Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Huy động vốn đầu tư ngoài ngân sách nhà nước để thực hiện các dự án xây dựng đường cao tốc ở Việt Nam" được thực hiện trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa với mục tiêu chiến lược cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông, đặc biệt là mạng lưới đường bộ cao tốc, được xác định là điều kiện vật chất tiền đề, giữ vai trò huyết mạch đối với tăng trưởng kinh tế xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Theo các định hướng phát triển mạng lưới giao thông đường bộ, Việt Nam đặt mục tiêu xây dựng gần 6.000 km đường cao tốc với nhu cầu vốn ước tính khoảng gần 50 tỷ USD. Tuy nhiên, khả năng cân đối từ ngân sách nhà nước hàng năm chỉ đáp ứng được một phần hạn chế (ngân sách nhà nước dành khoảng 10% GDP cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật nói chung, trong đó mức chi trực tiếp cho hạ tầng giao thông chỉ đạt khoảng 3% GDP, trong khi nhu cầu thực tế đòi hỏi phải huy động từ 40% đến 50% tổng nhu cầu vốn từ các nguồn ngoài ngân sách). Việc phụ thuộc chủ yếu vào nguồn vốn đầu tư công truyền thống dẫn đến tình trạng nhiều dự án giao thông bị đình trệ, dở dang, tạo áp lực lớn lên nợ công. Do đó, việc tìm kiếm cơ chế thu hút các nguồn lực tài chính từ khu vực tư nhân và doanh nghiệp trở thành yêu cầu cấp thiết.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận vấn đề đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật nói chung hoặc mới dừng lại ở việc giới thiệu khung lý thuyết hình thức hợp tác công tư (PPP) trong các lĩnh vực viễn thông, công nghệ thông tin. Chưa có công trình khoa học nào đi sâu phân tích toàn diện cơ chế huy động vốn ngoài ngân sách chuyên biệt cho mạng lưới đường bộ cao tốc, đặc biệt là việc làm rõ các điều kiện thực tế, rào cản thể chế và các nhân tố thúc đẩy sự sẵn sàng tham gia góp vốn của khu vực doanh nghiệp tư nhân vào loại hình hàng hóa công cộng đặc thù này.

Mục đích nghiên cứu của luận án gồm ba nội dung:

  1. Hệ thống hóa và góp phần luận chứng các vấn đề lý luận cơ bản có liên quan đến huy động vốn đầu tư ngoài ngân sách nhà nước để thực hiện các dự án xây dựng đường cao tốc ở Việt Nam.
  2. Phân tích thực trạng huy động vốn ngoài ngân sách nhà nước để thực hiện các dự án xây dựng đường cao tốc ở Việt Nam thời gian vừa qua.
  3. Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường huy động vốn ngoài ngân sách nhà nước để xây dựng các dự án đường cao tốc ở Việt Nam trong thời gian tới.

Văn bản luận án xác định sáu câu hỏi nghiên cứu:

  1. Có các hình thức huy động vốn ngoài ngân sách nhà nước nào để thực hiện các dự án xây dựng đường cao tốc?
  2. Có bài học kinh nghiệm nào của các nước trên thế giới cần và có thể áp dụng được trong huy động vốn ngoài ngân sách nhà nước để xây dựng đường cao tốc ở Việt Nam?
  3. Hành lang pháp lý và các điều kiện áp dụng các hình thức đầu tư để huy động vốn ngoài ngân sách cho xây dựng và phát triển đường cao tốc ở Việt Nam?
  4. Những bất cập trong hệ thống các văn bản pháp lý về áp dụng hình thức hợp tác công tư (PPP) trong huy động vốn ngoài ngân sách để thực hiện các dự án xây dựng đường cao tốc ở Việt Nam?
  5. Các vấn đề phát sinh từ thực tiễn áp dụng hình thức hợp tác công – tư (PPP) để huy động vốn ngoài ngân sách thực hiện các dự án đầu tư xây dựng đường cao tốc tại một số dự án là gì?
  6. Làm thế nào để có thể khuyến khích các tổ chức và cá nhân sẵn sàng tham gia góp vốn xây dựng và phát triển đường cao tốc ở Việt Nam trong thời gian tới?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn về việc huy động nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước phục vụ xây dựng và phát triển đường cao tốc tại Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát thực tế hệ thống đường bộ cao tốc Việt Nam, tập trung chuyên sâu vào ba dự án điển hình gồm: Dự án đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng, Dự án đường cao tốc Cầu Giẽ – Ninh Bình và Dự án đường cao tốc Láng – Hòa Lạc; đồng thời khảo sát kinh nghiệm quốc tế tại Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Vương quốc Anh, Indonesia và Philippines.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập dữ liệu và số liệu tình hình huy động vốn giai đoạn 2006 – 2011, nghiên cứu tiến trình dự án từ khi chuẩn bị đến thời điểm thực hiện và đề xuất giải pháp cho giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn sau năm 2030.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước huy động qua các hình thức hợp tác công tư (PPP) như BOT (Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao), BTO (Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh), BT (Xây dựng – Chuyển giao) gắn liền với hệ thống văn bản pháp lý quy định; luận án không đi sâu vào nguồn vốn tín dụng vay từ các ngân hàng thương mại độc lập.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến cơ chế đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và mô hình hợp tác công tư:

