Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Tổng quan về cây lúa va giống lúa và giống lúa ST24 1.1 Nguồn gốc của cây lúa Các quốc gia ở châu Á có truyền thống canh tác lúa lâu đời như Trung Quốc từ những năm 2800 TCN, An Độ những năm 1000 TCN (Lê Minh Triết, 2005) và giờ đây đã trở thành nguồn lương thực chính của các nước ở châu Á. Theo Trần Văn Đạt (2002), tổ tiên cây lúa trồng ở Châu Á đã xuất hiện thời kỳ đồ đá mới, cách đây 10 — 15 nghìn năm từ vùng chân núi phía Nam của dãy Hymalaya (An D6) và miền Nam Đông Nam A. Lua thuộc họ Hòa thao (Poaceae), loài Oryza sativa. Có hon 28 loài hoang dại đã được định danh, có bộ nhiễm sắc thé 2n = 24.
Năm 1963, các nhà di truyền học đã công nhận còn 20 loài, trong đó Oryza sativa và Oryza glaberrima là hai loài lúa trồng, còn lại là lúa dại. Phổ biến nhất là loài Oryza sativa con Oryza glaberrima chiếm điện tích nhỏ ở Tây Phi (Lê Minh Triết, 2005).2 Đặc điểm giống ST24 ST24 là giống lúa thuần, chất lượng được xem 1a cao nhất hiện nay đối với người tiêu dùng ưa chuộng loại gạo thơm, cho cơm rất trắng, mềm, thơm, ngon, ngọt. Là giống lúa cảm ôn, ST24 có thể gieo trồng các vụ trong năm ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Thời gian sinh trưởng ST24 biến động từ 95 - 100 ngày trong vụ Mùa và vụ Đông Xuân, từ 100 - 110 ngày trong vụ Hè Thu.
Giống thuộc nhóm lúa cao cây (105 — 110 cm), đẻ nhánh trung bình, lá dong dài (50 cm), bông dai (26,8 cm), bông to, nhiều gic phụ. hạt đóng khít, vỏ trau vàng, mỏ hat thang, gao trang, trong; com thom, mềm, ngọt; thích ứng tốt với điều kiện thời tiết biến đổi, năng suất ổn định. Trong canh tác tự nhiên dịch hại rất nhẹ. Giống ST24 thích hợp nhiều loại đất từ đất luân canh Lúa — Tôm nước lợ; đất 2 vụ lúa; ké cả đất 3 vụ lúa dọc sông Tiên, sông Hậu, sông Vam Cỏ.
Do chu kỳ sinh trưởng ngắn, giống ST24 được nông dân mang đi gieo trồng khắp nơi từ đồng bằng Bắc bộ, Nam Trung bộ, Đông Nam bộ và Tây Nguyên, tại các nơi người trồng đều tỏ ý hài lòng về kết quả.1 Thời vụ gieo trồng Đồng bằng Sông Cửu Long là vùng có diện tích đất lúa lớn nhất cả nước với 1.912,9 nghìn ha, chiếm 46,9%. Giai đoạn 2005 - 2014, điện tích đất lúa của vùng có sự biến động, tăng 4,4 nghìn ha; trong đó giai đoạn 2005 - 2010, tăng 18,4 nghìn ha (tốc độ tăng bình quân 0,19%/nam), giai đoạn 2010 - 2014 giảm 14 nghìn ha (tốc độ giảm bình quân 0,18%/năm). Năm 2014, diện tích gieo trồng lúa của vùng là 4.246,8 nghìn ha, chiếm 53,93% diện tích gieo trồng lúa cả nước, năng suất lúa bình quân đạt 59,4 tạ/ha, cao hơn 3,13% so với năng suất lúa cả nước. Sản lượng lúa đạt 25.244,2 nghìn tấn, chiếm 56,13% sản lượng lúa cả nước; đóng góp hơn 50% sản lượng lúa của Việt Nam và trên 90% lượng gạo xuất khẩu.
