Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Thể chế thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ ở Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Ánh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Quốc Lý, bảo vệ tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2024, thuộc chuyên ngành Kinh tế chính trị (mã số: 9310102).

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tạo ra không gian kinh tế, công nghệ và sản phẩm mới, đồng thời đặt ra rủi ro cạnh tranh giữa thế giới thực và ảo, dẫn đến tình trạng phá sản hoặc sa thải hàng loạt lao động ở nhiều doanh nghiệp công nghệ số. Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội được đề ra tại Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, khoa học và công nghệ được xác định là quốc sách hàng đầu và động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại. Tuy nhiên, thể chế hiện vẫn là một trong ba điểm nghẽn lớn (bên cạnh hạ tầng và nhân lực), được xác định là "điểm nghẽn của điểm nghẽn". Theo Báo cáo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) của Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO), chỉ số Chất lượng quy định pháp luật của Việt Nam chưa phản ánh rõ xu hướng cải thiện: năm 2021 xếp hạng 93/132 quốc gia, năm 2022 xếp hạng 83/132, năm 2023 giảm xuống vị trí 94/132 và năm 2024 đứng thứ 95/133. Bên cạnh đó, cơ cấu vốn đầu tư cho khoa học và công nghệ có sự dịch chuyển: nếu cách đây 10 năm ngân sách nhà nước chiếm 70% - 80% thì hiện nay tỷ lệ giữa doanh nghiệp - xã hội và Nhà nước tương ứng là 48% và 52%. Mặc dù Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt "Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030" và Đại hội XIII đề ra mục tiêu kinh tế số đạt 20% GDP vào năm 2025 (thực tế đạt khoảng 10%) và 30% GDP vào năm 2030, nhiều doanh nghiệp vẫn gặp trở ngại lớn về vốn, khó tiếp cận nguồn hỗ trợ, thiếu kỹ năng và lúng túng trong ứng dụng công nghệ. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là nhu cầu vốn đầu tư, cơ chế huy động và việc xây dựng một hệ thống thể chế đồng bộ dưới góc độ kinh tế chính trị để thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D).

Mục đích nghiên cứu của luận án là đánh giá thực tiễn, thực trạng, từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả thể chế thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Tổng quan các công trình liên quan và tìm ra khoảng trống cũng như những vấn đề trọng tâm cần giải quyết.
  2. Xây dựng khung lý thuyết về thể chế thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ ở Việt Nam trong điều kiện cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
  3. Nghiên cứu thể chế thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ của một số nước, rút ra bài học đối với Việt Nam.
  4. Phân tích và đánh giá thực trạng thể chế thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ ở Việt Nam giai đoạn 2011-2023, chỉ ra những kết quả chủ yếu đạt được, những hạn chế và nguyên nhân.
  5. Đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện thể chế thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ ở Việt Nam giai đoạn 2024-2030, tầm nhìn 2045.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là thể chế thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ, trọng tâm là thể chế chính thức gồm các luật lệ, quy tắc thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư; các chủ thể quản lý nhà nước và doanh nghiệp; cơ chế thực thi điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể; hệ thống trường đại học, viện nghiên cứu, đơn vị cung ứng dịch vụ khoa học công nghệ, trung tâm liên kết và thị trường.

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Phạm vi nội dung: Nghiên cứu thể chế chính thức thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ.
  • Phạm vi chủ thể: Bao quát các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (năm 2021 có 857.551 doanh nghiệp), trong đó lựa chọn một số doanh nghiệp điển hình thuộc ngành sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ ở các quy mô lớn, vừa và nhỏ.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và loại hình sở hữu trên lãnh thổ Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng giai đoạn 2011-2023 (gắn với việc thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 đề ra tại Đại hội XI của Đảng); đề xuất phương hướng và hệ thống giải pháp cho giai đoạn 2024-2030.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa khối lượng tài liệu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo các nhóm nội dung:

Thứ nhất, các công trình phản ánh mối liên hệ tác động giữa sự phát triển của doanh nghiệp và đầu tư cho khoa học - công nghệ:

  • C. Mác trong Quyển I bộ "Tư bản" đã chỉ rõ năng suất lao động quyết định lượng giá trị hàng hóa và khẳng định trình độ phát triển của khoa học, công nghệ thể hiện qua công cụ sản xuất là tiêu chí đánh giá sức sản xuất xã hội.
  • V.I. Lênin (Tập 36) nhấn mạnh việc nâng cao năng suất lao động là điều kiện quyết định thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, đòi hỏi nền tảng đại công nghiệp và áp dụng triệt để thành tựu kỹ thuật hiện đại.
  • P. Samuelson và W. Nordhaus trong giáo trình "Economics" qua phân tích thực nghiệm tại Mỹ thời kỳ 1948-1981 chỉ ra rằng 1/3 mức tăng trưởng là do tăng lao động và vốn, trong khi 2/3 còn lại bắt nguồn từ giáo dục, đổi mới, hiệu quả kinh tế theo quy mô và tiến bộ khoa học.
  • R. Solow (1956) với công trình "A contribution to the theory of economic growth" phản bác mô hình Harrod - Domar, xác định công nghệ là yếu tố ngoại sinh quyết định tăng trưởng kinh tế dài hạn để vượt qua tình trạng lợi ích cận biên giảm dần của vốn.
  • Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (1998) "Knowledge for development" phân tích mậu dịch quốc tế giai đoạn 1976-1996, chỉ ra tỷ trọng hàng hóa công nghệ cao xuất khẩu tăng gấp đôi từ 11% lên 22%, trong khi hàng sơ chế giảm từ 45% xuống dưới 25%.
  • Nghiên cứu thực nghiệm của Christopher F. Baum, Mustafa Caglayan và Oleksandr Talavera (2013) tại Mỹ, Anh, Đức chỉ ra các công ty điều chỉnh lượng tiền mặt dự trữ để phục vụ kế hoạch bổ sung vốn cho R&D ngay cả khi chịu hạn chế tài chính.
  • Saul Lach và Mark Schankerman (1987) nghiên cứu các công ty dựa trên khoa học giai đoạn 1973-1981, chứng minh R&D đòi hỏi đầu tư vốn nhưng vốn không phải là nguyên nhân trực tiếp sinh ra R&D.
  • Báo cáo của OECD (2000, 2021, 2023) phân tích vai trò của chính sách công, chi tiêu công và hỗ trợ đổi mới sáng tạo hậu khủng hoảng Covid-19, cũng như chính sách trí tuệ nhân tạo (AI) hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs).
  • Nghiên cứu của Oklahoma SBDC, Gurupanch và Shreelekha Virulkar (2015), P. Horan (2020), báo cáo "Creating the future 2020 vision for science & research" của Vương quốc Anh (cam kết vốn đầu tư khoa học đạt 1,1 tỷ bảng Anh giai đoạn 2015-2016), Báo cáo khoa học UNESCO (2010), Carl Dahlman (2007), Ben Martin và Paul Nightingale (2000), Ricardo Hausmann và José Domínguez (2023).

Thứ hai, các nghiên cứu về thể chế và thể chế phát triển:

  • Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C. Mác về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, cùng quy luật giá trị thặng dư liên quan đến lợi nhuận siêu ngạch từ đổi mới công nghệ.
  • J. March và J. Olsen (1984), Geoffrey Hodgson (2006), Johannes Urpelainen (2011) tiếp cận thể chế từ góc độ chuẩn mực nội sinh và cấu trúc điều chỉnh hành vi.
  • Lý thuyết thể chế mới của John Meyer và Brian Rowan (1977), Paul DiMaggio và Walter Powell (1982, 1991), Lynne Zucker (1977) phân tích tính ổn định, đồng nhất của tổ chức dưới tác động của thể chế.
  • Partha Dasgupta và Paul A. David (1994) đề xuất môn "Kinh tế học mới của khoa học" nhằm cải cách thể chế chuyển giao tri thức khoa học mở và R&D thương mại; Báo cáo của Ủy ban Châu Âu (EC, 2006) đề cập các công cụ vườn ươm, công viên công nghệ và mua sắm công.