Về các nghiên cứu quốc tế:

  • Yescombe (2007) phân tích cơ sở lý thuyết, khái niệm và đặc điểm của mô hình PPP, làm rõ các yếu tố tác động và vai trò của Nhà nước trong sửa chữa thất bại thị trường thông qua bốn phương thức: sử dụng cơ chế giá, thuế hoặc trợ cấp; ủy quyền cung cấp hàng hóa công cho khu vực tư nhân; trực tiếp cung cấp hàng hóa công; hỗ trợ khu vực tư nhân tiếp cận bình đẳng các dòng vốn. Tác giả cũng chỉ ra nguy cơ tổn thất phúc lợi xã hội khi tư nhân thu phí dịch vụ công không thuần túy nhằm giải quyết tắc nghẽn giao thông.
  • Duncan (1948) với lý thuyết sự lựa chọn công cộng (public choice theory) chỉ ra rằng chính sách công bị chi phối bởi lợi ích của các cá nhân hoặc nhóm hoạch định chính sách, do đó hiệu quả chi tiêu công phụ thuộc vào điều kiện thể chế, quy trình cấp phát ngân sách và mức độ phân cấp quản lý.
  • Nghiên cứu của Kijiyokora (Giám đốc Công ty Đường cao tốc miền Trung Nhật Bản) đúc kết tiến trình bốn giai đoạn phát triển mạng lưới đường cao tốc tại Nhật Bản: áp dụng chính sách thuế xăng dầu từ năm 1950 (năm 2005 thu được 3.000 tỷ Yên để tái đầu tư hạ tầng giao thông), thành lập công ty nhà nước quản lý, thiết lập cơ chế quỹ vốn chung và thu phí đường cao tốc ở mức cao gấp ba đến bốn lần mức phí tại Pháp và Hoa Kỳ.
  • Báo cáo và Sổ tay Hợp tác công tư của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) phân tích cấu trúc, thiết kế và quản trị dự án PPP, nhấn mạnh thực tế các dự án PPP tập trung thành công ở một số quốc gia như Brazil, Trung Quốc, Ấn Độ, Ba Lan và Nga. Báo cáo cung cấp số liệu giai đoạn 2000 – 2009 tại khu vực Đông Á và Thái Bình Dương: lĩnh vực năng lượng thu hút 35% tổng vốn PPP (63 tỷ USD), viễn thông thu hút 30% (54 tỷ USD), và lĩnh vực giao thông thu hút 25% (46 tỷ USD).
  • Smith (2008) nghiên cứu các dự án PPP xây dựng kết cấu hạ tầng tại các nước đang phát triển giai đoạn 1990 – 2006, rút ra kết luận nguyên nhân chính dẫn đến sự thất bại của các dự án là do thiếu sự ủng hộ và cam kết chính trị rõ ràng, ổn định từ phía chính phủ.
  • Kinh nghiệm thể chế từ Ba Lan với việc ban hành Luật số 17 năm 2005 về liên danh Công – Tư làm cơ sở pháp lý vững chắc giải quyết bài toán thiếu vốn phát triển hạ tầng.

Về các nghiên cứu trong nước:

