CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ 1. Khái niệm dự án đầu tư Dự án đầu tư có thể được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau: Theo Luật Đấu thầu từ đầu năm 2005: “Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”. Theo nghị định 52/1999/NĐ-CP ngày 08/7/1999 thì "Dự án đầu tư" là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định (chỉ bao gồm hoạt động đầu tư trực tiếp). Về mặt hình thức: Dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch nhằm đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai.
Xét trên góc độ quản lý: Dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế xã hội trong một thời gian dài. Trên góc độ kế hoạch hóa: Dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội, làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ. Xét theo góc độ này dự án đầu tư là một hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hóa nền kinh tế nói chung ( Một đơn vị sản xuất kinh doanh cùng một thời kỳ có thể thực hiện nhiều dự án). Xét về mặt nội dung: Dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động và chi phí cần thiết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai.
Từ khái niệm trên cho thấy, một dự án đầu tư gồm 4 thành phần chính: Mục tiêu dự án: Mục tiêu của dự án được thể hiện ở hai mức độ: 6 + Mục tiêu phát triển thể hiện sự đóng góp của dự án vào việc thực hiện các mục tiêu chung của một quốc gia. Mục tiêu này được thể hiện thông qua những lợi ích dự án mang lại cho nền kinh tế xã hội. + Mục tiêu trực tiếp của chủ đầu tư: Đó là các mục tiêu cụ thể cần đạt được của việc thực hiện dự án. Mục tiêu này được thực hiện thông qua những lợi ích tài chính chủ đầu tư thu được từ dự án Các kết quả: Đó là những kết quả cụ thể, có thể định lượng được tạo ra các hoạt động khác nhau của dự án.
Đây là điều kiện cần thiết để thực hiện được các mục tiêu của dự án. Các hoạt động: Là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện trong dự án để tạo ra các kết quả nhất định. Những nhiệm vụ hoặc hành động này cùng với một lịch biểu và trách nhiệm cụ thể của các bộ phận thực hiện sẽ tạo thành kế hoạch làm việc của dự án. Các nguồn lực: Về vật chất, tài chính và con người cần thiết để tiến hành các hoạt động của dự án.
Giá trị hoặc chi phí của các nguồn lực này chính là vốn đầu cần cho dự án. Đặc trưng của dự án đầu tư Dự án đầu tư có những đặc trưng cơ bản sau: - Dự án đầu tư có mục đích, kết quả xác định. Tất cả các dự án đầu tư đều phải có kết quả được xác định rõ. Mỗi dự án đầu tư lại bao gồm một tập hợp nhiều nhiệm vụ cần được thực hiện.
Mỗi nhiệm vụ cụ thể lại có một kết quả riêng, độc lập. Tập hợp kết quả cụ thể các nhiệm vụ hình thành nên kết quả chung của dự án đầu tư. Nói cách khác, dự án đầu tư là một hệ thống phức tạp, được phân chia thành nhiều bộ phận, phân hệ khác nhau để thực hiện và quản lý nhưng đều phải thống nhất đảm bảo các mục tiêu chung về thời gian, chi phí và việc hoàn thành chất lượng cao. - Dự án đầu tư có chu kì phát triển riêng và có thời gian tồn tại hữu hạn.
Dự án đầu tư là một sự sáng tạo. Giống như các thực thể sống, dự án trải qua các giai đoạn: hình thành, phát triển, có giai đoạn bắt đầu và kết thúc… Dự án đầu tư không kéo dài mãi mãi. Khi dự án đầu tư kết thúc, kết quả dự án đầu tư được chuyển giao cho bộ phận quản lý vận hành, nhóm quản trị dự án giải tán. 7 - Sản phẩm của dự án đầu tư mang tính đơn chiếc, độc đáo(mới lạ).
Khác với quá trình sản xuất liên tục và gián đoạn, kết quả của dự án đầu tư không phải là sản phẩm sản xuất hàng loạt, mà có tính khác biệt cao. Sản phẩm hoặc dịch vụ do dự án đầu tư mang lại là duy nhất. Tuy nhiên, ở nhiều dự án đầu tư khác, tính duy nhất ít rõ ràng hơn và bị che đậy bởi tính tương tự giữa chúng. Nhưng điều khẳng định là chúng vẫn có thiết kế khác nhau, vị trí khác, khách hàng khác… Điều ấy cũng tạo nên nét độc nhất, độc đáo, mới lạ của dự án đầu tư.