Thứ ba, các công trình nghiên cứu trong nước:

  • Nghiên cứu lý luận thể chế: Trần Thị Ngọc Minh (2022), Huỳnh Thành Đạt (2022), Nguyễn Chính (2021), Phùng Hữu Phú (2019), Tạ Ngọc Tấn và Trần Quốc Toản (2019, 2023) với mô hình cấu trúc thể chế gồm "luật chơi", "người chơi" và "sân chơi", Lê Duy Phong (2018), Vũ Tiến Lộc (2019), Nguyễn Hồng Sơn, Phạm Thị Hồng Điệp và Nguyễn Anh Thu (2017).
  • Về tài chính và cơ chế đầu tư: Hồng Anh (2012) ghi nhận tỷ suất lợi nhuận từ đầu tư khoa học công nghệ (1 đồng vốn có thể sinh 5 - 6 đồng lợi nhuận so với 10 đồng vốn chỉ thu 1 - 2 đồng ở lĩnh vực khác), Phạm Huy Toàn (2013), Phạm Trần Lê, Hội thảo của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (2013) bàn về gỡ nút thắt cơ chế khoán chi, Hoàng Giang (2023) về quy định sử dụng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp, Hồ Ngọc Luật (2007).
  • Về thực trạng và giải pháp thị trường khoa học công nghệ: Nguyễn Minh Khải và Bùi Ngọc Quỳnh (2013) nghiên cứu kinh nghiệm Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc; Lại Trần Tùng (2014) chỉ ra 80% doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam sử dụng công nghệ lạc hậu 3-4 thế hệ so với thế giới; Hải An (2013); Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (2020); Thành Chung (2023) tổng kết bài học tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Quảng Ninh; Đỗ Phong (2022), Ngọc Hân (2022), Thủy Diệu (2022), Trần Duy Phương (2022), Viện Năng suất Việt Nam (2023), Phạm Đức Nghiệm (2023), Mai Hương Giang (2023), Vũ Văn Khác và Nguyễn Minh Trí (2021), Hồ Tú Bảo (2008).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định bao gồm:

  • Thiếu vắng một công trình tiếp cận có hệ thống dưới góc độ kinh tế chính trị về thể chế thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào R&D và đổi mới công nghệ trên bình diện quốc gia.
  • Chưa có nghiên cứu làm rõ cơ chế phân bổ lợi ích nội tại trong thể chế thúc đẩy đầu tư khoa học công nghệ của doanh nghiệp.
  • Chưa định hình đầy đủ cấu trúc, nguyên tắc tạo lập, vận hành, các tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình vận hành thể chế này trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
  • Mối quan hệ và vai trò kiến tạo của Nhà nước đối với các loại hình doanh nghiệp khác nhau (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài - FDI) chưa được giải quyết đồng bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm và trường phái học thuật:

  • Khái niệm thể chế: Kế thừa quan điểm của W. Richard Scott (1995, 2008) về ba trụ cột thể chế gồm quy định pháp luật (regulative legal), quy chuẩn xã hội (normative social) và văn hóa - nhận thức (cultural-cognitive); định nghĩa của Ngân hàng Thế giới (WB, 2003) và Báo cáo Việt Nam 2035; quan niệm của Douglass North (1990, 1991, 1994) coi thể chế là luật chơi trong xã hội gồm quy tắc chính thức, ràng buộc phi chính thức và cơ chế thực thi; phân định của David Scott Palmer (2003) và Randall Calvert (1995); quan niệm của Hoàng Văn Luân.
  • Phân loại thể chế: Phân chia theo hình thức gồm thể chế chính thức và phi chính thức (Douglass North, Gretchen Helmke và Steven Levitsky, 2003); phân chia theo tính chất gồm thể chế dung nạp (inclusive institutions) và thể chế loại trừ (exclusive institutions) của Daron Acemoglu và James A. Robinson (2012); thể chế kinh tế theo quan điểm của Wolfgang Kasper, Manfred E. Streit (1998), Bhumika Dutta (2021) và Geoffrey M. Hodgson.
  • Định nghĩa của tác giả: Thể chế thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ là hệ thống các quy định, quy tắc, chuẩn mực do Nhà nước và xã hội ban hành, thiết lập cùng cơ chế thực thi nhằm điều tiết, tạo động lực và môi trường để doanh nghiệp tăng cường trích lập quỹ, huy động và phân bổ nguồn lực tài chính, vật lực, nhân lực cho R&D và đổi mới công nghệ.

