Chương 1: Cơ sở lý luận chung về ĐTPT trong DN Chương 2: Thực trạng DTPT cua CTCP DAP — VINACHEM giai đoạn 2018 — 2021 Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu qua hoạt động DTPT tai CTCP DAP — VINACHEM. CHUYEN NGANH KT DAU TU GVHD: THS.LƯƠNG HUONG GIANG CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VE DTPT TRONG DN 1. Khái niệm về DTPT trong DN Hoạt động đầu tư có thê được thực hiện ở các cấp độ khác nhau và với nhiều hình thức khác nhau như đầu tư công của nhà nước, đầu tư SXKD của các DN. Nhìn chung, dé thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, gia tăng các lợi ích của quốc gia, nhà đầu tư hay DN thì ĐTPT được coi là một hoạt động tất yếu của tất cả các chủ thể.
Theo giáo trình Kinh tế đầu tư của Trường Đại học KTOD thì hoạt động DTPT có thê hiểu: “Dau tự phát triển là bộ phận cơ bản của dau tư, là hoạt động sử dụng vốn trong hiện tại, nhằm tạo ra những tài sản vật chất và trí tuệ mới, năng lực sản xuất mới và duy trì những tài sản hiện có, nhằm tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phat triển; hay là phương thức dau tư trực tiếp giúp lam gia tăng giá trị, năng lực sản xuất và năng lực phục vụ của tài sản”. Đề nền KT của một quốc gia phát trién vững mạnh thì yêu cầu mỗi thành phần trong nền KT đó phải “khỏe mạnh” mà cốt lõi là sự phát triển của các DN. Trong đó khi nhắc đến sự hình thành, phát triển và mở rộng của mỗi DN thì chủ DN hay nhà đầu tư phải chú trọng đến hoạt động ĐTPT xây dựng cơ sở sản xuất, dây truyền sản phâm hay đào tạo nguồn nhân lực. Cũng theo giáo trình Kinh tế đầu tư— NXB Đại học KTOD khái niệm của DTPT trong DN: “Đầu tu phát triển trong doanh nghiệp là hoạt động sử dụng vốn cùng các nguon lực khác trong hiện tại nhằm duy trì sự hoạt động và làm tăng thêm tài sản mới cho doanh nghiệp, tạo thêm việc làm, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao đời sóng các thành viên trong don vi”.
Vai trò của DTPT trong DN Đối với mỗi DN, hoạt động DTPT được thực hiện tốt hay không sẽ mang tinh quyết định ảnh hưởng trực tiếp đến sự ra đời, duy trì, phát triển và đổi mới của DN đó. Nó sẽ trực tiếp cung cấp cho DN cơ sở vật chất, nhà máy, MMTB dé sản xuất, giúp xây dựng một đội ngũ LD lành nghề hay mặt khác còn có thé giúp DN nghiên cứu đổi mới và ứng dụng công nghệ hiện đại. Như vậy, ta có thê thấy DTPT trong DN có một số vai trò chính như sau: e ĐTPT giúp nâng cao tính cạnh tranh của DN trên thị trường. Thị hiếu của người tiêu dùng không ngừng thay đổi, họ luôn đòi hỏi các sản phẩm mới, có mẫu mã đa dạng, chất lượng tốt mà giá cả phù hợp vì vậy đòi hỏi các CHUYÊN NGÀNH KT ĐẦU TƯ GVHD: THS.LƯƠNG HƯƠNG GIANG DN phải không ngừng đầu tu dé đổi mới, cải tiến sản phẩm hay ứng dụng công nghệ hiện đại, cũng như là đưa ra được các chiến lược phù hợp cạnh tranh với các DN khác trên thị trường.
© ĐTPT góp phan nâng cao chất lượng của sản phẩm. Đối với mỗi DN việc cải tiến chất lượng sản phẩm, đổi mới mẫu mã, tinh năng sản phẩm là một điều quan trọng giúp họ tăng vị thế cạnh tranh đối thủ, tránh gây ra hình ảnh “cũ kỹ” đối với người tiêu dùng. Dé thực hiện mục tiêu này, hoạt động DTPT đóng góp một phần rất quan trọng, nó tạo tiền đề cho DN có cơ sở KHCN hiện đại tạo ra các sản phâm có “hàm lượng” công nghệ cao hơn hay giúp chuyên môn hóa hoạt động sản xuât, giảm chi phí đâu vào cho sản phâm. e_ ĐTPT góp phan làm giảm chi phí sản xuất từ đó gia tăng lợi nhuận cho DN.
ĐTPT tạo điều kiện cho DN xây dựng hệ thống máy móc sản xuất hay đào tạo đội ngũ LD lành nghề. giúp ho sản xuất được quy mô lớn sản phẩm ma đồng thời giúp giảm thiêu tối đa chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất. Việc cải tiến sản phẩm thường xuyên thu hút khách hàng cùng với giảm chỉ phí sản xuất từ đó thực hiện mục tiêu lớn là gia tăng lợi nhuận cũng như tăng thêm phần lợi ích cho DN. e_ ĐTPT trực tiếp giúp cho DN đối mới công nghệ, cải tiễn và ứng dụng KHCN vào sản xuất sản phẩm.
