CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Tổng quan về đầu tư xây dựng cơ bản 1. Khái niệm đầu tư xây dựng cơ bản Theo Bùi Mạnh Cường (nguyên là Phó viện trưởng viện kiểm soát nhân dân tối cao) đầu tư XDCB là hoạt động đầu tư nhằm tạo ra các công trình xây dựng theo mục đích của người đầu tư, là lĩnh vực sản xuất vật chất tạo ra các tài sản cố định và tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội. Đầu tư XDCB là một hoạt động kinh tế.
Đầu tư XDCB của nhà nước có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trong những năm qua nhà nước đã dành hàng chục ngàn tỷ đồng mỗi năm cho đầu tư XDCB. Đầu tư XDCB của nhà nước chiếm tỷ trọng lớn và giữ vai trò quan trọng trong toàn bộ hoạt động đầu tư XDCB của nền kinh tế Việt Nam. Đầu tư XDCB của nhà nước đã tạo ra nhiều công trình, nhà máy, đường giao thông.quan trọng, đưa lại nhiều lợi ích kinh tế xã hội thiết thực.
Tuy nhiên nhìn chung hiệu quả đầu tư XDCB của nhà nước ở nước ta còn thấp thể hiện trên nhiều khía cạnh như: đầu tư khép kín, đầu tư dàn trải, thất thoát, lãng phí, tiêu cực,… 1. Đặc điểm, vai trò và các giai đoạn đầu tư 1. Đặc điểm Trong đầu tư XDCB của nhà nước, vốn là vốn của nhà nước mà không phải của tư nhân do vậy rất khó quản lý sử dụng, dễ xảy ra thất thoát, lãng phí, tham nhũng. Ở đây quyền sở hữu về vốn không trùng hợp với quyền sử dụng và quản lý vì thế trách nhiệm quản lý vốn không cao.
Động lực cá nhân đối với việc sử dụng hiệu quả đồng vốn không rõ ràng, mạnh mẽ như nguồn vốn tư nhân. Vì vậy quản lý hiệu quả vốn trong đầu tư XDCB của nhà nước rất khó khăn, phức tạp. 5 Về lĩnh vực đầu tư, đầu tư XDCB của nhà nước thường nhằm vào lĩnh vực ít được thương mại hóa, không thu hồi vốn ngay, ít có cạnh tranh. Về mục tiêu đầu tư, đầu tư XDCB của nhà nước thường ít nhắm tới mục tiêu lợi nhuận trực tiếp.
Nó phục vụ lợi ích của cả nền kinh tế, trong khi đầu tư XDCB của tư nhân và đầu tư nước ngoài thường đề cao lợi nhuận. Về mục tiêu đầu tư, đầu tư XDCB của nhà nước thường diễn ra trong môi trường thiếu vắng sự cạnh tranh. Và nếu có thì cũng ít khốc liệt hơn. Vai trò đầu tư xây dựng cơ bản.
Đầu tư xây dựng cơ bản tạo ra các tài sản cố định. Đây là hoạt động đầu tư để sản xuất của cải vật chất và đặc biệt là tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu cho xã hội. Đầu tư xây dựng cơ bản là quá trình giúp cho các ngành kinh tế có điều kiện đổi mới công nghệ, xây dựng mới để tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất. Do đó, đầu tư xây dựng cơ bản, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, tạo điều kiện cho các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy sự tăng trưởng và dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Đầu tư XDCB là công cụ kinh tế để Nhà nước trực tiếp tác động đến quá trình phát triển kinh tế xã hội, điều tiết vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giữ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Đầu tư XDCB được nhà nước sử dụng như một công cụ về hạ tầng kỹ thuật. Bên cạnh đó, đầu tư còn có tác dụng giải quyết mất cân đối về phát triển giữa các vùng, xóa đói giảm nghèo, phát huy lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế chính trị của những vùng có khả năng phát triển nhanh để làm đầu tàu cho những vùng phát triển chậm hơn. Các giai đoạn của đầu tư xây dựng cơ bản Trình tự cơ bản thực hiện dự án đầu tư gồm 3 giai đoạn: Giai đoạn 1: Chuẩn bị đầu tư Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư 6 Nghiên cứu tiền khả thi: Tiến hành thăm dò, xem xét thị trường xác định nhu cầu tiêu thụ, tìm nguồn cung ứng thiết bị, vật tư cho sản xuất, xem xét khả năng về nguồn vốn đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư Nghiên cứu khả thi: Tiến hành điều tra, khảo sát, lựa chọn địa điểm xây dựng.