Lúa được gieo trồng 3 vụ chính là Đông Xuân, Hè Thu và vụ Mùa. So với toàn vùng, vụ Hè Thu gieo trồng lúa với diện tích lớn nhất là 2.292,9 nghìn ha, chiếm 54% nhưng năng suất chỉ đạt 53,1 ta/ha, bang 89,4%; vụ Đông Xuân diện tích gieo trồng đạt 1.562,7 nghìn ha, chiếm 36,8% thì năng suất đạt cao nhất 71,6 tạ/ha, cao hơn 20,5%; vụ Mùa điện tích gieo trồng chỉ có 391,0 nghìn ha, chiếm 9,2% và năng suất cũng thấp chỉ đạt 48,1 tạ/ha, bằng 81% và san lượng đạt 1.882,5 nghìn tan, chiếm 7,5% (Nguyễn Hoàng Dan va cs, 2014). Ở đồng bằng sông Cửu Long có thể gieo sạ vụ Hè Thu và Đông Xuân trong cơ cau 2 vụ lúa/năm hoặc vụ Mùa sau vụ tôm nước lg. Ở vùng 2 vụ lúa cần chú ý chỉ gieo khi có đủ nước bơm tưới.
Vùng luân canh Lúa — Tôm cần chú ý chỉ gieo sạ khi ruộng được rửa mặn xong. Thời điểm gieo sa lúa cụ thê của các vụ: - Vụ Hè Thu gieo vào cuối tháng Sáu Vụ hè thu bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 8. Đây là vụ lúa mới, ngắn ngày, có diện tích canh tác khoảng 1,1 triệu ha. Vụ lúa này thích hợp gieo trồng các giống lúa như OMCS 2000, OMCS21, ND404, VND 95-19, MTL250, MTL392, MTL44.
- Vụ Mùa gieo vào cuối tháng Mười: Vụ mùa thường gieo trồng vào đầu mùa mưa (tháng 5, tháng 6) và thu hoạch vào cuối mùa mưa (tháng 11). Vụ này thích hợp trồng các giống lúa địa phương dài ngày, thích nghi với nước sâu. Các giống lúa thường được sử dụng trong vụ mùa tiêu biểu như VND404, VND95-19, Nàng thơm chợ dao 5, Nàng Hương 2, MTL250, MTL392, MTL449. - Vụ Đông Xuân thường bắt đầu vào tháng Mười một Thời điểm gieo trồng vụ đông xuân là sau khi vụ mùa kết thúc, thường vào cuối mùa mưa (tháng 11, thang 12) và thu hoạch vào đầu tháng 4.
Đây là vụ lúa mới, ngắn ngày. Những giống lúa chủ lực trong vụ này là: OM 6162, OMCS 2000, OM 5472, OM 6677 và OM 4218, ngoài ra còn có OM 5451, OM 8232, OM 4101, 1.2 Co cấu gieo trồng giống lúa ST24 ở Tiền Giang Việc sử dụng cơ cau giống hợp lý, phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu thời tiết cho từng vùng sản xuất và kết hợp với các biện pháp kỹ thuật canh tác khác như: Bồ trí lịch thời vụ hợp lý, kỹ thuật trồng trọt, chăm sóc, bón phân, tưới nước, bảo vệ thực vật sinh học là một trong những biện pháp kỹ thuật đóng góp không nhỏ vào việc nâng cao năng suất, chất lượng, và 6n định vùng trồng.2 Nhu cầu về dinh dưỡng và vai trò của các loại dinh dưỡng cơ bản đối với cây lúa 1.1 Nhu cầu về dinh dưỡng của cây lúa Nhu cầu đinh dưỡng của cây lúa hay nói cách khác là các chất dinh đưỡng cần thiết, không thê thiêu được đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa bao gồm: đạm (N), lân (P), kali (K), vôi, sắt, kẽm, đồng, magié, mangan, molipden, bo, silic, lưu huỳnh va carbon, Oxy, hydro. Tất cả các chat trên đây (trừ carbon, Oxy, hydro) phân bón đều có thé cung cấp được. Có nhiều chat dinh dưỡng khoáng mà cây lúa cần, nhưng 3 yếu tố dinh dưỡng mà cây lúa cần với lượng lớn là: đạm, lân và kali là những chat cần thiết cho những quá trình sống diễn ra trong cây lúa.