  • Bùi Minh Huấn và Chu Xuân Nam trong giáo trình "Tổ chức quản lý đầu tư và xây dựng công trình Giao thông" phân tích cơ sở khoa học của hoạt động đầu tư, quản lý nhà nước về vốn xây dựng giao thông và quản trị doanh nghiệp, nhưng chưa đưa ra cơ chế thu hút vốn ngoài ngân sách cho đường bộ cao tốc.
  • Công trình dịch thuật của Vũ Cương, Hoàng Thanh Dương, Phan Minh Tuệ, Nguyễn Anh Tuấn (2001) với tác phẩm "Tài chính cho tăng trưởng – lựa chọn chính sách trong một thế giới đầy biến động" phân tích kinh tế lượng về chính sách tài chính quốc tế nhưng chưa đề cập giải pháp tài chính cho đường cao tốc.
  • Đề án cấp Bộ "Mô hình PPP cho Việt Nam" (2010) của Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu điều kiện thực hiện mô hình PPP, phân tích các phương án áp dụng tại Việt Nam song chưa định hình phương án cụ thể cho mạng lưới đường cao tốc.
  • Luận văn của Nguyễn Đức Quyết nghiên cứu điều kiện và giải pháp PPP nhưng chỉ giới hạn phạm vi áp dụng tại Công ty HIPT thuộc lĩnh vực thông tin và truyền thông.
  • Các tài liệu văn kiện chính sách như Báo cáo của Thủ tướng Chính phủ tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa XII (ngày 22/10/2007) chỉ đạo danh mục gần 30 dự án giao thông chiến lược đến năm 2020 thực hiện qua các hình thức BOT, BTO, BT; Quyết định 71 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức PPP (do Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng với sự trợ giúp của Ngân hàng Thế giới - WB).
  • Hai hội thảo khoa học lớn: Hội thảo "Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng" (ngày 28/10/2010 do Văn phòng Trung ương Đảng và Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức tại Hà Nội) và Hội thảo "Chính sách tài chính phát triển cơ sở hạ tầng" (tháng 5/2011 do Viện Chiến lược và Chính sách tài chính tổ chức tại Nghệ An).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Các nghiên cứu trước đây chưa đi sâu vào đặc thù tài chính của dự án đường bộ cao tốc (vốn đầu tư ban đầu lớn, thu hồi vốn kéo dài, rủi ro lưu lượng phương tiện). Luận án xác định khoảng trống cần giải quyết là xây dựng khung phân tích đánh giá sự sẵn sàng tham gia góp vốn của các doanh nghiệp, khảo sát thực tế tại các dự án cụ thể ở Việt Nam giai đoạn 2006 – 2011, phân tích rõ bất cập của khung pháp lý hiện hành, từ đó đề xuất hoàn thiện thể chế hướng tới việc ban hành Luật PPP và thành lập cơ quan quản trị PPP chuyên trách.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Lý thuyết, khái niệm và khung phân tích:

  • Cơ sở lý thuyết kinh tế: Luận án dựa trên lý thuyết về tích lũy và vốn của Adam Smith (tiết kiệm là nguyên nhân trực tiếp hình thành vốn, chuyển hóa giá trị tích lũy vào quá trình tái sản xuất xã hội); lý thuyết hàng hóa công cộng (public goods) phân định giữa hàng hóa công cộng thuần túy do nhà nước đảm trách và hàng hóa công cộng không thuần túy có thể xã hội hóa cung ứng; lý thuyết sự lựa chọn công cộng (public choice theory) của Duncan (1948).
  • Khái niệm công cụ: Vốn đầu tư ngoài ngân sách nhà nước xây dựng đường cao tốc được định nghĩa là toàn bộ tài sản (hữu hình, vô hình và tài sản tài chính) huy động từ các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong và ngoài nước nhằm kiến tạo mạng lưới đường cao tốc quốc gia mà không sử dụng vốn từ ngân sách nhà nước và không làm gia tăng nợ công trực tiếp.
  • Khung phân tích sự sẵn sàng góp vốn của doanh nghiệp: Tác giả xây dựng mô hình gồm ba nhóm nhân tố tác động trực tiếp đến sự sẵn sàng tham gia của khu vực tư nhân:
    1. Nhóm nhân tố nhận thức: Sự ủng hộ của ban quản trị cấp cao trong doanh nghiệp đối với dự án cao tốc; mức độ tiếp nhận mô hình PPP của ban điều hành; sự đồng thuận và quyết tâm của toàn thể doanh nghiệp.
    2. Nhóm nhân tố kỹ thuật: Thời gian và chi phí giải phóng mặt bằng; thời gian hoàn vốn của dự án; khả năng tiếp cận và huy động các nguồn tài chính trên thị trường vốn.
    3. Nhóm nhân tố ngữ cảnh: Tính minh bạch và đầy đủ của căn cứ pháp lý về PPP; sự ổn định của cơ chế, chính sách vĩ mô; bối cảnh tăng trưởng kinh tế và các xu hướng luân chuyển dòng vốn quốc tế.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study), phương pháp phân tích - tổng hợp và so sánh đối chiếu giữa lý luận với thực tiễn.
  • Phương pháp nghiên cứu tình huống: Luận án tiến hành khảo sát thực địa và phân tích hồ sơ quản lý tại ba dự án đường bộ cao tốc trọng điểm gồm: Cao tốc Láng – Hòa Lạc, Cao tốc Cầu Giẽ – Ninh Bình, và Cao tốc Hà Nội – Hải Phòng.
  • Kỹ thuật thu thập dữ liệu định tính: Tác giả thực hiện 21 cuộc phỏng vấn sâu thông qua bảng câu hỏi khảo sát bán cấu trúc (được thiết kế dựa trên khung lý thuyết ba nhóm nhân tố):
    • 11 cuộc phỏng vấn với đại diện lãnh đạo các doanh nghiệp dự án liên quan đến ba công trình được chọn.
    • 10 cuộc phỏng vấn với đại diện lãnh đạo chính quyền các địa phương nơi có dự án đường cao tốc đi qua.
  • Nguồn tư liệu và dữ liệu:
    • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Giao thông Vận tải (các Nghị định số 87/CP ngày 05/8/1997, Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 về quy chế ODA; Quyết định 71 về quy chế thí điểm PPP).
    • Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội thời kỳ 2001 – 2010.
    • Báo cáo thống kê của Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC), Bộ Giao thông Vận tải và Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
    • Các tài liệu nghiên cứu, thống kê quốc tế từ Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB).