Lập dự án đầu tư Thẩm định và phê duyệt dự án: Gửi hồ sơ dự án và văn bản trình đến cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư, tổ chức cho vay vốn đầu tư và cơ quan có chức năng thẩm định dự án đầu tư. Giai đoạn 2: Thực hiện đầu tư Thiết kế lập tổng dự toán Ký kết hợp đồng, xây dựng, thiết bị Thi công xây lắp công trình Chạy thử, nghiệm thu và quyết toán Giai đoạn 3: Đưa vào khai thác và sử dụng Việc thực hiện các trình tự, đầu tư xây dựng có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chất lượng công trình, chi phí xây dựng sau khi hoàn thành và đưa vào sử dụng, do đó việc chấp hành trình tự và xây dựng có ảnh hưởng lớn vì có tính chất quyết định đối với chất lượng công trình. Tuy nhiên cũng tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể và yêu cầu kỹ thuật của dự án, người quyết định đầu tư quyết định có thể điều chỉnh thời gian các bước sao cho hợp lý, tiết kiệm tránh lãng phí, thất thoát và đem lại hiệu quả cao nhất. Ngân sách nhà nước 1.
Khái niệm Tại Điểm 14, Điều 4, Luật số 83/2015/QH13 Luật Ngân sách nhà nước định nghĩa: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước trong dự toán đã được cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước quyết định và thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước” 7 Ngân sách nhà nước bao gồm: ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách địa phương gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa phương.Đặc điểm ngân sách Nhà nước: - Hoạt động thu chi của NSNN luôn gắn với quyền lực kinh tế - chính trị của nhà nước, và thực hiện các chức năng của nhà nước, được nhà nước tiến hành trên cơ sở những Luật lệ nhất định; - Hoạt động NSNN là hoạt động phân phối lại các nguồn tài chính, nó thể hiện ở hai lĩnh vực thu chi của nhà nước; - Ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với chủ sở hữu nhà nước, luôn chứa đựng những lợi ích chung, lợi ích cộng đồng. - Ngân sách nhà nước cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tề khác. Nét khác biệt của NSNN với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, nó được chia thành nhiều quỹ nhỏ có tác dụng riêng, sau đó mới được dùng cho những mục đích đã định - Hoạt động thu chi NSNN được thực hiện theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu.Vai trò của ngân sách nhà nước - NSNN có vai trò gắn liền với vai trò của Nhà nước theo từng giai đoạn nhất định.
Đối với nền KTTT, NSNN được đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế, xã hội: + Huy động các nguồn tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu nhà nước, vai trò xuất phát từ bản chất kinh tế của NSNN, để đảm bảo cho hoạt động của nhà nước trong lĩnh vực chính trị, KT-XH đòi hỏi phải có nguồn tài chính nhất định. Những nguồn này được hình thành từ các khoản thu thuế và các khoản thu ngoài thuế, đây là vai trò lịch sử của NSNN mà trong bất kỳ chế độ xã hội nào, cơ chế kinh tế NSNN đều phải thực hiện. 8 + Ngân sách nhà nước là công cụ điều tiết thị trường, bình ổn giá và chống lạm phát: đặc điểm nổi bật của nền KTTT là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nhằm đạt được lợi nhuận tối đa, các yếu tố cơ bản thị trường là cung cầu và giá cả thường xuyên tác động lẫn nhau và chi phối hoạt động thị trường. + Ngân sách nhà nước là công cụ định hướng phát triển sản xuất, định hướng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhà nước sử dụng công cụ thuế các mức thuế suất khác nhau sẽ góp phần kích thích sản xuất phát triển và hướng dẫn các nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vào những vùng, lĩnh vực cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế theo hướng đã định.
+ Ngân sách nhà nước là công cụ điều chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp dân cư: nền KTTT với những khuyết tật của nó sẽ dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, nhà nước phải có một chính sách phân phối lại thu nhập hợp lý nhằm giảm bớt khoảng cách chênh lệch về thu nhập trong dân cư. NSNN là công cụ tài chính hữu hiệu được nhà nước sử dụng để điều tiết thu nhập, với các loại thuế, vừa tạo nguồn thu cho ngân sách vừa điều tiết một phần thu nhập. Ngoài công cụ thuế, các khoản chi của NSNN như chi trợ cấp, chi phúc lợi xã hội cho các chương trình: phòng chống dịch bệnh, phổ cập giáo dục, dân số kế hoạch hóa… là nguồn bổ sung thu nhập cho các tầng lớp dân cư thu nhập thấp. Với những vai trò trên của NSNN cho thấy đây là công cụ quản lý hữu ích, toàn diện và có hiệu quả đối với toàn bộ nền kinh tế.
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước. Khái niệm vốn đầu tư VĐT là toàn bộ chi phí đầu tư xây dựng của dự án được xác định phù hợp với thiết kế cơ sở và các nội dung khác của báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng. Khái niệm vốn đầu tư xây dựng cơ bản. VĐT xây dựng cơ bản là toàn bộ những chi phí để đạt được mục đích đầu tư bao gồm chi phí cho việc khảo sát thiết kế, xây dựng, mua sắm, lắp đặt máy móc thiết bị và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán, gồm: 9 - Vốn đầu tư xấy lắp là phần vốn đầu tư cơ bản dành cho công tác xây dựng và lắp đặt thiết bị, máy móc, gồm: vốn đầu tư dành cho xây dựng mới, mở rộng và xây dựng là nhà cửa; vốn đầu tư để lắp đặt thiết bị, máy móc.