., 1994; Zimmer et al., 1995; Dosselaere et al., 1999). Vi khuẩn còn thể hiện tính hóa hướng động đối với các acid hữu cơ và đường do rễ tiết ra (Okon et al., 1980; Lopez-de-Victoria và Lowell, 1993).
Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Bùi Việt Sang (2008), Dương Thị Kim Loan (2009), Đỗ Kim Nhung và Vũ Thành Công (2011) đã ghi nhận sự hiện diện của Azospirillum trên các vùng đất lúa. Tuy nhiên, việc sàng lọc các dòng vi khuẩn nội sinh từ cả lúa trồng và lúa hoang, định danh phân tử bằng PCR, rồi tiến hành khảo nghiệm từ phòng thí nghiệm, nhà lưới đến đồng ruộng quy mô lớn trên nền đất phù sa ngọt tỉnh An Giang nhằm xác định lượng phân đạm hóa học có thể thay thế là vị trí học thuật mà luận án tập trung giải quyết.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở lý thuyết về vi sinh vật vùng rễ kích thích sinh trưởng thực vật (Plant Growth Promoting Rhizobacteria - PGPR), sinh lý cố định đạm sinh học của vi khuẩn vi hiếu khí và sinh tổng hợp phytohormone thúc đẩy rễ hấp thu dinh dưỡng.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được thiết kế kết hợp phân tích vi sinh học cổ điển, sinh học phân tử và khảo nghiệm nông học định lượng:
- Phân lập vi khuẩn: Thu 60 mẫu rễ và thân từ lúa cao sản (48 mẫu) và lúa hoang (12 mẫu) tại An Giang. Mẫu thực vật được khử trùng bề mặt, nghiền mô và nuôi cấy trên môi trường bán lỏng NFb (Nitrogen Free bromothymol) không đạm ở 30°C. Phản ứng cố định đạm làm môi trường chuyển từ màu xanh lá sang màu xanh dương và hình thành vệt màng trắng đục (pellicle) cách mặt thoáng 3–6 mm sau 1–3 ngày. Vi khuẩn được phân lập thuần khiết trên môi trường NFb đặc, LGI, YMA, MPSS và DYGS.
- Xác định đặc tính hình thái và tế bào: Nhuộm Gram, quan sát hình dạng khuẩn lạc, chuyển động chiên mao trong môi trường lỏng/bán đặc và chụp ảnh hiển vi điện tử quét (SEM) để xác định kích thước tế bào, chiên mao cực, chiên mao bên và thể vùi poly-β-hydroxybutyrate (PHB).
- Định danh bằng kỹ thuật sinh học phân tử (PCR): Tách chiết ADN tổng số của các dòng vi khuẩn và thực hiện phản ứng khuếch đại gen bằng PCR với các cặp mồi chuyên biệt cho loài Azospirillum lipoferum và Azospirillum brasilense. Điện di kiểm tra kích thước sản phẩm PCR trên gel agarose.
- Khảo nghiệm phòng thí nghiệm: Trồng giống lúa OM 4218 trong môi trường dung dịch dinh dưỡng vô trùng; theo dõi chiều cao cây, chiều dài rễ, chỉ số diệp lục tố của lá và hàm lượng đạm tổng số (%) trong cây sau 5 tuần nuôi cấy.
- Trắc nghiệm nhà lưới: Bố trí thí nghiệm chậu tĩnh trong nhà lưới tại huyện Châu Phú trên hai giống lúa OM 6976 và OM 4218. Đánh giá tác động của việc chủng riêng lẻ 04 dòng vi khuẩn (Azospirillum sp. 6T1, T7, 7R, 25HR) so với đối chứng không chủng, không bón đạm. Các chỉ tiêu đo đạc gồm: chiều cao cây ở 30 ngày và lúc thu hoạch, trọng lượng khô thân lá, số hạt/bông, trọng lượng 1.000 hạt, hàm lượng đạm trong hạt và độ hữu hiệu sinh học.
