ĐẶT VẤN ĐỀ Ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự phát triển vƣợt bậc của công nghệ thông tin (CNTT) và đặc biệt là Internet đã mang lại những lợi ích to lớn cho toàn nhân loại. Sự phát triển mạnh mẽ của Internet giúp mọi ngƣời dễ dàng gần nhau hơn, tiếp cận với những thông tin phong phú, đa dạng và cập nhật hàng ngày, hàng giờ. Những tiện ích mà Internet mang lại đã đáp ứng đƣợc phần lớn nhu cầu học tập, giải trí của con ngƣời. Chính vì vậy, sức hút của Internet kéo theo sự tăng trƣởng nhanh chóng số lƣợng ngƣời sử dụng Internet trên phạm vi toàn cầu.
Đƣợc đánh giá là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trƣởng Internet nhanh nhất trên thế giới, Internet đã góp phần đƣa Việt Nam tiến nhanh hơn vào con đƣờng hội nhập, giúp ngƣời dân Việt Nam trở thành những “công dân quốc tế” bình đẳng trên mạng. Sau 15 năm gia nhập mạng Internet toàn cầu, tính tới tháng 11/2012, cả nƣớc đã có hơn 31,1 triệu ngƣời dùng Internet, chiếm 35,58% dân số[16]. Internet đã vƣợt qua báo, tạp chí và radio để trở thành phƣơng tiện tiếp cận thông tin đƣợc sử dụng phổ biến thứ hai ở Việt Nam, chỉ sau ti vi. Internet phù hợp với mọi đối tƣợng nhƣng đối tƣợng chủ yếu sử dụng Internet tại Việt Nam là thanh thiếu niên (TTN) trong độ tuổi 15 – 29, trong đó phần lớn là các bạn học sinh, sinh viên[14, 35].
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích thu đƣợc, Internet hiện cũng là nguyên nhân đáng lo ngại cho cơ quan chức năng và các bậc phụ huynh khi ngày càng nhiều học sinh phụ thuộc vào Internet, lợi dụng Internet để thực hiện những hành vi xấu nhƣ: tung ảnh sex, bạo lực, lừa đảo… Việc sử dụng Internet quá nhiều còn kéo theo hậu quả nghiêm trọng về mặt sức khỏe, cả về thể chất lẫn tinh thần nhƣ: suy giảm thể chất, mỏi mắt, rối loạn tầm nhìn, béo phì và nặng nề hơn là nguy cơ mắc chứng trầm cảm [15, 48, 65]. Huyện Kim Thành là một huyện nông thôn, nằm ở phía Đông tỉnh Hải Dƣơng. Cũng chịu tác động của sự phát triển CNTT, số lƣợng thuê bao Internet tại nhà hay các địa chỉ truy cập wi-fi công cộng trong những năm gần đây xuất hiện ngày càng nhiều. Các dịch vụ Internet đã tác động không nhỏ đến đời sống, văn hóa của ngƣời dân trong huyện, điển hình là trong lĩnh vực quản lý thông tin.
Tuy nhiên, bên cạnh tác động tích cực, những ảnh hƣởng tiêu cực của Internet trên mặt trận an ninh văn 2 hóa tƣ tƣởng vẫn tồn tại. Kết quả kiểm tra của Công an huyện Kim Thành trong năm 2012 và 2013 đã phát hiện và xử phạt 4 đại lý kinh doanh Internet vi phạm truy cập vào các trang web mang nội dung độc hại. Đáng lƣu ý, phần lớn đối tƣợng (86%) truy cập các nội dung độc hại trên Internet đều là học sinh trong độ tuổi trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT)[28]. Nằm ở trung tâm thị trấn Phú Thái, trung tâm kinh tế – văn hóa – xã hội của huyện Kim Thành, giáo viên và học sinh trƣờng THPT Kim Thành có nhiều điều kiện thuận lợi để tiếp cận với khoa học CNTT.
