đặt vấn đề chính phủ làm thế nào có thể cải thiện môi trƣờng thúc đẩy tiến bộ của khoa học và công nghệ. Bài viết gợi ý khả năng tạo ra, phân phối và khai thác tri thức đã trở thành một lợi thế cạnh tranh, tạo ra của cải và cải thiện chất lƣợng cuộc sống. Một số tính năng chính của sự biến đổi này đƣợc tạo ra bởi sự tác động ngày càng tăng của công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) vào nền kinh tế và xã hội, ứng dụng nhanh chóng của tiến bộ khoa học gần đây trong các sản phẩm và quy trình mới, một tỷ lệ cao của sự đổi mới giữa các quốc gia trong OECD, một sự thay đổi các ngành công nghiệp, dịch vụ kiến thức chuyên sâu hơn và tăng yêu cầu về kỹ năng. Những thay đổi này có nghĩa là công nghệ và đổi mới khoa học, kỹ thuật đã trở thành chìa khóa để cải thiện hiệu suất kinh tế và phúc lợi xã hội.
Để có đƣợc những lợi ích từ sự chuyển đổi này, chính phủ phải ban hành các chính sách hỗ 14 trợ. Cần hoàn thiện các công cụ chính sách qua việc giới hạn về chi tiêu công, tăng tính cạnh tranh và toàn cầu hóa, những thay đổi trong các trình điều khiển của quá trình đổi mới, và một sự hiểu biết sâu hơn về vai trò của khoa học và công nghệ trong hoạt động kinh tế, thay đổi xã hội. Vai trò tích cực của chính phủ là không thể thiếu trong những lĩnh vực khác, chẳng hạn nhƣ đầu tƣ vào khoa học và nghiên cứu cơ bản, bảo đảm hành lang pháp lý, hành chính cho sự tham gia của các bên liên quan. Nghiên cứu về “The role of Technology in business” (“Vai trò của công nghệ” trong kinh doanh)1 của nhóm Oklahoma SBDC cho thấy nhu cầu ngày càng tăng, khiến cho việc tách hai thứ công nghệ và kinh doanh ra khỏi nhau gần nhƣ là điều không thể.
Tất cả các ngành công nghiệp chính sẽ rơi vào tình trạng suy sụp thảm khốc nếu loại bỏ công nghệ khỏi hoạt động kinh doanh, bởi vì phần lớn các hoạt động kinh doanh và giao dịch bằng cách nào đó đều liên quan công nghệ. Công nghệ trong kinh doanh đã làm cho cuộc sống trở nên đáng giá. Không thể phủ nhận rằng các mối đe dọa tấn công công nghệ đối với doanh nghiệp đang gia tăng tràn lan, ví nhƣ hacker và các hoạt động độc hại khác, vì vậy cần phải có đủ trách nhiệm và hành động trong việc sử dụng sức mạnh của nhà nƣớc trong giải quyết các mối đe dọa này để phát triển. Gurupanch, Shreelekha Virulkar trong bài viết “Role of Science and Technology in Business Growth” [65] (2015) cho rằng, sự nỗ lực đổi mới, bao gồm nghiên cứu và phát triển chính thức, vẫn là điều kiện thiết yếu của tăng trƣởng.
Việc áp dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ, kết hợp với tinh thần kinh doanh và các cách tiếp cận sáng tạo để tạo ra cũng nhƣ cung cấp hàng hóa, dịch vụ sẽ làm cho hoạt động kinh tế hiệu quả hơn. Do vậy, cấu trúc thị trƣờng và môi trƣờng pháp lý là điều kiện cần thiết cho phép mở rộng các hoạt động của doanh nghiệp có năng suất cao hơn. 1 Oklahoma SBDC, The role of Technology in business, An Original Article from bookfresh.com, https://www.org/the-role-of-technology-in-business/ 15 Nghiên cứu của P. Horan (2020) “The role of science, technology and innovation in the UN 2030 agenda” [75] (chƣơng trình nghị sự 2030 của UN), cho rằng con đƣờng chuyển đổi sang phát triển kinh tế toàn diện và bền vững với môi trƣờng phải chuyên sâu về khoa học, công nghệ và đổi mới.