- Trắc nghiệm ngoài đồng ruộng: Bố trí thí nghiệm đồng ruộng chia lô ngẫu nhiên trên đất phù sa ngọt tại huyện Châu Phú, An Giang. Khảo nghiệm nghiệm thức chủng phối hợp 02 dòng vi khuẩn (Azospirillum sp. 6T1 + Azospirillum sp. 25HR) kết hợp các mức bón phân đạm khác nhau trên lúa OM 6976 và OM 4218. Đo đạc màu sắc lá, chiều cao cây lúc 45 ngày sau khi sạ (NSKS), chiều dài bông, số hạt chắc/bông, trọng lượng 1.000 hạt, trọng lượng khô thân lá, hàm lượng đạm trong hạt, năng suất thực tế (tấn/ha) và lượng đạm hóa học thay thế.
- Xử lý số liệu: Dữ liệu được tính toán giá trị trung bình, hệ số biến thiên CV (%), phân tích phương sai (ANOVA) và so sánh sự khác biệt giữa các nghiệm thức bằng trắc nghiệm khoảng cách có ý nghĩa nhỏ nhất (LSD) ở mức xác suất $p \le 0,05$.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
Chương 1 thiết lập tính cấp thiết của đề tài dựa trên vai trò an ninh lương thực của lúa gạo, hiện trạng tiêu thụ và thất thoát phân đạm hóa học tại Việt Nam và tỉnh An Giang. Chương nêu rõ 5 mục tiêu cụ thể, ý nghĩa khoa học trong việc cung cấp dữ liệu vi sinh vật bản địa cho giảng dạy, nghiên cứu phân bón sinh học và các điểm mới về số lượng dòng phân lập, nhận diện loài và hiệu quả thay thế đạm vô cơ ngoài đồng ruộng.
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Chương 2 cung cấp hệ thống cơ sở lý thuyết gồm:
- Phân loại học thực vật chi Oryza, đặc điểm hai giống lúa cao sản OM 4218 (thời gian sinh trưởng 88–92 ngày, năng suất 6–8 tấn/ha) và OM 6976 (100–105 ngày, năng suất 7–8 tấn/ha Đông Xuân, giàu vi chất sắt).
- Thực trạng sử dụng phân bón vô cơ, phân hữu cơ sinh học và lượng phụ phẩm rơm rạ trên 20 triệu tấn/năm tại Đồng bằng sông Cửu Long.
- Khái quát sản xuất lúa gạo thế giới, Việt Nam và cơ cấu giống tại An Giang.
- Phân loại học, hình thái, sinh lý và sinh thái của 17 loài Azospirillum.
- Đặc tính hóa sinh: cố định đạm qua xét nghiệm khử acetylene ($C_2H_2 \rightarrow C_2H_4$), sử dụng nguồn carbon (succinate, malate, fructose), đồng hóa acid amin (sự khác biệt giữa A. brasilense, A. lipoferum, A. amazonense), tổng hợp các polymer EPS, CPS và điều hòa tỷ lệ C/N.
- Sinh tổng hợp chất điều hòa tăng trưởng IAA (vai trò gen ipdC, chuyển hóa tryptophan qua lộ trình IPyA).
- Hệ thống gen cố định đạm nif và cơ chế bất hoạt enzyme nitrogenase thuận nghịch thông qua gen draT/draG.
- Nguyên lý kỹ thuật PCR định danh vi khuẩn.
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 3 mô tả chi tiết trang thiết bị, hóa chất, vật liệu và quy trình thực nghiệm:
- Địa điểm và phương pháp thu thập 60 mẫu lúa từ An Giang.
- Môi trường và quy trình phân lập vi khuẩn Azospirillum nội sinh qua đổi màu chỉ thị bromothymol blue và tạo màng bán lỏng NFb.
- Kỹ thuật xác định hình thái khuẩn lạc, nhuộm Gram, quan sát kính hiển vi điện tử quét.
- Quy trình ly trích ADN, phản ứng PCR với cặp mồi chuyên biệt định danh A. lipoferum và A. brasilense, điện di gel.