Internet đã góp phần tăng chất lƣợng giảng dạy của các thầy cô và là sợi dây kết nối tình cảm thầy trò qua các mạng xã hội nhƣ Facebook hay Yahoo. Nhƣng Internet và các dịch vụ giải trí của nó cũng là nguyên nhân làm gia tăng tỷ lệ học sinh vi phạm kỷ luật. Năm học 2012 – 2013, đã có 3 trƣờng hợp trốn học và đánh nhau do các nguyên nhân xuất phát từ việc sử dụng Internet[26]. Tỷ lệ học sinh mắc các tật khúc xạ của nhà trƣờng cũng ngày càng tăng.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này do chịu một phần tác động từ việc sử dụng máy tính, điện thoại di động (ĐTDĐ) cho mục đích truy cập Internet. Nhƣ vậy, vấn đề đặt ra cho các cơ quan chức năng, gia đình và nhà trƣờng là phải có cái nhìn toàn diện về thói quen sử dụng Internet của các em. Cũng nhƣ phải biết đƣợc những yếu tố nào tác động đến những thói quen đó để có biện pháp giáo dục, quản lý và xây dựng một cộng đồng cƣ dân mạng trọng sạch, lành mạnh, giảm thiểu các nguy cơ về sức khỏe cũng nhƣ tệ nạn xã hội. Nghiên cứu của tôi về “Thực trạng, ảnh hưởng và một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng của học sinh trường THPT Kim Thành, Hải Dương năm 2014” là nghiên cứu đầu tiên tìm hiểu vấn đề này đƣợc thực hiện tại huyện Kim Thành.
Đây cũng là một trong số những ít nghiên cứu về tình hình sử dụng Internet của VTN ở khu vực nông thôn Việt Nam. Nghiên cứu đã đƣợc tiến hành từ tháng 11/2013 đến tháng 4/2014 trên cả 3 khối lớp 10, 11 và 12 của trƣờng THPT Kim Thành năm học 2013 – 2014. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1) Mô tả thực trạng sử dụng Internet của học sinh trƣờng Trung học phổ thông Kim Thành, Hải Dƣơng năm 2014. 2) Mô tả ảnh hƣởng của Internet tới cuộc sống, học tập và sức khỏe theo kết quả tự báo cáo của học sinh trƣờng Trung học phổ thông Kim Thành, Hải Dƣơng năm 2014.
3) Mô tả một số yếu tố liên quan đến thời gian sử dụng Internet của học sinh trƣờng Trung học phổ thông Kim Thành, Hải Dƣơng năm 2014. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. 1 Một số khái niệm liên quan Internet Internet (International Net Work) là hệ thống thông tin toàn cầu sử dụng giao thức Internet (Internet Protocol – IP) và tài nguyên Internet để cung cấp các dịch vụ và ứng dụng khác nhau cho ngƣời sử dụng[20]. Cụ thể hơn, Internet là một tập hợp của các máy tính đƣợc liên kết, nối lại với nhau thông qua hệ thống dây cáp mạng và đƣờng điện thoại trên toàn thế giới với mục đích trao đổi, chia sẻ dữ liệu và thông tin.
Bất cứ ngƣời nào trên hệ thống cũng có thể tiếp cận và đi vào xem thông tin từ bất cứ một máy tính nào trên hệ thống này hoặc hệ thống khác[25]. Ngƣời sử dụng Internet là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng sử dụng dịch vụ với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truy nhập Internet hoặc điểm truy nhập Internet công cộng để sử dụng các ứng dụng và dịch vụ trên Internet[21]. Thuật ngữ “sử dụng Internet” là việc ngƣời dùng có kết nối mạng Internet, truy cập và sử dụng các ứng dụng, dịch vụ trên Internet thông qua các thiết bị hỗ trợ. Sử dụng Internet quá mức (Excessive Internet Use) Thuật ngữ “sử dụng Internet quá mức” đƣợc Artemis và các cộng sự sử dụng năm 2008 với các tiêu chí: mất kiểm soát, sử dụng Internet gây tốn nhiều thời gian, có thể dẫn tới những khó khăn về xã hội, nghề nghiệp và tài chính[62].
Tiêu chí để xác định sử dụng Internet hiện nay còn nhiều tranh cãi. Một số nghiên cứu sử dụng mức thời gian trên 20 giờ(h)/tuần (tức là trên 3h/ngày) là một trong các tiêu chí để xác định tình trạng sử dụng Internet quá mức[9, 46, 62]. Có nghiên cứu khác sử dụng mức thời gian trên 5h/ngày để đánh giá tỷ lệ sử dụng Internet quá mức[53]. Nghiện Internet (Internet Addiction) Nghiện Internet là một vấn đề có thể đƣợc nhìn nhận ở trong các xã hội và các nền văn hóa khác nhau.
