mở đầu trong mọi quá trình sản xuất và tái sản xuất để tạo ra năng lực sản xuất cho cả nền kinh tế. Đầu tư XDCB là một phần tiết kiệm tiêu dùng của xã hội thay vì tiêu dùng lớn hơn trong thời gian tới. Đầu tư xây dựng cơ bản tạo ra những tài sản cố định phục vụ cho nền kinh tế, những điều kiện kỹ thuật cần thiết đảm bảo cho sự phát triển kinh tế và tăng cường xây dựng các hệ thống hạ tầng, nhà máy, mua sắm thiết bị và dây chuyền công nghệ hiện đại tiên tiến. vì vậy ta cần một lượng vốn đầu tư tương đối lớn.
9 Thứ ba, sản phẩm của đầu tư xây dựng cơ bản là tài sản cố định (nhà máy, nhà ở, cầu cống, công trình công cộng, cảng biển, sân bay…) có tính cố định gắn liền trên đất đai. “Vậy nên, trước khi đầu tư các công trình phải được quy hoạch cụ thể, quá trình thi công xây lắp có thể gặp phải nhiều khó khăn phát sinh như việc đền bù giải phóng mặt bằng, điều kiện tự nhiên, điều kiện thời tiết tại vị trí xây dựng; khi hoàn thành công trình thì sản phẩm đầu tư khó (hoặc gần như không thể) di chuyển đi nơi khác. Bên cạnh đó, sản phẩm của đầu tư XDCB còn có chức năng tạo ra sản phẩm và dịch vụ khác cho xã hội, nên có vốn lớn, do nhiều người, thậm chí do nhiều cơ quan, đơn vị khác nhau cùng tạo ra” [13]. Sản phẩm của đầu tư XDCB mang tính tổng hợp và đặc biệt, không theo một dây chuyền mà có tính cá biệt riêng; các công trình đều có điểm riêng nhất định của nó.
Ngay trong cả một công trình, thì cấu trúc của từng bộ phận cũng không giống nhau hoàn toàn; đối với công trình công nghệ cao và có vòng đời thay đổi công nghệ ngắn như là: công trình bưu chính viễn thông, điện tử, công nghệ thông tin. thì việc thay đổi công nghệ, kiểu dáng thiết kế luôn xảy ra rất thường xuyên. Giá thành sản phẩm xây dựng cơ bản rất phức tạp và thường xuyên thay đổi theo từng giai đoạn. Sản phẩm của đầu tư XDCB không những mang ý nghĩa kinh tế - kỹ thuật mà còn mang tính mỹ thuật và an sinh xã hội.
Sản phẩm đầu tư XDCB phản ánh trình độ khoa học kỹ thuật, trình độ kinh tế và trình độ trong từng thời kì lịch sử khác nhau của một quốc gia. Nguồn lao động không ổn định (chủ yếu sử dụng lao động phổ thông) điều kiện lao động phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, gây bất lợi trong quá trình thực hiện dự án và kéo dài thời gian làm việc, giảm năng suất lao động của các cán bộ quản lý và công nhân thi công công trường. Việc thực hiện dự án đầu tư XDCB trải qua nhiều giai đoạn và có rất nhiều đơn vị tham gia gắn kết với nhau. Trong cùng một dự án có thể có nhiều đơn vị thực hiện các công việc khác nhau, nhưng cùng hoạt động trên một thời gian và không gian.
Vì vậy, trong phần tổ chức thi công phải phối hợp chặt chẽ với nhau thông qua các hợp đồng giao nhận thầu. Có thể nghiên cứu bằng cách tương đối độc lập và trên cơ sở khác nhau để hiểu chúng một cách toàn diện và hệ thống hơn. Trên cơ sở các quy hoạch đã được cấp thẩm quyền phê duyệt, trình tự thực hiện các dự án đầu tư được chia thành ba giai đoạn, gồm 8 bước công việc như: 10 Hình 1.1: Các giai đoạn đầu tư của một dự án Nguồn: tổng hợp.1 cho thấy: bước đầu tiên là cơ sở để thực hiện cho các bước sau, giai đoạn trước là cơ sở thực hiện cho các giai đoạn sau. Bên cạnh đó, do quy mô và tính chất của dự án một vài bước ta có thể gộp lại thành một, như ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư, đối với dự án vừa và nhỏ có thể không cần phải có thêm bước nghiên cứu cơ hội đầu tư bước nghiên cứu dự án tiền khả thi mà xây dựng luôn dự án khả thi, hay chỉ cần lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật đối với những dự án quá nhỏ hoặc những dự án có thiết kế mẫu.
Khi bước đầu tiên đã thực hiện xong thì trước khi triển khai bước tiếp theo phải thực hiện việc kiểm tra và đánh giá về kinh tế - kỹ thuật tài chính của bước đó; nếu đã đạt yêu cầu về các quy phạm, tiêu chuẩn (nếu có) cho bước đó và đã được các cấp có thẩm quyền chấp nhận mới được thực hiện bước tiếp theo. Lưu ý là thực hiện theo trình tự chuẩn bị đầu tư và thực hiện đầu tư dự án. 11 Thứ tư, đầu tư xây dựng cơ bản cũng là một hình thức đầu tư, do vậy đầu tư cũng là lĩnh vực có rủi ro lớn và mạo hiểm, đầu tư ở đây chính là việc đánh đổi những tiêu dùng chắc chắn của hiện tại nhằm mong nhận lại được những tiêu dùng lớn hơn nhưng trong tương lai chưa thật chắc chắn, tương lai chỉ là dự đoán, suy đoán, do vậy cái chính là yếu tố mạo hiểm, rủi ro. Hay nói cách nào đó việc đầu tư là đánh bạc với tương lai.3 Vốn đầu tư XDCB 1.1 Khái niệm Vốn đầu tư XDCB là “toàn bộ những chi phí để đạt được mục đích đầu tư bao gồm chi phí cho việc khảo sát thiết kế và xây dựng, mua sắm, lắp đặt máy móc thiết bị và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán” [17].