- Quy trình bố trí và theo dõi thí nghiệm trồng lúa cao sản trong dung dịch dinh dưỡng tại phòng thí nghiệm (5 tuần).
- Thiết kế thí nghiệm chậu vại trong nhà lưới khảo nghiệm 4 dòng vi khuẩn trên giống OM 6976 và OM 4218.
- Phương pháp phân lô, xử lý giống, chủng vi khuẩn, bón phân và đo đạc các chỉ tiêu nông học, năng suất ngoài đồng ruộng tại huyện Châu Phú.
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Chương 4 trình bày các số liệu thực nghiệm thu thập được:
- Phân lập và hình thái: Từ 60 mẫu lúa thu thập đã phân lập được 60 dòng vi khuẩn Azospirillum. Khuẩn lạc có màu trắng đục, trắng trong hoặc vàng nhạt; hình tròn, bìa nguyên, độ nổi cao hoặc lài; chất nhầy; tế bào dạng que ngắn hoặc que cong, Gram âm/thay đổi, có hạt PHB và chiên mao.
- Định danh phân tử: Kỹ thuật PCR với cặp mồi chuyên biệt đã định danh được 04 dòng vi khuẩn:
- Dòng Azospirillum sp. 6T1 (phân lập từ thân lúa cao sản) và dòng Azospirillum sp. T7 thuộc loài Azospirillum lipoferum.
- Dòng Azospirillum sp. 7R (phân lập từ rễ lúa cao sản) và dòng Azospirillum sp. 25HR (phân lập từ rễ lúa hoang) thuộc loài Azospirillum brasilense.
- Hiệu quả trong phòng thí nghiệm: Các dòng vi khuẩn giúp cải thiện chiều cao cây, chiều dài rễ, hàm lượng diệp lục tố và hàm lượng đạm tổng số trong mô lúa sau 5 tuần sinh trưởng.
- Hiệu quả trong nhà lưới: Chủng riêng lẻ 04 dòng vi khuẩn cho hai giống lúa mang lại sự gia tăng rõ rệt so với đối chứng không chủng và không bón đạm ($p \le 0,05$):
- Giống OM 6976: Chiều cao cây tăng 24,5–34,6%; trọng lượng khô thân lá tăng 36,1–146,4%; số hạt/bông tăng 172,0–218,8%; trọng lượng 1.000 hạt tăng 5,7–6,7%; hàm lượng đạm trong hạt tăng 2,5–3,9%.
- Giống OM 4218: Chiều cao cây tăng 20,0–21,7%; trọng lượng khô thân lá tăng 83,5–92,9%; số hạt/bông tăng 60,7–61,2%; trọng lượng 1.000 hạt tăng 21,1–23,2%; hàm lượng đạm trong hạt tăng tương đương.
- Hiệu quả trên đồng ruộng tại Châu Phú, An Giang: Chủng kết hợp 02 dòng Azospirillum sp. 6T1 và Azospirillum sp. 25HR trên nền đất phù sa ngọt tạo ra sự vượt trội về các chỉ tiêu nông học và năng suất:
| Chỉ tiêu nông học / Năng suất |
Giống lúa OM 6976 |
Giống lúa OM 4218 |
| Chiều cao cây tăng |
6,6 – 7,9% |
17,7 – 20,9% |
| Chiều dài bông tăng |
1,3 – 4,4% |
4,9 – 13,6% |
| Số hạt chắc trên bông tăng |
15,2 – 61,2% |
10,2 – 23,5% |
| Trọng lượng 1.000 hạt tăng |
1,5 – 5,6% |
8,1 – 8,5% |
| Trọng lượng khô thân lá tăng |
2,8 – 56,9% |
28,6 – 57,1% |
| Hàm lượng đạm trong hạt |
Tăng so với đối chứng |
Tăng so với đối chứng |
| Năng suất lúa thu hoạch tăng |
55,0 – 55,2% |
55,5 – 55,7% |
| Khả năng thay thế đạm vô cơ |
50 – 75 kg N/ha |
50 kg N/ha |
(Ghi chú: Tỷ lệ phần trăm gia tăng được tính so với nghiệm thức đối chứng không chủng vi khuẩn và không bón phân đạm).