- Dự án đầu tư liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận quản lý chức năng và quản lý dự án. Dự án đầu tư nào cũng có sự tham gia của nhiều bên hữu quan như chủ đầu tư, người hưởng thụ dự án, các nhà tư vấn, nhà thầu, các cơ quan quản lý nhà nước. Tùy theo tính chất của dự án đầu tư, yêu cầu của chủ đầu tư mà sự tham gia của các thành phần trên cũng khác nhau. Giữa bộ phận quản lý chức năng và bộ phận quản lý dự án đầu tư thường xuyên có mối quan hệ với nhau và cùng phối hợp thực hiện các nhiệm vụ nhưng mức độ tham gia của các bộ phận không giống nhau.
Để thực hiện thành công mục tiêu của dự án đầu tư, các nhà quản lý dự án cần duy trì thường xuyên mối quan hệ với các bộ phận quản lý khác. - Môi trường hoạt động va chạm. Quan hệ giữa các dự án đầu tư là quan hệ chia nhau cùng một nguồn lực khan hiếm của doanh nghiệp, tổ chức. Dự án “cạnh tranh” lẫn nhau và với các hoạt động tổ chức sản xuất khác về tiền vốn, nhân lực, thiết bị… Trong quản lý, nhiều trường hợp, các thành viên ban quản lý dự án lại có “hai thủ trưởng” nên không biết phải thực hiện mệnh lệnh của cấp trên trực tiếp nào nếu hai mệnh lệnh lại mâu thuẫn nhau… Do đó môi trường quản lý dự án có nhiều quan hệ phức tạp nhưng năng động.
- Tính bất định và độ rủi ro cao. Hầu hết các dự án đầu tư đòi hỏi tiền vốn, vật tư và lao động rất lớn để thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Mặt khác thời gian đầu tư và vận hành kéo dài nên các dự án đầu tư phát triển thường có độ rủi ro cao. Phân loại dự án đầu tư 8 Để thuận tiện cho việc theo dõi, quản lý và đề ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư cần tiến hành phân loại các dự án đầu tư và xem xét đặc điểm hoạt động của chúng.
Tùy thuộc theo yêu cầu của công tác quản lý có nhiều cách phân loại dự án khác nhau. Việc phân loại dự án theo quy định hiện hành là sự kết hợp giữa các yếu tố có xây dựng, quy mô dự án và tính chất ngành nghề của dự án. Có thể phân loại các dự án đầu tư theo các tiêu thức sau: a) Theo lĩnh vực hoạt động trong xã hội của dự án đầu tư Có thể phân chia thành dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng ( Kỹ thuật và xã hội)… Hoạt động của các dự án đầu tư này có quan hệ tương hỗ với nhau. Chẳng hạn các dự án đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật và cơ sở hạ tầng tạo điều kiện cho các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, còn các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh đến lượt mình lại tạo tiềm lực cho các dự án đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ tầng và các dự án đầu tư khác.
b) Theo giai đoạn hoạt động của các dự án đầu tư trong quá trình tái sản xuất xã hội Có thể phân loại các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh thành dự án đầu tư thương mại và dự án đầu tư sản xuất. Dự án đầu tư thương mại là loại dự án đầu tư có thời gian thực hiện đầu tư và hoạt động của các kết quả đầu tư để thu hồi vốn đầu tư ngắn, tính chất bất định không cao lại dễ dự đoán và dự đoán dễ đạt độ chính xác cao. Dự án đầu tư sản xuất là loại dự án đầu tư có thời hạn hoạt động dài hạn (5,10,20 năm hoặc lâu hơn) vốn đầu tư lớn, thu hồi chậm, thời gian thực hiện đầu tư lâu, độ mạo hiểm cao, tính chất kỹ thuật phức tạp, chịu tác động của nhiều yếu tố bất định trong tương lai không thể dự đoán hết và dự đoán chính xác được (Về nhu cầu, giá cả đầu vào và đầu ra, cơ chế chính sách, tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật, thiên tai, sự ổn định về chính trị…) Loại dự án đầu tư này phải được chuẩn bị kỹ, phải cố gắng dự đoán những gì có liên quan đến kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư trong tương lai xa, phải xem xét các biện biện pháp xử lý khi các yếu tố bất định xảy ra để bảo đảm thu hồi vốn và có lãi khi hoạt động của dự án đầu tư kết thúc (đã hoạt động hết đời mình). 9 Trong thực tế, người có tiền thích đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh thương mại.