Luận án xây dựng hệ thống 6 tiêu chí đánh giá thể chế:

  1. Mức độ thể chế tác động đến sự phát triển của lực lượng sản xuất.
  2. Khả năng thiết lập định hướng tổ chức sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu dùng.
  3. Mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật.
  4. Sự hoàn thiện của cơ chế, chính sách.
  5. Sự phát triển của các chủ thể tham gia thể chế.
  6. Sự phát triển môi trường hoạt động của doanh nghiệp liên quan đến R&D và đổi mới công nghệ.

Luận án xác định 5 nhóm nhân tố ảnh hưởng:

  1. Môi trường chính trị, pháp lý cho đầu tư kinh doanh.
  2. Thị trường khoa học và công nghệ.
  3. Các chủ thể của thể chế thúc đẩy doanh nghiệp.
  4. Các yếu tố tạo động lực nội sinh của doanh nghiệp.
  5. Môi trường văn hóa xã hội và hội nhập quốc tế.

Phương pháp tiếp cận bao gồm: tiếp cận lý thuyết (kiểm định và bổ sung khung lý thuyết hiện có), tiếp cận thực tiễn (thu thập, xử lý dữ liệu từ cơ quan quản lý và doanh nghiệp), tiếp cận mục tiêu (hướng tới phát triển kinh tế số theo Nghị quyết Đại hội XIII) và tiếp cận liên ngành (kết hợp kinh tế chính trị với kinh tế học, xã hội học và khoa học chính trị).

Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Sử dụng các phương pháp đặc thù của kinh tế chính trị như trừu tượng hóa khoa học, hệ thống hóa, phân tích và tổng hợp, logic kết hợp lịch sử; kết hợp các phương pháp của khoa học kinh tế gồm thống kê mô tả, so sánh, mô hình hóa, lập bảng số liệu, đồ thị, phương pháp cân bằng thị trường và phương pháp dự báo.

Nguồn tư liệu và dữ liệu: Sử dụng dữ liệu thứ cấp từ văn kiện Đảng, văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ, cơ sở dữ liệu quốc tế từ WIPO, World Bank, OECD, UNESCO cùng các báo cáo chuyên đề về doanh nghiệp giai đoạn 2011-2023.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan thể chế thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ

Chương 1 thực hiện tổng quan hệ thống các công trình trong và ngoài nước về mối quan hệ giữa công nghệ và tăng trưởng, lý thuyết thể chế và thực tiễn vận hành chính sách khoa học công nghệ. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế (như Samuelson, Solow, World Bank, Baum và cộng sự) đều thừa nhận R&D và tiến bộ công nghệ là động cơ quyết định năng suất và cơ cấu thương mại toàn cầu. Tuy nhiên, các công trình trong nước và quốc tế trước đây chủ yếu tiếp cận vấn đề ở khía cạnh công cụ quản lý đơn lẻ, tài chính thuần túy hoặc chính sách công nghiệp, mà chưa xây dựng một khung lý luận kinh tế chính trị hoàn chỉnh về thể chế thúc đẩy đầu tư khoa học công nghệ của doanh nghiệp. Từ việc phân tích các thành tựu và hạn chế của tài liệu hiện có, chương này xác định rõ 4 khoảng trống nghiên cứu làm cơ sở triển khai các nội dung tiếp theo của luận án.

Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn thể chế thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ

Chương 2 làm rõ nội hàm các khái niệm nền tảng: thể chế, thể chế kinh tế, thể chế chính thức và phi chính thức, thể chế dung nạp và loại trừ. Luận án luận giải cấu trúc thể chế thúc đẩy đầu tư khoa học công nghệ dựa trên mô hình ba thành tố: "luật chơi" (hệ thống pháp luật, chuẩn mực), "người chơi" (Nhà nước, doanh nghiệp, viện, trường) và "sân chơi" (cơ chế vận hành, thị trường công nghệ). Tác giả thiết lập hệ thống 6 tiêu chí đánh giá hiệu quả và 5 nhóm nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình ra quyết định đầu tư vốn của doanh nghiệp. Về kinh nghiệm thực tiễn, chương 2 phân tích các mô hình thúc đẩy đầu tư khoa học công nghệ của một số quốc gia (tiêu biểu như Nhật Bản với cơ chế để doanh nghiệp đóng vai trò nhà tài trợ chính cho R&D dựa trên áp lực cạnh tranh thị trường, Hoa Kỳ, Trung Quốc và một số nước OECD), từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về vai trò kiến tạo của Nhà nước, cơ chế tài chính linh hoạt và việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Chương 3: Thực trạng thể chế thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ ở Việt Nam giai đoạn 2011-2023

