Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển khu công nghiệp, khu kinh tế Chương 2: Thực trạng phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế trên địa bàn tỉnh Quảng Bình Chương 3: Giải pháp phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế trên địa bàn tỉnh Quảng Bình 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP, KHU KINH TẾ 1. Khu công nghiệp 1. Khái niệm về khu công nghiệp Theo Nghị định số 82/2018/NĐ-CP, khu công nghiệp được định nghĩa là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này [7]. Theo quan điểm về phát triển nói chung, có chú ý đến những yếu tố đặc thù của các KCN thì cần phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ.
Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, cơ quan quản lý nhà nước các cấp, các tổ chức xã hội. phải phối hợp chặt chẽ với nhau, nhằm bảo đảm thực hiện có kết quả cả ba mục tiêu về kinh tế, xã hội, môi trường trong quá trình phát triển các khu công nghiệp. Như vậy, quan điểm về phát triển KCN Việt Nam có thể hiểu: Phát triển KCN là việc bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế ổn định, có hiệu quả ngày càng cao trong bản thân KCN, gắn liền với việc bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống, cũng như những yêu cầu về ổn định xã hội, an ninh quốc phòng trong khu vực có KCN cũng như toàn lãnh thổ quốc gia [14]. Theo quan điểm trên, phát triển KCN Việt Nam phải được xem xét trên hai góc độ: - Duy trì tính chất bền vững và hiệu quả trong hoạt động của bản thân KCN.
Điều này thể hiện: một là, bảo đảm các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh của KCN; hai là, nâng cao khả năng cạnh tranh của các KCN Việt Nam, (tính chất vượt trội trong quan hệ so sánh) với các đối thủ cạnh tranh khác có cùng tiêu chí so sánh; ba là, bảo đảm chất lượng môi trường trong nội bộ KCN. 6 - Tác động lan tỏa tích cực của KCN đến hoạt động kinh tế, xã hội và môi trường của địa phương, khu vực có KCN. Điều này được thể hiện trên các mặt: tạo sự chuyển dịch tích cực theo xu hướng CNH, HĐH và hướng về xuất khẩu; tác động tích cực trong việc phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, kỹ thuật và xã hội cho khu vực KCN; tác động tích cực và giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực đến các vấn đề xã hội, mà tựu chung lại là vấn đề tăng cường khả năng giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho dân cư trong vùng có KCN; hoạt động KCN luôn gắn liền với các phương án bảo vệ môi trường, giảm thiểu tác động tiêu cực của ô nhiễm môi trường. Các loại hình khu công nghiệp Khu công nghiệp gồm nhiều loại hình khác nhau, bao gồm: Khu chế xuất, khu công nghiệp hỗ trợ, khu công nghiệp sinh thái (sau đây gọi chung là Khu công nghiệp, trừ trường hợp có quy định riêng đối với từng loại hình) [7].
a) Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công nghiệp quy định tại Nghị định số 82/2018/NĐ-CP. Khu chế xuất được ngăn cách với khu vực bên ngoài theo các quy định áp dụng đối với khu phi thuế quan quy định tại pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; b) Khu công nghiệp hỗ trợ là khu công nghiệp chuyên sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, thực hiện dịch vụ cho sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ. Tỷ lệ diện tích đất cho các dự án đầu tư vào ngành nghề công nghiệp hỗ trợ thuê, thuê lại tối thiểu đạt 60% diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê của khu công nghiệp; c) Khu công nghiệp sinh thái là khu công nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp trong khu công nghiệp tham gia vào hoạt động sản xuất sạch hơn và sử dụng hiệu quả tài nguyên, có sự liên kết, hợp tác trong sản xuất để thực hiện hoạt động cộng sinh công nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, môi trường, xã hội của các doanh nghiệp. Đặc điểm của khu công nghiệp Khu công nghiệp tập trung có những đặc điểm cơ bản sau đây: - Là khu vực tập trung nhiều doanh nghiệp, xí nghiệp công nghiệp trong một khu vực có ranh giới rõ ràng, sử dụng chung kết cấu hạ tầng như hệ thống cung cấp điện, nước; chung hệ thống xử lý nước thải, khí thải và các loại chất thải khác; chung giá thành sử dụng cơ sở hạ tầng và các dịch vụ liên quan.