Hầu hết các nhà nghiên cứu đều đồng ý rằng, nghiện Internet có thể đƣợc định nghĩa là một sự phụ thuộc về tinh thần và vật lý trên việc sử dụng Internet. Cụ thể hơn, nó có nghĩa là một điều kiện có liên quan đến việc cai nghiện, sức chịu đựng, và sự ám ảnh đối với Internet. Hơn nữa, những ngƣời này sẽ 5 tự nhận thức đƣợc những những dấu hiệu trên và sẽ khiến cho ngƣời khác cảm thấy lo lắng vì họ[44]. Trong lĩnh vực nghiên cứu nghiện Internet, có nhiều bộ công cụ khác nhau để đánh giá mức độ sử dụng Internet nhƣng phần lớn đều đƣợc phát triển dựa trên các tiêu chuẩn trong Hƣớng dẫn chẩn đoán và thống kê về rối loạn tâm thần (The Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, 4th edition – DSM-IV, 1994).
Tiến sỹ Kimberly Young (1998) đã tuyên bố rằng thuật ngữ “nghiện” có thể đƣợc áp dụng cho việc sử dụng Internet vì nghiện Internet cũng có những đặc điểm giống nhƣ nghiện thuốc lá và rƣợu. Bà đã giới thiệu 2 thang đo nghiện Internet, một thang đo gồm 8 câu hỏi để đánh giá tình trạng bệnh lý nghiện Internet và thang đo gồm 20 câu hỏi trên thang điểm 5 Likert[18, 44]. Thang đo xác định tình trạng nghiện Internet bao gồm các dấu hiệu: sự ám ảnh với Internet; nói dối hoặc che giấu hành vi sử dụng Internet; không tuân thủ các giới hạn về thời gian; mất sự quan tâm, thích thú với các hoạt động khác; trốn tránh xã hội, gia đình và bạn bè; rối loạn tâm lý sử dụng Internet; sử dụng Internet nhƣ mọt sự giải thoạt; tiếp tục sử dụng bất chấp hậu quả. Nhiều nghiên cứu đã thực hiện gần đây về nghiện Internet đều tham khảo đo lƣờng nghiện Internet của Kimberly Young.
Do đó, khái niệm nghiện Internet này hiện đƣợc sử dụng rộng rãi và đƣợc chấp nhận bởi hầu hết các bác sĩ lâm sàng và viện sĩ hàn lâm khoa học[44, 69]. Vị thành niên và thanh niên Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), “vị thành niên” (VTN) là thời kỳ chuyển tiếp giữa thời niên niên thiếu và trƣởng thành trong độ tuổi 10 – 19, “thanh niên” (TN) là nhóm tuổi từ 15 – 24 và khái niệm “thanh thiếu niên” đƣợc hiểu là sự kết hợp trong độ tuổi từ 10 – 24[3].2 Thực trạng sử dụng Internet 1.1 Lịch sử phát triển của Internet Nền tảng cho sự ra đời khái niệm Internet đƣợc phát triển bởi 3 cá nhân và một hội thảo nghiên cứu. Mỗi tác nhân trên đã thay đổi cách suy nghĩ về công nghệ qua sự phán đoán chính xác tƣơng lai của nó[8]. 6 Vannevar Bush viết bản mô tả tƣởng tƣợng đầu tiên về những công dụng tiềm tàng của công nghệ thông tin với mô tả của hệ thống thƣ viện tự động “memex”.
Norbert Wiener đã phát minh ra ngành Điều khiển học, truyền cảm hứng cho các nhà nghiên cứu sau này tập trung vào việc sử dụng công nghệ để mở rộng khả năng của con ngƣời. Hội thảo về trí tuệ nhân tạo năm 1956 ở Dartmouth đã đúc kết đƣợc khái niệm: công nghệ đã cải tiến với tốc độ cấp số mũ, và đã đƣa ra sự cân nhắc nghiêm túc đầu tiên về hậu quả. Marshall McLuhan đƣa ra ý tƣởng một làng toàn cầu liên kết với nhau bởi một phần hệ thống thần kinh điện tử của nền văn minh nhân loại.