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
Chương 5 tóm tắt các kết luận chính về nguồn vi khuẩn bản địa, kết quả định danh loài và hiệu quả nông học ngoài đồng ruộng. Luận án đề xuất ứng dụng thực tiễn các dòng vi khuẩn tuyển chọn vào quy trình canh tác lúa tại An Giang nhằm giảm lượng phân đạm bón, đồng thời kiến nghị phát triển sản xuất chế phẩm phân sinh học.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án ghi nhận các đóng góp khoa học và thực tiễn:
- Đóng góp lý luận và khoa học:
- Chứng minh sự hiện diện phổ biến của vi khuẩn cố định đạm nội sinh Azospirillum trong các mô rễ và thân của cả lúa cao sản và lúa hoang tại tỉnh An Giang.
- Phân lập thành công 60 dòng vi khuẩn Azospirillum bản địa; định danh chính xác bằng kỹ thuật PCR 04 dòng vi khuẩn đại diện, trong đó 02 dòng (Azospirillum sp. 6T1 và Azospirillum sp. T7) thuộc loài Azospirillum lipoferum, và 02 dòng (Azospirillum sp. 25HR và Azospirillum sp. 7R) thuộc loài Azospirillum brasilense.
- Bổ sung dẫn liệu về khả năng tổng hợp IAA, đồng hóa carbon/acid amin và đặc tính cố định đạm của các dòng vi khuẩn nội sinh bản địa trên cây lúa.
- Đóng góp thực tiễn và giải pháp đề xuất:
- Xác định quy trình chủng kết hợp hai dòng vi khuẩn nội sinh Azospirillum sp. 6T1 và Azospirillum sp. 25HR cho lúa cao sản trồng trên đất phù sa ngọt tại An Giang.
- Chứng minh hiệu quả gia tăng năng suất lúa từ 55,0% đến 55,7% so với không bón đạm không chủng vi khuẩn, đồng thời giúp thay thế trực tiếp 50–75 kg N/ha đối với giống OM 6976 và 50 kg N/ha đối với giống OM 4218.
- Cung cấp luận cứ thực tiễn để sản xuất phân bón sinh học vi sinh vật vùng rễ, giảm chi phí đầu vào và giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môi trường nông nghiệp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Trong tổng số 60 dòng phân lập được, luận án tập trung định danh sâu bằng PCR cho 04 dòng vi khuẩn thuộc hai loài A. lipoferum và A. brasilense. Các khảo nghiệm đồng ruộng được giới hạn trên nền đất phù sa ngọt tại huyện Châu Phú, tỉnh An Giang với hai giống lúa cao sản OM 6976 và OM 4218 trong khung thời gian nghiên cứu.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng giải trình tự định danh toàn bộ các dòng vi khuẩn còn lại; tối ưu hóa chất mang và kỹ thuật lên men để sản xuất chế phẩm sinh học dạng thương phẩm; khảo nghiệm hiệu lực của các dòng vi khuẩn trên các nhóm đất khác (đất phèn, đất mặn) và các giống lúa cao sản khác tại Đồng bằng sông Cửu Long.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Chuyên ngành Vi sinh vật học, Công nghệ Sinh học, Nông học và Khoa học Đất tham khảo quy trình phân lập vi khuẩn cố định đạm vi hiếu khí trên môi trường bán lỏng NFb, kỹ thuật chụp ảnh hiển vi điện tử quét mô tả tế bào/chiên mao, phương pháp phân tử PCR nhận diện loài và thiết kế thí nghiệm nông học nhiều cấp độ.
- Cán bộ khuyến nông và nhà hoạch định chính sách nông nghiệp: Tham khảo các số liệu định lượng về mức độ giảm phân bón vô cơ (50–75 kg N/ha) làm căn cứ xây dựng quy trình canh tác lúa bền vững.