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học về huy động vốn cho cơ sở hạ tầng. Tác giả chỉ ra rằng tại các quốc gia công nghiệp phát triển, quá trình xã hội hóa đầu tư hạ tầng đã hình thành từ nhiều thập kỷ nhằm giải quyết bài toán thâm hụt ngân sách nhà nước trước đòi hỏi nâng cao chất lượng dịch vụ công.

  • Về lý luận quốc tế, các nghiên cứu tập trung làm rõ khái niệm PPP, sự phân chia rủi ro giữa nhà nước và tư nhân (Yescombe, 2007), cũng như nền tảng thể chế chi tiêu công (Duncan, 1948). Nghiên cứu thực tiễn chỉ ra PPP thành công phụ thuộc vào cam kết chính trị của chính phủ (Smith, 2008) và khuôn khổ pháp lý chuyên biệt như Luật số 17 năm 2005 của Ba Lan.
  • Về thực tiễn trong nước, các nghiên cứu của Bùi Minh Huấn, Chu Xuân Nam, đề án của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cùng các hội thảo chuyên đề giai đoạn 2010 – 2011 đã bàn luận về sự cần thiết của PPP nhưng chủ yếu tiếp cận ở tầm vĩ mô hoặc cho các ngành dịch vụ công khác. Luận án khẳng định sự cần thiết phải nghiên cứu chuyên sâu về các rào cản và cơ chế hấp dẫn nhà đầu tư tư nhân tham gia các dự án đường bộ cao tốc tại Việt Nam.

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN ĐẦU TƯ VÀ HUY ĐỘNG VỐN NGOÀI NGÂN SÁCH THỰC HIỆN CÁC DỰ ÁN XÂY DỰNG ĐƯỜNG CAO TỐC Ở VIỆT NAM

Chương 2 làm rõ bản chất kinh tế của vốn đầu tư và phân tích các kênh huy động tài chính cho kết cấu hạ tầng giao thông.