Vốn đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN là một phần vốn đầu tư phát triển của nhà nước được hình thành từ sự huy động của Nhà nước dùng cho đầu tư xây dựng cơ bản, để xây dựng, phát triển cơ sở vật chất - kỹ thuật và kết cấu hạ tầng KT - XH cho nền kinh tế nước ta. Vốn đầu tư XDCB được coi là giá trị tài sản xã hội được sử dụng để thực hiện các dự án đầu tư mang lại hiệu quả ở tương lai. Mặc khác, đầu tư phát triển là đầu tư mang lại kết quả cao làm tăng giá trị sản lượng hàng hoá, dịch vụ và nâng cao mức thu nhập bình quân của quốc gia; ý nghĩa quan trọng nhất của ĐTPT là làm thay đổi cơ cấu kinh tế, xã hội của đất nước. Vốni đầui tưi XDCBi lài yếui tối quyếti địnhi nhằmi kếti hợpi yếui tối trongi sảni xuấti kinhi doanhi trởi thànhi yếui tối cói sựi quani trọngi hàngi đầui đốii vớii tấti cải dựi áni đầui tưi vài cói vaii tròi đặci biệti choi sựi pháti triểni kinhi tếi củai đấti nước.i Trongi mộti quái trìnhi bấti kỳi tăngi trưởngi vài pháti triển,i muốni tiếni hànhi đượci đềui phảii cói vốni đầui tưi từi NSNN.
“Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN rất đa dạng, căn cứ tính chất, nội dung, đặc điểm của từng giai đoạn trong quá trình đầu tư XDCB mà người ta phân thành các loại vốn như: vốn để thực hiện các dự án quy hoạch, vốn để chuẩn bị đầu tư, vốn thực hiện đầu tư” [13]. Vốn đầu tư XDCB từ NSNN có thể được sử dụng 12 cho đầu tư xây mới hoặc sửa chữa lớn; xây dựng kết cấu hạ tầng hoặc mua sắm vật tư và các thiết bị cần thiết.2 Phân loại vốn đầu tư XDCB Vốn đầu tư được hình thành từ hai nguồn gồm: Nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài. * Nguồn vốn đầu tư trong nước: Nguồn vốn đầu tư trong nước là phần tích lũy của bên trong nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của các thành phần dân cư, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và tiết kiệm của chính phủ được huy động cho quá trình tái sản xuất của xã hội. Biểu hiện cụ thể của nguồn vốn đầu tư trong nước là: nguồn vốn nhà nước, nguồn vốn của dân cư và nguồn vốn khu vực tư nhân.
Nguồn vốn nhà nước là nguồn vốn của ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triển của các doanh nghiệp nhà nước. - Nguồn vốn của NSNN: là nguồn kinh phí để đầu tư phát triển theo kế hoạch Nhà nước được sử dụng đầu tư cho các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, quốc phòng, an ninh, an sinh xã hội. mà không hạch toán phát huy tác dụng trực tiếp, có thể không tính vào vkhả năng thu hồi vốn hoặc khả năng thu hồi vốn cực kì thấp, Nhà nước thực hiện các dự án mà các thành phần kinh tế khác không được đầu tư hoặc không đầu tư. Vốn ngân sách nhà nước cũng sử dụng để đầu tư và hỗ trợ cho doanh nghiệp Nhà nước, qua góp vốn cổ phần, liên doanh cho các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực có sự tham gia của Nhà nước để quản lý, định hướng.
- Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước: là một hình thức quá độ chuyển từ phương thức cấp phát vốn ngân sách qua phương thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp. Mặc khác, nguồn vốn tín dụng này còn để phục vụ cho công tác quản lý và điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Qua nguồn vốn tín dụng đầu tư, nhà nước thực hiện được việc khuyến khích phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành, vùng và lĩnh vực theo những định hướng chiến lược. Nguồn vốn tín 13 dụng này có tác dụng tích cực cho việc giảm đáng kể bao cấp vốn trực tiếp của Nhà nước.
Nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước: Nguồn vốn tín dụng này phần lớn bao gồm từ khấu việc hao tài sản cố định, tích lũy từ lợi nhuận sau thuế và vốn tự huy động khác. Nguồn vốn của dân cư và khu vực tư nhân: Nguồn vốn tín dụng này bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, hoặc phần tích lũy của doanh nghiệp, hợp tác xã. * Nguồn vốn đầu tư nước ngoài: Là nguồn vốn đầu bao gồm phần tích lũy của cá nhân, các doanh nghiệp, của các tổ chức kinh tế và chính phủ ở ngoài nước có thể huy động vào quá trình đầu tư để phát triển trong nước. Phân loại theo tính chất lưu chuyển vốn, có thể liệt kê như sau: - Thứ nhất, vốn tài trợ phát triển chính thức: đây là nguồn vốn viện trợ phát triển và các hình thức tài trợ khác.
- Thứ hai, vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính quốc tế. - Thứ ba, là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. - Thứ tư, nguồn huy động qua thị trường vốn quốc tế.