Các nguyên tổ khoáng còn lại, cây lúa cần với lượng rất ít và hầu như đã có sẵn ở trong đất, nếu thiếu thì tuỳ theo điều kiện cụ thé mà bón bồ sung. Các yếu tố dinh dưỡng trong phân bón cung cấp cho cây lúa có vai trò khác nhau, với hàm lượng cung cấp khác nhau trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cây lúa. Vì vậy việc bón phân, bổ sung dinh dưỡng cho lúa người ta đã nghiên cứu và đưa ra những công thức bón phân hợp lý cho từng giống lúa, cho từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển, theo từng điều kiện đất đai, khí hậu cụ thể.1 Lượng dinh dưỡng cây lúa hút dé tạo ra 1 tấn lúa. Chất Lượng dinh duéng lay đi Chất Lượng dinh dưỡng lấy đi (kg) dinh (kg) khi sản xuất 1 tấnlúa — dinh khi sản xuất 1 tấn lúa dưỡng Tổngcộng Hat Rom dưỡng Tổngcộng Hat Romra ra N 22,2, 4,6 7,6 Cu 27,0 20,0 7,0 PaOs Vek 6,0 1,1 Fe 350,0 200,0 150,0 KaO 31,6 352 28,4 Mn 370,0 60,0 310,0 CaO 3,9 0,1 3,8 B 32,0 16,0 16,0 MgO 4,0 2,3 1,7 Si 3 98*_ 41,9* S 0,9 0,6 0,3 Cl 9,7* 4.
Cây lúa hấp thu nhiều đạm nhất ở thời kỳ từ gieo cấy — đẻ nhánh tối đa, hấp thu lân nhiều nhất thời kỳ từ phân hóa dong — trỗ bông, hấp thu kali nhiều nhất thời kỳ từ gieo cay — đẻ nhánh tối da. Dé đạt năng suất 5 tan/vu lượng các chất dinh dưỡng chủ yếu cây lúa hấp thu từ dat và phân bón là 110 kg N, 34 kg P2Os, 156 kg KzO, 23 kg MgO, 20 kg CaO, 5 kg S, 3,2 kg Fe, 2 kg Mn, 200 g Zn, 150 g B, 250 g Si và 25 g Cl (Mai Văn Quyên, 2009). Tuy nhiên không phải bón lượng phân bón trong đất được cây lúa hấp thu hoàn toàn, trong thực tế, cây lúa chỉ hấp thu được khoảng 2/3 - 3/4 lượng phân bón, còn lại bị trôi theo nước, bốc hơi và tồn dư trong đất.1 Vai trò sinh lý của đạm (N) đối với cây lúa Tác dụng rõ ràng nhất của phân đạm là tạo ra thân và lá lúa, vì N là thành phan chủ yếu của protein có trong nguyên sinh chất của tế bào và cũng là thành phần vật chất phi protein (không phải protein như purin, pirimidin, amit, các axit amin). Như vậy đạm tham gia tích cực trong quá trình tạo nên cơ thể cây lúa, đặc biệt thân và lá lúa (Lê Minh Triết, 2005).
Trong các loại phân bón thì đạm (N) là loại phân bón có ảnh hưởng quan trọng nhất đến năng suất va chất lượng cây lúa. N là nguyên tổ tham gia tích cực tạo nên thân lá lúa vì đạm là thành phần chủ yếu của protein. Ở nước ta trên tất cả các loại đất, với các giống lúa và mùa vụ đều phải bón đạm mới đảm bảo cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao. Ruộng thừa đạm sẽ tích lũy nhiều NH," hoặc các sản phẩm trung gian của protein là các axit amin làm cây lúa cao vượt, xanh, mềm yếu dé bị đỗ ngã và sâu bệnh hại tấn công.
Ruộng lúa thiếu đạm thay đồi tùy vào tình hình sinh trưởng và phát triển của cây lúa, thường thì rễ dai, số lượng rễ ít, rễ bị già cdi, chết sớm (Lê Minh Triết, 2005). Nguồn dinh dưỡng đạm (N) chính của cây là các dang đạm (N) vô cơ ở dạng nitrat (NO3’) và amôn (NH,’). Dạng nitrat cây hấp thụ dé dàng hơn dang amôn. Dang amoniac (NH;) cây hấp thụ và chuyển hóa phức tạp hơn vì phụ thuộc vào quá trình trao đối chất.
Theo Mengel đã chứng minh ở cây lúa non chỉ hấp thụ dang NH: mà không hap thụ dạng NHy* (Mengel va cs, 2001). Sử dụng phân đạm đúng cách không những giúp tăng năng suất, chất lượng cây trồng mà còn giảm chi phí sản xuất. Phan Ure có tỷ lệ đạm cao nhất (40 — 48% N), có khả năng thích nghỉ rộng, phát huy tác dụng trên nhiều loại đất và các loại cây trồng khác nhau, thích hợp trên đất chua phèn. Ure được dùng dé bón thúc, có thể pha loãng với nồng độ 0,5 — 1% dé phun qua lá (Nguyễn Như Hà, 2012).