  • Đặc điểm của vốn đầu tư dự án đường cao tốc: Quy mô tài chính rất lớn (thường lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng cho mỗi dự án); thời gian thu hồi vốn kéo dài; độ nhạy cảm cao trước các biến động kinh tế vĩ mô; nguồn cung ứng từ ngân sách nhà nước luôn bị thiếu hụt.
  • Kênh huy động vốn trong nước và ngoài nước:
Kênh huy động Phân loại nguồn vốn Đặc điểm và thực trạng được phản ánh trong luận án
Nguồn vốn trong nước Ngân sách nhà nước (NSNN) Giai đoạn 2001 – 2005, thu ngân sách tăng bình quân 15%/năm; chi đầu tư phát triển đạt 30,2% tổng chi ngân sách, chiếm 22,3% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Nguồn này chỉ đáp ứng một phần nhỏ nhu cầu đường cao tốc.
Tín dụng đầu tư nhà nước Chuyển dần từ cấp phát sang tín dụng; Ngân hàng Phát triển Việt Nam huy động qua phát hành trái phiếu chính phủ, vốn vay kho bạc, bảo hiểm xã hội và cho vay lại vốn ODA. Giai đoạn 1991 – 1995 chiếm 5,6%, giai đoạn 2001 – 2005 tăng lên 14% tổng vốn đầu tư xã hội.
Doanh nghiệp nhà nước Hình thành từ khấu hao và lợi nhuận giữ lại, chiếm khoảng 14% – 15% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
Trái phiếu Chính phủ (TPCP) Công cụ nợ có độ an toàn và tính thanh khoản cao, lãi suất chuẩn của thị trường; phát hành theo các Nghị quyết chuyên đề của Quốc hội giai đoạn 2003 – 2010 để hỗ trợ công trình giao thông.
Khu vực kinh tế tư nhân Ước tính chiếm bình quân 15% GDP (tiết kiệm dân cư đầu tư gián tiếp chiếm 3,7% GDP, đầu tư trực tiếp chiếm 5% GDP). Giai đoạn 2001 – 2005, vốn khu vực tư nhân chiếm khoảng 26% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
Nguồn vốn ngoài nước Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) Quy định tại Nghị định 87/CP (1997) và Nghị định 131/2006/NĐ-CP (2006); gồm viện trợ không hoàn lại (tối thiểu 25%) và vay ưu đãi thời hạn dài; tuy nhiên điều kiện tiếp cận ngày càng giảm khi Việt Nam đạt mức thu nhập trung bình.
Tín dụng ngân hàng quốc tế Không ràng buộc chính trị nhưng lãi suất cao, điều kiện giải ngân và thẩm định khắt khe, khó tiếp cận cho hạ tầng giao thông dài hạn.
  • Kinh nghiệm quốc tế: Luận án phân tích mô hình phát triển đường cao tốc của Nhật Bản (chính sách quỹ chung và nguồn thu từ thuế xăng dầu), mạng lưới 80.000 km đường cao tốc của Trung Quốc (đứng thứ hai thế giới sau Hoa Kỳ thông qua đa dạng hóa hình thức huy động vốn), cùng bài học từ các nước ASEAN (Philippines, Indonesia) và Vương quốc Anh. Bài học rút ra cho Việt Nam là phải có khung pháp lý minh bạch, phân chia rủi ro hợp lý và tạo cơ chế tài chính đủ hấp dẫn.

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG HÌNH THỨC ĐẦU TƯ PPP ĐỂ HUY ĐỘNG VỐN NGOÀI NGÂN SÁCH THỰC HIỆN CÁC DỰ ÁN XÂY DỰNG ĐƯỜNG CAO TỐC Ở VIỆT NAM

Chương 3 khảo sát thực tế tình hình triển khai hình thức hợp tác công tư tại Việt Nam thông qua ba dự án cụ thể:

  1. Dự án đường cao tốc Láng – Hòa Lạc.
  2. Dự án đường cao tốc Cầu Giẽ – Ninh Bình.
  3. Dự án đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng.

Phân tích thực trạng từ ba dự án và các cuộc phỏng vấn sâu:

  • Vấn đề điều chỉnh tổng mức đầu tư và giải ngân: Do thời gian chuẩn bị và thi công kéo dài, trượt giá vật liệu và chi phí phát sinh khiến tổng mức đầu tư được phê duyệt của các dự án đều phải điều chỉnh tăng mạnh so với dự toán ban đầu. Tiến độ giải ngân vốn chậm, gây áp lực tài chính lớn cho doanh nghiệp dự án.
  • Vướng mắc giải phóng mặt bằng (GPMB): Đây là nguyên nhân hàng đầu gây chậm tiến độ. Công tác đền bù, tái định cư thiếu sự đồng bộ giữa các địa phương nơi tuyến đường đi qua, làm phát sinh chi phí và tăng rủi ro tài chính cho nhà đầu tư tư nhân.
  • Khung khổ pháp lý: Quá trình xây dựng khung pháp lý còn chắp vá. Các quy định về BOT, BTO, BT nằm rải rác ở nhiều văn bản luật khác nhau; Quyết định 71 về Quy chế thí điểm đầu tư PPP còn thiếu các thông tư hướng dẫn chi tiết về cơ chế bảo lãnh tài chính, chuyển đổi ngoại tệ và chia sẻ rủi ro sụt giảm doanh thu.
  • Bất cập về tổ chức thực hiện: Thiếu một cơ quan đầu mối quốc gia thống nhất về PPP có đầy đủ thẩm quyền; nhận thức của các cơ quan quản lý nhà nước về PPP còn phân tán (thường xem PPP tách rời với các hợp đồng BOT, BTO, BT, trong khi theo thông lệ quốc tế các hợp đồng này đều là phương thức cụ thể của mô hình PPP).

CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ ÁP DỤNG THÀNH CÔNG HÌNH THỨC ĐẦU TƯ PPP NHẰM HUY ĐỘNG VỐN NGOÀI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC XÂY DỰNG ĐƯỜNG CAO TỐC Ở VIỆT NAM

Chương 4 đưa ra các dự báo tài chính và hệ thống giải pháp:

  • Dự báo nhu cầu vốn: Phân tích nhu cầu vốn xây dựng đường cao tốc đến năm 2020 và tầm nhìn sau năm 2030, cân đối khả năng đáp ứng từ ngân sách và tổng hợp nguồn vốn thiếu hụt cần khu vực tư nhân bù đắp.
  • Định hướng giải pháp:
    • Hoàn thiện hành lang pháp lý: Tiến tới xây dựng và ban hành Luật về Hợp tác công tư (Luật PPP) nhằm chuẩn hóa các quy định về quyền hạn, nghĩa vụ, cơ chế giám sát và giải quyết tranh chấp thông qua trọng tài.
    • Cơ chế chia sẻ rủi ro và phân bổ lợi ích: Nhà nước cần cam kết cụ thể về chia sẻ rủi ro lưu lượng phương tiện, hỗ trợ giải phóng mặt bằng đúng tiến độ; tạo điều kiện cho nhà đầu tư khai thác các dịch vụ phụ trợ (trạm dừng nghỉ, bảo dưỡng phương tiện) nhưng kiểm soát chặt chẽ để không biến tuyến cao tốc thành đường đô thị làm mất an toàn giao thông.
    • Giải pháp thể chế: Thành lập Cơ quan đầu mối chuyên trách về PPP trực thuộc Chính phủ nhằm thống nhất đầu mối chỉ đạo, thẩm định và quản lý các dự án hợp tác công tư.
    • Đổi mới công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức: Thống nhất khái niệm PPP bao hàm các phương thức BOT, BTO, BT, BOO, BOOT để tạo sự nhất quán trong chỉ đạo điều hành.
  • Kiến nghị cụ thể đối với các cấp:
    • Với Chính phủ: Ban hành chính sách bảo lãnh rủi ro tài chính vĩ mô, điều chỉnh chính sách phí cầu đường phù hợp khả năng chi trả của người sử dụng và tỷ suất hoàn vốn của nhà đầu tư.
    • Với Bộ Giao thông Vận tải: Nâng cao chất lượng lập quy hoạch mạng lưới cao tốc, chuẩn hóa hồ sơ mời thầu và quy trình giám sát chất lượng thi công.
    • Với chính quyền các địa phương: Tập trung quyết liệt cho công tác giải phóng mặt bằng, tạo mặt bằng sạch bàn giao đúng thời hạn cam kết trong hợp đồng dự án.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về lý luận:

  • Bổ sung và hệ thống hóa lý luận về huy động vốn ngoài ngân sách cho đường bộ cao tốc, làm rõ bản chất vốn ngoài ngân sách là nguồn lực tài chính không tạo nợ công trực tiếp nhưng đòi hỏi cơ chế hoàn vốn thông qua giá, phí hoặc quyền khai thác tài sản.
  • Xây dựng khung phân tích xác định ba nhóm nhân tố (nhận thức, kỹ thuật, ngữ cảnh) chi phối quyết định và mức độ sẵn sàng góp vốn của các doanh nghiệp vào các dự án hạ tầng giao thông.
  • Luận giải cơ sở khoa học của việc chuyển đổi nhận thức về mô hình PPP: khẳng định các hình thức BOT, BTO, BT là các phương thức cấu thành cụ thể của khung khổ PPP theo thông lệ quốc tế, chấm dứt cách hiểu phân lập tại Việt Nam.

Những đóng góp mới về thực tiễn và giải pháp đề xuất:

  • Cung cấp bức tranh thực nghiệm khách quan từ ba dự án giao thông trọng điểm (Láng – Hòa Lạc, Cầu Giẽ – Ninh Bình, Hà Nội – Hải Phòng) giai đoạn 2006 – 2011, xác định nguyên nhân cốt lõi gây chậm tiến độ và bội chi vốn là khâu giải phóng mặt bằng và rủi ro điều chỉnh tổng mức đầu tư.
  • Đề xuất lộ trình xây dựng và ban hành Luật PPP tại Việt Nam, phân định rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý giữa nhà nước và nhà đầu tư tư nhân trong hợp đồng dự án.
  • Kiến nghị thành lập cơ quan chuyên trách quản lý PPP cấp quốc gia đủ thẩm quyền xử lý các thủ tục liên ngành, tháo gỡ rào cản hành chính cho các dự án xây dựng đường bộ cao tốc.
  • Đề xuất các giải pháp kinh tế cụ thể: hoàn thiện chính sách phí đường cao tốc, khai thác hợp lý các dịch vụ dọc tuyến mà không xâm hại tiêu chuẩn kỹ thuật giao thông, và phân chia rủi ro lưu lượng phương tiện.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Phạm vi khảo sát thực nghiệm tập trung vào ba dự án đường cao tốc ở khu vực phía Bắc (Láng – Hòa Lạc, Cầu Giẽ – Ninh Bình, Hà Nội – Hải Phòng) trong giai đoạn 2006 – 2011, do đó mức độ khái quát hóa đối với các dự án đường cao tốc ở khu vực miền Trung và miền Nam có sự khác biệt về địa hình và môi trường kinh tế xã hội còn hạn chế.
  • Phương pháp nghiên cứu định tính với cỡ mẫu phỏng vấn sâu gồm 21 đại diện lãnh đạo doanh nghiệp và chính quyền địa phương phản ánh nhận thức chuyên gia, chưa xây dựng được mô hình định lượng diện rộng để kiểm định thống kê mức độ tác động của từng nhân tố.
  • Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở các hình thức hợp tác nhà nước và tư nhân (BOT, BTO, BT), chưa đi sâu phân tích nguồn vốn tín dụng ngân hàng thương mại quốc tế và các công cụ thị trường chứng khoán phái sinh tài trợ cho hạ tầng.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát thực tế đến các dự án đường cao tốc tại miền Trung và miền Nam được triển khai trong giai đoạn sau năm 2011.
  • Áp dụng các mô hình định lượng kinh tế lượng nhằm đo lường chính xác tác động của biến động kinh tế vĩ mô (lạm phát, tỷ giá, lưu lượng xe) đến tỷ suất hoàn vốn nội hoàn (IRR) của các dự án PPP cao tốc.
  • Nghiên cứu cơ chế huy động vốn thông qua các quỹ tín thác đầu tư bất động sản/hạ tầng và việc phát hành trái phiếu công trình dự án trên thị trường vốn quốc tế.

Giá trị tham khảo

Giá trị đối với người làm chính sách:

  • Cung cấp luận cứ thực tiễn phục vụ các cơ quan như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Giao thông Vận tải trong quá trình nghiên cứu, soạn thảo Luật PPP và các nghị định hướng dẫn thi công, hợp đồng dự án giao thông.
  • Gợi ý mô hình thành lập cơ quan quản trị PPP chuyên trách và cơ chế phối hợp liên ngành giữa trung ương và chính quyền địa phương trong công tác giải phóng mặt bằng.

Giá trị đối với giới nghiên cứu và đào tạo:

  • Cung cấp tài liệu tham khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế đầu tư, Tài chính công về mô hình tài chính hạ tầng và phương thức phân bổ rủi ro công tư.
  • Khung lý thuyết ba nhóm nhân tố (nhận thức, kỹ thuật, ngữ cảnh) có thể được ứng dụng để tiếp tục phát triển các đề tài nghiên cứu về sự sẵn sàng đầu tư của tư nhân trong các lĩnh vực kết cấu hạ tầng kỹ thuật khác.

Nội dung đáng tham khảo chuyên sâu:

  • Mục phân tích kinh nghiệm phát triển đường cao tốc của Nhật Bản (thuế xăng dầu và cơ chế quỹ vốn chung) và Trung Quốc ở Chương 2.
  • Dữ liệu khảo sát thực tế về nguyên nhân vướng mắc tại ba dự án đường cao tốc lớn ở Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định nhu cầu vốn để xây dựng mạng lưới đường bộ cao tốc ở Việt Nam là bao nhiêu và ngân sách nhà nước có thể đáp ứng ở mức độ nào?

Theo tính toán của các chuyên gia đầu ngành được dẫn trong luận án, để xây dựng khoảng gần 6.000 km đường cao tốc tạo thành trục giao thông huyết mạch, Việt Nam cần tổng lượng vốn đầu tư khoảng gần 50 tỷ USD. Trong khi đó, ngân sách nhà nước hàng năm chỉ có thể đảm bảo đầu tư cho toàn bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật đạt mức khoảng 3% GDP. Do đó, ngân sách không thể đáp ứng đủ và đòi hỏi bắt buộc phải huy động từ 40% đến 50% tổng nhu cầu vốn đầu tư từ các nguồn lực ngoài ngân sách xã hội.

