phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn sẽ đƣợc chia thành 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài. Chƣơng 2:Cơ sở lý luận về thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại địa phƣơng. Chƣơng 3: Thực trạng thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại Hƣng Yên giai đoạn 2011 – 2014. Chƣơng 4: Một số giải pháp tăng cƣờng thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào Hƣng Yên đến 2020.
7 Chƣơng 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TẠI ĐỊA PHƢƠNG 2.1 Một số vấn đề lý luận chung về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 2. Khái niệm và đặc điểm của FDI 2. Khái niệm về FDI Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI ) đã không còn xa lạ với hoạt động kinh tế của các quốc gia. Đó là hoạt động thƣơng mại quốc tế không thể thiếu trong quá trình hội nhập và toàn cầu hoá.
Sự ra đời của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là kết quả tất yếu của quá trình quốc tế hóa và phân công lao động quốc tế. Không có một quốc gia nào, dù lớn hay nhỏ, dù phát triển theo con đƣờng tƣ bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa lại không cần đến nguồn vốn này và đó là nguồn lực quốc tế quan trọng cần khai thác để hòa nhập vào cộng đồng quốc tế. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về FDI, nhƣ : Theo quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là số vốn đầu tƣ đƣợc thực hiện để thu lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tƣ. Mục đích của nhà đầu tƣ là giành đƣợc tiếng nói có hiệu quả trong quản lý DN đó.
Theo tổ chức thƣơng mại thế giới (WTO): đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài xảy ra khi một nhà đầu tƣ từ một nƣớc (chủ đầu tƣ) có đƣợc một tài sản ở nƣớc khác (nƣớc nhận đầu tƣ) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phƣơng diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trƣờng hợp, cả nhà đầu tƣ lẫn tài sản mà ngƣời đó quản lý ở nƣớc ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trƣờng hợp đó, nhà đầu tƣ thƣờng hay đựoc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản đƣợc gọi là "công ty con'' hay chi nhánh công ty.
Tại Việt Nam, theo Luật đầu tƣ 2014: " FDI là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bằng bất kì tài sản nào để tiến hành các hoạt 8 động đầu tư theo quy định của luật này.", trong đó nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đƣợc hiểu là tổ chức kinh tế, cá nhân nƣớc ngoài đầu tƣ vào Việt Nam. Nhƣ vậy, có thể hiểu đầu tư trực tiếp nước ngoài là loại hình di chuyển vốn quốc tế, trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thơi là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn. Sự ra đời của đầu tư trực tiếp nước ngoài là kết quả tất yếu của quá trình quốc tế hóa và phân công lao động quốc tế. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài Hoạt động đầu tƣ nƣớc ngoài là hoạt động di chuyển vốn của các cá nhân và tổ chức nhằm xây dựng các cơ sở, chi nhánh ở nƣớc ngoài và làm chủ toàn bộ hay từng phần cơ sở đó.
Xuất phát từ khái niệm trên, đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài có những đặc điểm sau: - Các chủ đầu tƣ phải góp một số vốn tối thiểu vào vốn pháp định, tùy theo luật đầu tƣ nƣớc ngoài mỗi nƣớc (ở Việt Nam, khi liên doanh, vốn góp nƣớc ngoài > 30%). - Quyền quản lý xí nghiệp phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp. Với doanh nghiệp 100% ngƣời nƣớc ngoài có toàn quyền quản lý. - Lợi nhuận của nhà đầu tƣ phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh và phân chia theo tỷ lệ góp vốn.
- Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đƣợc thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới,mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc sát nhập các doanh nghiệp với nhau.(M& A) - Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài không chỉ gắn liền với di chuyển vốn mà còn gắn liền với chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm quản lý và tạo ra thị trƣờng mới cho cả phía đầu tƣ và phía nhận đầu tƣ. - Đầu tƣ nƣớc ngoài hiện nay gắn liền với các hoạt động kinh doanh quốc tế của các công ty đa quốc gia và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài Để phân biệt các hình thức đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài có rất nhiều tiêu chí khác nhau. Có thể hiểu hình thức đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là cách các nhà đầu tƣ 9 chuyển đổi quyền sở hữu vốn ( tiền hoặc bất cứ tài sản nào ) thành quyền sở hữu và quản lý hoặc kiểm soát kinh doanh ở một nƣớc khác.
Nhƣ vậy, hình thức vốn FDI là cách thức đƣa vốn bên ngoài vào nƣớc tiếp nhận đầu tƣ, và nó phụ thuộc vào các chính sách, định hƣớng thu hút FDI của các nƣớc tiếp nhận đầu tƣ. Luật đầu tƣ 2014 quy định hình thức vốn FDI tại Việt Nam nhƣ sau: 2. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài là hình thức truyền thống và phổ biến nhất. Với hình thức này, doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài nhƣng phải chịu sự kiểm soát của pháp luật nƣớc sở tại (nƣớc nhận đầu tƣ ).
Doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài vẫn là một pháp nhân kinh tế của nƣớc sở tại, nhƣng thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, nhà đầu tƣ phái tự quản lý, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài bên cạnh chú trọng khai thác những lợi thế của địa điểm đầu tƣ mới, họ còn nỗ lực áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ và những kinh nghiệp tại các nƣớc khác để đạt đƣợc kết quả kinh doanh cao nhất. Hiện nay, các công tƣ đa quốc gia thƣờng đầu tƣ theo hình thức này, họ thành lập những công ty con của các công ty mẹ xuyên quốc gia tại mỗi nƣớc họ đến đầu tƣ. Hình thức 100% vốn nƣớc ngoài có ƣu điểm đối với cả nhà đầu tƣ nƣớc ngoài và nƣớc tiếp nhận đầu tƣ.
Đối với nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, hình thức này họ có thể chủ động đầu tƣ bằng nhiều phƣơng pháp và có quyền quyết định các vấn đề trong kinh doanh nhằm đạt hiệu quả kinh doanh cao. Đối với nƣớc tiếp nhận đầu tƣ thì có ƣu điểm là không cần bỏ vốn, công nghệ, thu ngay đƣợc tiền đất, thuế và giải quyết một khối lƣợng việc làm cho ngƣời lao động. Tuy nhiên, hình thức này cũng có hạn chế của nó nhƣ: nƣớc chủ nhà khó có thể quản lý đƣợc nhà đầu tƣ, khó tiếp thu đƣợc trình độ công nghệ và quản lý từ các doanh nghiệp này. Doanh nghiệp liên doanh Có thể nói đây là hình thức phổ biến trên thế giới, đặc biệt trong giai đoạn đầu thu hút FDI.
Doanh nghiệp liên doanh đƣợc thành lập trên cơ sở hợp đồng liên 10 doanh ký giữa bên hoặc các bên nƣớc chủ nhà với bên hoặc các bên nƣớc ngoài để đầu tƣ kinh doanh tại nƣớc sở tại. Hình thức này tạo nên pháp nhân đồng sở tại tại nƣớc nhận đầu tƣ. Hình thức DNLD có nhiều ƣu điểm đối với cả nhà đầu tƣ và nƣớc tiếp nhận đầu tƣ. Với nƣớc tiếp nhận vốn đầu tƣ, hình thức này góp phần giải quyết tình trạng thiếu vốn, tranh thủ đƣợc nguồn vốn lại đƣợc chia sẻ rủi ro, có cơ hội để đổi mới công nghệ, đa dạng hoá sản phẩm; tạo cơ hội việc làm cho ngƣời lao động, có khả năng học hỏi tiếp thu trình độ quản lý từ nƣớc ngoài; và Nhà nƣớc có thể kiểm soát đƣợc đối tác nƣớc ngoài.
Đối với nhà đầu tƣ, đây là hình thức thâm nhập vào thị trƣờng một cách hợp pháp và hiệu quả khi chƣa am hiểu kỹ về nƣớc tiếp nhận đầu tƣ, tạo ra thị trƣờng mới, mở rộng phát triển. Tuy nhiên, hình thức này cũng thể hiện nhƣợc điểm của mình, đó là dễ xảy ra những mâu thuẫn trong quá trình hoạt động, quản lý doanh nghiệp. Do sự kết hợp giữa các quốc gia khác nhau, phong tục tập quán, chế độ chính trị… dẫn đến sự khác nhau về quan điểm và đƣờng lối trong kinh doanh. Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) Hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tƣ đƣợc ký giữa các nhà đầu tƣ nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân.
Hình thức BCC có ƣu điểm là giải quyết tình trạng thiếu vốn, công nghệ; tạo thị trƣờng mới; thu đƣợc lợi nhuận tƣơng đối ổn định. Nhƣng nƣớc tiếp nhận đầu tƣ lại không học hỏi đƣợc kinh nghiệm kinh doanh, quản lý… Hình thức BCC không thành lập pháp nhân riêng nên về phía nhà đầu tƣ, họ khó kiểm soát đƣợc hiệu quả các hoạt động kinh doanh. Hình thức đầu tƣ này là hình thức đơn giản nhất, không đòi hỏi thủ tục pháp lý phức tạp nên thƣờng đƣợc lựa chọn trong giai đoạn đầu thu hút FDI. Các hình thức khác Bên cạnh các hình thức trên, còn có các hình thức nhƣ: BOT, BTO, BT.
- BOT là hình thức đầu tƣ đƣợc thực hiện theo hợp đồng ký kết giữa cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền và nhà đầu tƣ nƣớc ngoài để xây dựng, kinh doanh công 11 trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tƣ chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nƣớc sở tại. - BTO, BT là các hình thức phái sinh của BOT, thay đổi các quy trình đâu tƣ, khai thác và chuyển giao giữa nhà đầu tƣ và nƣớc sở tại. Các hình thức đầu tƣ này có đặc điểm cơ bản đó là một bên ký kết là Nhà nƣớc, đầu tƣ vào các công trình kết cấu hạ tầng, và đến thời hạn phải chuyển giao không bồi hoàn cho Nhà nƣớc sở tại. Với các hình thức này, các nƣớc tiếp nhận thu hút vốn đầu tƣ vào những dự án kết cấu hạ tầng, đòi hỏi lƣợng vốn cao, thời gian thu hồi vốn lâu… Các nƣớc sở tại sẽ có những công trình hoàn chỉnh, tạo điều kiện phát triển kinh tế.
Tuy nhiên, các hình thức này cũng có rủi ro cao, và nƣớc chủ nhà khó tiếp nhận kinh nghiệm, công nghệ.