Do vậy, yêu cầu đặt ra phải đƣợc kết hợp để tạo ra các phƣơng thức mới về tài chính, quản trị và chính sách công ở tất cả các cấp cùng đƣợc định hƣớng lại, từ đó tạo ra những thay đổi trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học, môi trƣờng, công nghệ, các hệ thống quản lý ở các quốc gia phải đạt đƣợc mục tiêu phát triển bền vững. Nên cần có cơ chế tạo thuận lợi cho công nghệ toàn cầu của UN nhằm mục đích thúc đẩy khả năng tiếp cận, chuyển giao, tăng năng lực R&D, sức đổi mới sáng tạo của các quốc gia. Cuốn “Cre ti g the future 2020 visio for s ie e & rese r h” (Sáng tạo tƣơng lai: hƣớng khoa học và nghiên cứu năm 2020) của nhóm nghiên cứu Strategy, Bộ phận Kinh doanh, đổi mới và kỹ năng, nhằm tƣ vấn đề xuất vốn đầu tƣ dài hạn cho khoa học và nghiên cứu ở nƣớc Anh trong quá trình đổi mới. Ý tƣởng của các tác giả là mong muốn làm cho nƣớc Anh trở thành nơi tốt nhất trên thế giới trong việc phát triển khoa học và nghiên cứu.
Giải thích lý do tại sao Chính phủ phải thực hiện một cam kết lâu dài để đầu tƣ cho khoa học và kết cấu hạ tầng cho nghiên cứu nhƣ: tăng vốn đầu tƣ trong thực tế đến 1,1 tỷ bảng Anh giai đoạn 2015-2016 và tăng nó phù hợp với lạm phát mỗi năm đến giai đoạn 2020-2021. Phân tích quan điểm của chính phủ trong việc tạo cơ hội cho đầu tƣ vào khoa học và nghiên cứu bằng cách Chính phủ cam kết công bố một lộ trình khoa học về vốn, đặt ra nhiệm vụ lâu dài với tầm nhìn chiến lƣợc đƣa khoa học và cơ sở hạ tầng nghiên cứu lên hàng đầu thế giới. Các tác giả chứng tỏ các cam kết trên bằng hai câu hỏi quan trọng để thông báo lộ trình cho sự phát triển này: (i) Thúc đẩy cân bằng gì giữa đáp ứng yêu cầu vốn tại các dự án nghiên cứu của cá nhân và mức độ tổ chức, liên quan đến sự cần thiết phải đầu tƣ quy mô lớn ở cấp quốc gia và quốc tế? (ii) Điều gì cần đƣợc ƣu tiên của Vƣơng quốc Anh trong việc đầu tƣ vốn quy mô lớn vì lợi ích quốc gia, bao gồm cả sự cộng tác thích hợp 16 trong các dự án quốc tế và việc hoạch định chính sách đầu tƣ cho khoa học - công nghệ trong dài hạn ở một quốc gia. Nghiên cứu “UNESCO Science Report 2010 - The current Status of S ie e rou d the World” [76] (Báo cáo khoa học của UNESCO năm 2010 - Tình trạng hiện nay của khoa học trên toàn thế giới), các chuyên gia của Bộ phận chính sách Khoa học và Phát triển bền vững thuộc UNESCO đã đƣa ra một công bố một số lƣợng lớn các dữ liệu cho thấy vai trò ngày càng tăng của tri thức khoa học và công nghệ trên toàn cầu.