2. Khung phân tích về sự sẵn sàng góp vốn của doanh nghiệp vào dự án đường cao tốc gồm những nhóm nhân tố nào?

Khung phân tích do tác giả xây dựng bao gồm ba nhóm nhân tố chính:

  • Nhóm nhân tố nhận thức: Sự ủng hộ của ban quản trị cấp cao doanh nghiệp, mức độ tiếp nhận mô hình PPP và quyết tâm thực hiện của toàn thể doanh nghiệp.
  • Nhóm nhân tố kỹ thuật: Thời gian giải phóng mặt bằng, thời gian thu hồi vốn đầu tư và khả năng tiếp cận các dòng vốn trên thị trường tài chính.
  • Nhóm nhân tố ngữ cảnh: Căn cứ pháp lý của mô hình PPP, cơ chế chính sách của Nhà nước, tình hình phát triển kinh tế vĩ mô và các trào lưu luân chuyển vốn quốc tế.

3. Tác giả đã tiến hành khảo sát thực tế tại những dự án nào và quy mô điều tra phỏng vấn sâu là bao nhiêu?

Tác giả đã lựa chọn khảo sát thực tế tại ba dự án đường bộ cao tốc trọng điểm gồm: Dự án đường cao tốc Láng – Hòa Lạc, Dự án đường cao tốc Cầu Giẽ – Ninh Bình và Dự án đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng. Về kỹ thuật phỏng vấn sâu, tác giả đã thực hiện 21 cuộc phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi dựa trên khung lý thuyết, trong đó có 11 cuộc phỏng vấn với các nhà quản lý doanh nghiệp dự án và 10 cuộc phỏng vấn với lãnh đạo chính quyền địa phương nơi các dự án đi qua.

4. Luận án chỉ ra sự khác biệt căn bản nào trong nhận thức về mô hình PPP giữa thực tiễn Việt Nam và thông lệ quốc tế?

Tại Việt Nam, nhiều quan điểm quản lý xem các hình thức BOT, BTO, BT và PPP là các hình thức đầu tư tách rời, độc lập với nhau. Ngược lại, theo các nhà nghiên cứu kinh tế và tổ chức quốc tế, mô hình hợp tác công tư (PPP) là khái niệm bao trùm, trong đó các hợp đồng BOT, BTO, BT chính là các phương thức thực hiện cụ thể cấu thành nên mô hình PPP. Luận án khẳng định cần phải thống nhất nhận thức này để xây dựng khung thể chế đồng bộ.

5. Những đề xuất trọng tâm nào được luận án đưa ra nhằm tạo hành lang thể chế cho huy động vốn ngoài ngân sách xây dựng đường cao tốc?

Luận án kiến nghị ba nội dung thể chế cốt lõi:

  • Thứ nhất, khẩn trương hoàn thiện khung pháp lý và tiến tới xây dựng, ban hành Luật PPP nhằm phân định rõ quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ và cơ chế chia sẻ rủi ro giữa nhà nước và tư nhân.
  • Thứ hai, thành lập cơ quan đầu mối quốc gia chuyên trách về PPP trực thuộc Chính phủ có đủ thẩm quyền quyết định và hỗ trợ giải quyết các thủ tục liên quan đến dự án PPP.
  • Thứ ba, hoàn thiện cơ chế tài chính cho phép nhà đầu tư khai thác dịch vụ kết nối phụ trợ dọc hành lang tuyến đường cao tốc theo quy hoạch, đồng thời giải quyết dứt điểm các vướng mắc về mặt bằng.

Kết luận

Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về vốn và các kênh huy động vốn ngoài ngân sách nhà nước phục vụ phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ cao tốc tại các nước đang phát triển. Dựa trên việc phân tích thực trạng triển khai và các bất cập phát sinh tại ba dự án đường cao tốc trọng điểm giai đoạn 2006 – 2011 cùng kinh nghiệm quốc tế từ Nhật Bản, Trung Quốc và Ba Lan, tác giả đã làm rõ các rào cản thể chế, tài chính và công tác giải phóng mặt bằng. Luận án đóng góp việc xác lập khung ba nhóm nhân tố ảnh hưởng đến sự sẵn sàng góp vốn của doanh nghiệp và đề xuất các giải pháp then chốt gồm ban hành Luật PPP, thành lập cơ quan chuyên trách quản trị PPP và thiết lập cơ chế chia sẻ rủi ro minh bạch nhằm thu hút nguồn lực ngoài ngân sách cho mạng lưới đường bộ cao tốc Việt Nam.