- Các doanh nghiệp sản xuất phân bón vi sinh: Khai thác các chủng vi khuẩn bản địa (Azospirillum sp. 6T1 và Azospirillum sp. 25HR) làm nguồn giống sản xuất chế phẩm phân vi sinh cố định đạm cho cây lúa.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án đã phân lập được bao nhiêu dòng vi khuẩn và định danh được những loài nào?
Luận án đã thu thập 60 mẫu lúa (48 mẫu lúa cao sản và 12 mẫu lúa hoang) tại An Giang và phân lập được 60 dòng vi khuẩn Azospirillum. Bằng kỹ thuật PCR với cặp mồi chuyên biệt, tác giả đã định danh được 04 dòng: dòng Azospirillum sp. 6T1 và Azospirillum sp. T7 thuộc loài Azospirillum lipoferum; dòng Azospirillum sp. 25HR và Azospirillum sp. 7R thuộc loài Azospirillum brasilense.
2. Phản ứng nào trên môi trường nuôi cấy giúp nhận biết sự hiện diện của vi khuẩn cố định đạm Azospirillum?
Khi cấy vi khuẩn vào môi trường bán đặc NFb (không chứa đạm, có chất chỉ thị bromothymol blue), vi khuẩn phát triển cố định đạm làm môi trường chuyển màu từ xanh lá cây sang xanh dương và tạo một vòng màng trắng đục (pellicle) cách bề mặt môi trường khoảng 3–6 mm sau 1–3 ngày nuôi cấy ở 30°C.
3. Khảo nghiệm chủng kết hợp 02 dòng vi khuẩn ngoài đồng ruộng mang lại kết quả cụ thể nào?
Khi chủng kết hợp Azospirillum sp. 6T1 và Azospirillum sp. 25HR ngoài đồng ruộng tại huyện Châu Phú trên đất phù sa ngọt, cây lúa gia tăng chiều cao (6,6–7,9% ở OM 6976; 17,7–20,9% ở OM 4218), chiều dài bông (1,3–4,4% ở OM 6976; 4,9–13,6% ở OM 4218), số hạt trên bông (15,2–61,2% ở OM 6976; 10,2–23,5% ở OM 4218), trọng lượng khô thân lá (2,8–56,9% ở OM 6976; 28,6–57,1% ở OM 4218) và năng suất lúa tăng 55,0–55,7% so với đối chứng không bón đạm không chủng.
4. Luận án xác định chủng vi khuẩn Azospirillum có thể thay thế bao nhiêu lượng phân đạm hóa học?
Kết quả khảo nghiệm thực nghiệm ngoài đồng ruộng cho thấy việc chủng vi khuẩn cố định đạm Azospirillum sp. giúp thay thế được từ 50–75 kg N/ha đối với giống lúa OM 6976 và 50 kg N/ha đối với giống lúa OM 4218.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Đào Thanh Hoàng đã phân lập thành công 60 dòng vi khuẩn Azospirillum nội sinh từ lúa cao sản và lúa hoang tại tỉnh An Giang, trong đó định danh phân tử được 04 dòng thuộc hai loài A. lipoferum và A. brasilense. Khảo nghiệm thực nghiệm qua ba cấp độ (phòng thí nghiệm, nhà lưới và đồng ruộng) đã chứng minh hiệu quả kích thích sinh trưởng, cải thiện các chỉ tiêu cấu thành năng suất và gia tăng hàm lượng đạm trong hạt lúa của các dòng vi khuẩn này. Việc ứng dụng kết hợp hai dòng vi khuẩn bản địa Azospirillum sp. 6T1 và Azospirillum sp. 25HR cho phép thay thế từ 50 đến 75 kg N/ha phân đạm hóa học trong canh tác hai giống lúa cao sản OM 6976 và OM 4218 trên đất phù sa ngọt, cung cấp cơ sở khoa học cho phát triển phân bón sinh học và canh tác lúa bền vững.