Trong những năm gần đây, có khá nhiều công bố khác nữa về vai trò của khoa học, công nghệ đối với sản xuất kinh doanh và tăng trƣởng, phát triển kinh tế. Nổi lên nhƣ: “Technology, globalization, and international o petitive ess Ch lle ges for developi g ou tries” (Công nghệ, toàn cầu hóa và cạnh tranh quốc tế: Thách thức cho các nƣớc đang phát triển) của Carl Dahlman viết trong cuốn “I dustri l Develop e t for the 21st Ce tury” (Phát triển công nghiệp cho thế kỷ 21) [68]; “The Politi l E o o y of S ie e, Te h ology d I ov tio ” [64] (Kinh tế chính trị của khoa học, công nghệ và đổi mới) của Ben Martin and Paul Nightingale (2000); cuốn “Knowledge, Technology and Complexity in Economic Growth” (Tri thức, Công nghệ và Sự phức tạp trong Tăng trƣởng Kinh tế) của Ricardo Hausmann, José Domínguez (2023) [74]… Các nghiên cứu đều có chung nhận thức, trong kinh tế học, ngƣời ta chấp nhận rộng rãi rằng sản phẩm R&D, công nghệ là động lực chính cho tăng trƣởng kinh tế của các doanh nghiệp, các quốc gia. Tiến bộ công nghệ cho phép sản xuất hiệu quả hơn nhiều hàng hóa và dịch vụ tốt hơn, đó là điều mà sự thịnh vƣợng phụ thuộc vào. Trong điều kiện hiện nay, khoa học và công nghệ lại càng đƣợc coi là yếu tố hàng đầu quyết định lợi thế cạnh tranh của sản phẩm, của các doanh nghiệp và của nền kinh tế quốc dân.
Các nghiên cứu liên quan thể chế và thể chế phát triển Dƣới góc độ tiếp cận hệ thống lý thuyết của C. Mác, thể chế thuộc cơ sở hạ tầng kinh tế (những quan hệ sản xuất) thƣờng xuyên thay đổi và đến một thời điểm nhất định làm thay đổi cơ bản trong kiến trúc thƣợng tầng. Theo học thuyết hình thái kinh tế - xã hội trong khi chỉ ra các quy luật phát triển cơ bản của lịch sử nhân loại, đã chỉ rõ quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lƣợng sản xuất, cho dù xét về mặt các thời đại kế tiếp nhau thì các quan hệ sản xuất trong lịch sử nhân loại cũng phát triển đi lên. Song các quan hệ sản xuất với ba nhân tố cơ bản (sở hữu, quản lý, phân phối) luôn quan hệ chặt chẽ với thể chế có thể cản trở hay tạo điều kiện cho lực lƣợng sản xuất và nhiều mặt của xã hội trì trệ hay phát triển.
Theo quan điểm mácxít về học thuyết giá trị thặng dƣ, khi bàn về lợi nhuận siêu ngạch liên quan ứng dụng máy móc, công nghệ, phƣơng tiện khoa học cho rằng, trang thiết bị công nghệ hiện đại làm tăng sức sản xuất, từ đó doanh nghiệp có thể thu đƣợc lợi n huận siêu ngạch. Tiếp theo sau này, khi vấn đề thể chế bắt đầu đƣợc đặc biệt quan tâm trong một số ngành khoahọc xãhội vànhânvăn nhƣ kinh tế học, ch ính trị học, luật học… March, J.Olsen (1984) trong tác phẩm “The New I stitutio lis Org iz tio l F tors i Politi l Life” (American Political Science Review 78, 738-49), đã tiếp cận thể chế từ góc độ các nhân tố tổ chức trong đời sống chính trị nhằm khắc phục khuynh hƣớng cá nhân chủ nghĩa để hƣớng tới lựa chọn tổ chức hợp lý. Hodgson (2006) với bài viết “Wh t re I stitutio s” (Journal of Economic Issues, Vol. 18), cho rằng thể chế là loại cấu trúc quan trọng nhất của xã hội và tạo nên đặc tính của xã hội.
Thể chế do con ngƣời tạo ra và đến lƣợt nó lại quy định phƣơng thức hoạt động, sống và suy nghĩ của các cá nhân trong cộng đồng, dân tộc. Các thể chế cho phép kỳ vọng và hành động một cách trật tự bằng cách áp dụng định dạng nhất quán cho hoạt động của con ngƣời, nhƣ giúp xác lập quyền sở hữu và thực thi các thỏa thuận.