Chương 3 tập trung phân tích thực trạng xây dựng và thực thi thể chế trong giai đoạn 2011-2023, chỉ ra những kết quả đạt được, các hạn chế và nguyên nhân cốt lõi. Luận án tổng hợp các dữ liệu thực tế phản ánh bức tranh thể chế và hoạt động đầu tư của doanh nghiệp:

Chỉ tiêu / Tiêu chí thực trạng Dữ liệu và thực trạng ghi nhận trong văn bản Căn cứ trích xuất
Xếp hạng Chất lượng quy định pháp luật Năm 2021: 93/132; Năm 2022: 83/132; Năm 2023: 94/132; Năm 2024: 95/133 Báo cáo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (WIPO)
Tỷ lệ cơ cấu nguồn vốn đầu tư KH&CN 10 năm trước: Nhà nước 70% - 80%; Hiện nay: Doanh nghiệp và xã hội 48%, Nhà nước 52% Đánh giá tổng hợp của luận án
Quy mô số lượng doanh nghiệp 857.551 doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (tính đến năm 2021) Số liệu thống kê trong luận án
Trình độ công nghệ của doanh nghiệp Khoảng 80% doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng công nghệ lạc hậu từ 3 đến 4 thế hệ so với thế giới Công trình của Lại Trần Tùng được trích dẫn
Tỷ trọng kinh tế số trong GDP Hiện nay đạt khoảng 10%; Mục tiêu năm 2025: 20%; Mục tiêu năm 2030: 30% Quyết định số 749/QĐ-TTg và Văn kiện Đại hội XIII

Luận điểm chính của chương 3 chỉ ra rằng mặc dù tỷ lệ vốn xã hội hóa cho khoa học công nghệ đã tăng lên tiệm cận mức 48%, khung pháp lý vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Thủ tục thành lập và giải ngân Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp còn cứng nhắc, phức tạp, khiến doanh nghiệp e ngại sử dụng; cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ khoa học còn nặng tính hành chính, thiếu quy định chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu. Thị trường khoa học và công nghệ vận hành còn trầm lắng, liên kết ba nhà (Nhà nước - Viện, trường - Doanh nghiệp) còn lỏng lẻo, dẫn đến phần lớn kết quả nghiên cứu không được thương mại hóa, trong khi đa số doanh nghiệp nhỏ và vừa không có đủ năng lực tài chính và kỹ năng để tự đổi mới công nghệ.

Chương 4: Phương hướng, giải pháp tăng cường hoàn thiện thể chế thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ ở Việt Nam đến năm 2030

Chương 4 xác định phương hướng hoàn thiện thể chế gắn với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, tận dụng thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chiến lược chuyển đổi số quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Các nhóm giải pháp chủ yếu được đề xuất bao gồm:

  • Hoàn thiện hệ thống luật pháp và quy định quản lý: Sửa đổi, bổ sung các luật liên quan đến khoa học công nghệ, đầu tư và thuế nhằm tạo hành lang pháp lý thông thoáng, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, giảm thiểu sự can thiệp hành chính trực tiếp của Nhà nước vào thị trường.
  • Đổi mới cơ chế tài chính và quỹ khoa học công nghệ: Trao quyền tự chủ thực chất cho doanh nghiệp trong việc trích lập và sử dụng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ; đơn giản hóa thủ tục thanh quyết toán theo hướng khoán chi đến sản phẩm cuối cùng; ban hành cơ chế chấp nhận rủi ro có kiểm soát đối với các hoạt động R&D và đổi mới sáng tạo mang tính đột phá.
  • Phát triển đồng bộ thị trường khoa học và công nghệ: Khơi thông các tổ chức trung gian, sàn giao dịch công nghệ, đẩy mạnh thương mại hóa kết quả nghiên cứu từ các trường đại học và viện nghiên cứu; xây dựng cơ sở dữ liệu số dùng chung về cung - cầu công nghệ và theo dõi năng lực công nghệ của doanh nghiệp.
  • Thúc đẩy vai trò dẫn dắt của các doanh nghiệp lớn và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa: Khuyến khích các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn trở thành hạt nhân đầu tư công nghệ; thực thi hiệu quả Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua các chương trình tín dụng ưu đãi, vườn ươm công nghệ và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án có những đóng góp cụ thể:

  • Hệ thống hóa các quan điểm kinh tế chính trị và lý thuyết thể chế về vai trò của đầu tư phát triển khoa học công nghệ đối với năng suất và tăng trưởng kinh tế.
  • Làm sáng tỏ nội hàm khoa học của các khái niệm "thể chế thúc đẩy" và "thể chế thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ" dưới góc nhìn kinh tế chính trị trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá gồm 6 tiêu chí và xác định 5 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến thể chế thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư cho khoa học công nghệ.
  • Luận giải cơ chế kết hợp giữa động lực nội tại của doanh nghiệp với vai trò kiến tạo, điều tiết của Nhà nước trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Về mặt thực tiễn, luận án mang lại các giá trị:

  • Cung cấp bức tranh toàn diện và khách quan về thực trạng tạo lập, vận hành và tác động của thể chế đối với đầu tư khoa học công nghệ của doanh nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2011-2023 qua các chỉ số cụ thể (xếp hạng GII, tỷ lệ phân bổ vốn ngân sách và xã hội, mức độ lạc hậu công nghệ).
  • Chỉ rõ những điểm nghẽn thể chế trong việc vận hành các quỹ khoa học công nghệ, thủ tục hành chính, bảo hộ quyền tài sản và thị trường khoa học công nghệ.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ đến năm 2030, tầm nhìn 2045 làm căn cứ thực tiễn cho các cơ quan quản lý nhà nước trong hoạch định đường lối, hoàn thiện thể chế kinh tế và ban hành chính sách huy động nguồn lực đầu tư cho R&D.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Phạm vi nội dung tập trung chủ yếu vào thể chế chính thức (các quy định, luật lệ, cơ chế nhà nước), chưa đi sâu phân tích toàn diện các quy chuẩn thuộc thể chế phi chính thức (tập quán kinh doanh, chuẩn mực đạo đức, văn hóa doanh nghiệp).
  • Về phạm vi chủ thể, do tổng thể doanh nghiệp quá lớn (857.551 doanh nghiệp năm 2021), nghiên cứu chỉ tập trung phân tích một số doanh nghiệp điển hình thuộc ba nhóm ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, chưa bao quát chi tiết tất cả các phân ngành hẹp.
  • Giới hạn thời gian khảo sát thực trạng dừng lại ở mốc năm 2023, các tác động chính sách phát sinh từ năm 2024 trở đi chưa được cập nhật dữ liệu kiểm chứng thực tế.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phân tích mối quan hệ tương tác giữa thể chế phi chính thức và thể chế chính thức trong việc thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ.
  • Khảo sát sâu theo từng phân ngành công nghệ mũi nhọn (như trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, bán dẫn) và phân tích so sánh định lượng hành vi đầu tư giữa doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo thiết thực đối với các nhóm đối tượng:

  • Các nhà hoạch định chính sách tại Ban Kinh tế Trung ương, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính: Tham khảo hệ thống luận điểm và giải pháp tại Chương 4 để sửa đổi quy định về Quỹ phát triển khoa học công nghệ, cơ chế tự chủ tài chính và phát triển thị trường công nghệ.
  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Kinh tế chính trị, Quản lý kinh tế: Sử dụng Chương 1 và Chương 2 như tài liệu tổng quan học thuật có hệ thống về lý thuyết thể chế và phương pháp đánh giá thể chế kinh tế.
  • Các hiệp hội doanh nghiệp (như VCCI) và lãnh đạo doanh nghiệp: Tham khảo để nhận diện các rào cản chính sách, nâng cao năng lực tiếp cận các nguồn hỗ trợ và chủ động xây dựng chiến lược đầu tư cho R&D.