Đầu ra của các doanh nghiệp còn có thể gắn bó với nhau như sản phẩm của nhà máy này còn là linh kiện phụ tùng cho sản phẩm của nhà máy kia, hoặc là nguyên liệu cho nhà máy kia…Vì vậy, các xí nghiệp này tiết kiệm tối đa chi phí sản xuất, hạ giá thành của sản phẩm, cũng chính là tiết kiệm được chi phí cho xã hội. - Các doanh nghiệp trong KCN được hưởng quy chế riêng và ưu đãi riêng theo quy định của Chính phủ và cơ quan địa phương sở tại, có chính sách kinh tế đặc thù, ưu đãi nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tạo môi trường đầu tư thuận lợi hấp dẫn cho phép các nhà đầu tư nước ngoài sử dụng những phạm vi đất đai nhất định trong khu công nghiệp để thành lập các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh tế, dịch vụ với những ưu đãi về thủ tục xin phép và thuê đất, miễn hoặc giảm thuế. - Nguồn vốn xây dựng cơ sở hạ tầng chủ yếu là thu hút từ nước ngoài hay các tổ chức, cá nhân trong nước. Ở các nước khác, Chính phủ thường bỏ vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng.
Nhưng ở Việt Nam thì Nhà nước không có đủ vốn, vì thế việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN được kêu gọi đầu tư từ vốn trong và ngoài nước. - Việc hình thành các KCN tạo nên sự liên kết với các cơ sở kinh tế trong nước, có tác dụng lan toả trước hết là khu vực xung quanh KCN. - Sản phẩm của các nhà máy, doanh nghiệp trong KCN chủ yếu dành cho xuất khẩu, hướng ra thị trường thế giới. Tuy nhiên để tăng thu ngoại tệ bằng cách giảm tối đa việc nhập khẩu các loại máy móc thiết bị và hàng hoá tiêu dùng, các nhà sản xuất trong KCN cũng rất quan tâm đến việc sản xuất hàng hoá có chất lượng cao nhằm thay thế hàng nhập khẩu.
- Mọi hoạt động kinh tế trong KCN trực tiếp chịu sự chi phối của cơ chế thị trường và diễn biến của thị trường quốc tế. Do đó, cơ chế quản lý kinh tế trong KCN lấy điều tiết của thị trường làm chỗ dựa chính. 8 - KCN là mô hình tổng hợp phát triển kinh tế với nhiều thành phần và nhiều hình thức sở hữu khác nhau cùng tồn tại: doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dưới hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài; hợp đồng, hợp tác kinh doanh; doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp vốn 100% vốn trong nước. - Hoạt động trong KCN là các tổ chức pháp nhân và các cá nhân trong và ngoài nước tiến hành theo các điều kiện bình đẳng theo quy định của pháp luật.
Vai trò của khu công nghiệp Việc hình thành các KCN là một tất yếu của sự phát triển kinh tế - xã hội, nhất là với các nước đang phát triển thì việc hình thành các KCN sẽ nhanh chóng thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo hướng CNH, HĐH, vai trò của các KCN thể hiện ở các mặt chủ yếu dưới đây: Thứ nhất, các KCN là nơi thu hút mạnh nguồn vốn đầu tư trong nước và ngoài nước Với những ưu điểm nổi bật như cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, đồng bộ và hiện đại, thuận tiện trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm chi phí sản xuất và xử lý chất thải tốt, các KCN là một nhân tố để thu hút các nhà đầu tư. Hơn nữa với quy chế quản lý và hệ thống chính sách ưu đãi; các KCN tạo ra được một môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Từ đó giúp cho các nước có KCN có thêm vốn đầu tư, tiếp cận vốn đầu tư và công nghệ tiên tiến cũng như phong cách quản lý hiện đại. Mặt khác, việc phát triển các KCN cũng phù hợp với chiến lược của các công ty xuyên quốc gia trong việc mở rộng phạm vi hoạt động trên cơ sở tiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận, tranh thủ thuế quan ưu đãi từ phía nước chủ nhà, khai thác thị trường rộng lớn ở các nước đang phát triển.
Chính vì thế mà nguồn vốn đầu tư vào các địa bàn này không ngừng tăng lên. Theo thống kê của Ngân hàng thế giới thì các dự án thực hiện trong KCN hầu hết đều do các nhà đầu tư nước ngoài hoặc do liên doanh với nước ngoài thực hiện. Do vậy, KCN đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Ví dụ, ở Malaysia và Đài Loan trong những năm đầu phát triển, KCN đã thu hút khoảng 60% số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
9 Cùng với việc thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, với thuận lợi về vị trí và chính sách ưu đãi về chính sách, cơ chế thì KCN còn thu hút các nhà đầu tư trong nước. Đây là nguồn vốn tiềm tàng rất lớn trong nhân dân chưa được khai thác và sử dụng xứng đáng. KCN sẽ tạo môi trường và cơ hội phát huy năng lực về vốn cũng như sản xuất kinh doanh trong cùng một điều kiện ưu đãi đối với các nhà đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp trong nước sẽ liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài. Từ đó, tạo cơ hội để các doanh nghiệp trong nước có điều kiện tiếp thu kinh nghiệm quản lý, sử dụng các trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại của nước ngoài, bồi dưỡng nhân tài, áp dụng các phương án cải cách để tiến dần đến trình độ thế giới.