Câu hỏi thường gặp

1. Chỉ số Chất lượng quy định pháp luật của Việt Nam biến động như thế nào trong Báo cáo GII giai đoạn 2021-2024? Theo Báo cáo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) của WIPO được trích dẫn trong luận án, chỉ số Chất lượng quy định pháp luật của Việt Nam năm 2021 xếp hạng 93/132 quốc gia, năm 2022 tăng lên hạng 83/132, năm 2023 tụt xuống vị trí 94/132 và năm 2024 xếp hạng 95/133 quốc gia, phản ánh sự cải thiện thể chế chưa rõ nét.

2. Cơ cấu nguồn vốn đầu tư cho khoa học và công nghệ tại Việt Nam đã có sự thay đổi như thế nào sau 10 năm? Văn bản nêu rõ: Cách đây 10 năm, nguồn vốn đầu tư cho khoa học và công nghệ chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước, chiếm tỷ trọng từ 70% đến 80%. Đến giai đoạn hiện nay, tỷ lệ này đã tương đối cân bằng khi nguồn vốn từ doanh nghiệp và xã hội chiếm khoảng 48%, trong khi nguồn từ Nhà nước chiếm 52%.

3. Luận án ghi nhận thực trạng về trình độ công nghệ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam ra sao? Dẫn theo công trình nghiên cứu của Lại Trần Tùng (2014), luận án chỉ ra rằng tại Việt Nam hiện có tới 80% doanh nghiệp vừa và nhỏ đang sử dụng công nghệ lạc hậu từ 3 đến 4 thế hệ so với trình độ chung của thế giới, dẫn đến năng lực nghiên cứu và đổi mới công nghệ của khối này còn rất thấp.

4. Khung lý thuyết của luận án xác định thể chế thúc đẩy gồm những thành tố cấu thành nào? Kế thừa lý thuyết thể chế và các nghiên cứu của Tạ Ngọc Tấn, Trần Quốc Toản, luận án cấu trúc thể chế phát triển đồng bộ qua ba thành tố cơ bản: (1) "Luật chơi" - hệ thống luật pháp, chính sách và quy chuẩn tạo hành lang pháp lý; (2) "Người chơi" - tổ chức bộ máy và hoạt động của các chủ thể gồm Đảng, Nhà nước, doanh nghiệp, viện, trường; (3) "Sân chơi" - cơ chế vận hành và môi trường hoạt động của các chủ thể trên thị trường.

5. Luận án đề xuất những tiêu chí nào để đánh giá thể chế thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư khoa học công nghệ? Tác giả xác định 6 tiêu chí đánh giá bao gồm: (i) Mức độ tác động đến sự phát triển lực lượng sản xuất; (ii) Khả năng thiết lập định hướng tổ chức sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu dùng; (iii) Mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật; (iv) Sự hoàn thiện của cơ chế, chính sách; (v) Sự phát triển của các chủ thể thể chế; (vi) Sự phát triển môi trường hoạt động của doanh nghiệp liên quan đến R&D và đổi mới công nghệ.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Ánh đã giải quyết có hệ thống vấn đề thể chế thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ ở Việt Nam dưới góc nhìn của chuyên ngành Kinh tế chính trị. Công trình đã làm rõ khung lý luận với hệ thống 6 tiêu chí đánh giá và 5 nhóm nhân tố ảnh hưởng, đồng thời đánh giá toàn diện thực trạng giai đoạn 2011-2023 với các dữ liệu thực tế về cơ cấu vốn và xếp hạng thể chế. Những hạn chế về cơ chế tài chính, rủi ro thủ tục và thị trường khoa học công nghệ được luận án phân tích là cơ sở xác đáng cho hệ thống giải pháp hoàn thiện thể chế hướng tới mục tiêu năm 2030 và tầm nhìn 2045. Đây là công trình nghiên cứu có giá trị khoa học và thực tiễn cao đối với công tác hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.