Hoạt động DTPT trong DN được thực hiện qua các hình thức khác nhau, DN có thê trực tiếp tạo lập phòng ban nghiên cứu dé phát triển công nghệ sản xuất hoặc họ có thé đầu tư chuyên giao công nghệ, mua sắm nhập khâu MMTB sản xuất từ nước có công nghệ hiện đại từ đó giúp DN thay đổi mẫu mã, chất lượng sản phẩm, tăng năng suất cho DN. e_ ĐTPT tạo điều kiện cho DN nâng cao chất lượng nguồn LD. Thông qua các hoạt động đào tạo chuyên môn quản lý, nâng cao tay nghề người LD, tập huấn cho người LD vận hành MMTB, bù đắp hao phí dé tái sản xuất sức LD của DTPT giúp cho DN có một đội ngũ LD có tay nghề cao, có trình độ kỹ năng, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất, chất lượng sản phẩm cũng như tình CHUYÊN NGÀNH KT ĐẦU TƯ GVHD: THS.LƯƠNG HƯƠNG GIANG hình kinh doanh của DN. Có thê nói đội ngũ LD có chất lượng càng cao thì sản pham tạo ra càng tốt.
Đặc điểm DTPT trong DN ĐTPT trong DN là một hình thức đầu tư trực tiếp, góp phần làm gia tăng giá trị và năng lực sản xuất hay năng lực phục vụ của tài sản trong DN. Thông qua các đánh giá, ta có thé thay DTPT trong DN có một số đặc điểm chính sau: e_ ĐTPT thường là quá trình tổng hợp của nhiều loại nguồn lực. Theo định nghĩa của ĐTPT là hoạt động mà DN sử dụng các nguồn lực để thực hiện các hoạt động sản xuất và kinh doanh của DN. Các nguồn lực ở đây bao gồm: tiền vốn, đất dai, nhà cửa, MMTB, nguồn nhân lực.
tùy theo từng hình thức DTPT khác nhau mà DN sử dụng hay kết hợp các nguồn lực khác nhau cho phù hợp. e Đối tượng của hoạt động ĐTPT là các yếu tổ ma DN hướng tới nhằm thực hiện một mục tiêu xác định. Dựa theo các quan điểm khác nhau mà ta có các cách phân loại khác nhau về đối tượng DTPT, về cơ bản dựa trên góc độ tài sản thì có thê chia đối tượng thành tài sản vô hình và tài sản hữu hình. Hoạt động DTPT tài sản hữu hình có thê bao gồm xây dựng nhà xưởng, lắp đặt MMTB, hệ thống thông tin, hệ thống điện nước.
còn ĐTPT tài sản vô hình như phat minh sáng chế công nghệ, sản phẩm, gây dựng uy tín thương hiệu. e_ Kết quả của hoạt động DTPT là sự gia tăng về tài sản vật chất, tài san trí tuệ hay tài san vô hình. Khi DN thực hiện hoạt động DTPT là hướng tới một hoặc một nhóm mục tiêu xác định, nhằm gia tăng giá tri tài của sản hữu hình (cơ sở vật chất, nhà Xưởng, MMITB.), tài sản trí tuệ (nâng cao chuyên môn, kỹ thuật của đội ngũ LD; nâng cao trình độ văn hóa của nhân viên.) hay gia tăng giá tri của tài sản vô hình (như nghiên cứu phát minh sáng chế sản pham công nghệ, bản quyền, uy tín thương hiệu.) từ đó góp phần làm tăng năng lực sản xuất của DN, tăng thêm lợi ích cho nhà đầu tư. © Quy mô các nguồn lực sử dụng cho hoạt động DTPT trong DN thường là rất lớn.
CHUYÊN NGÀNH KT ĐẦU TƯ GVHD: THS.LƯƠNG HƯƠNG GIANG Nguồn lực sử dụng cho hoạt động DTPT rất đa dạng bao gồm tiền vốn, tài sản, đất đai, nhân lực. dé thực hiện hoạt động đầu tư DN phải bỏ ra một nguồn lực có quy mô lớn, mà vốn lớn có khả năng sẽ bị nằm “khê đọng” trong suốt quá trình đầu tư, do vậy đòi hỏi DN phải xây dựng phương án huy động vốn có hiệu quả, có kế hoạch, chính sách quản lý và sử dụng nguồn lực chặt chẽ, đúng đắn, bố trí các nguồn lực sao cho phù hợp với tiến độ đầu tư hay thực hiện đầu tư có trọng tâm. Mặt khác, LĐ là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng của đầu tư vì vậy DN cần phải chú trọng đến việc đào tạo nguồn nhân lực có cả chuyên môn hành nghề và đạo đức nghề nghiệp. e Thời gian dau tw và vận hành kết quả dau tư thường kéo dài.
Quá trình đầu tư bắt đầu từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư đến thực hiện đầu tư, DN sẽ phải thực hiện nhiều bước như nghiên cứu cơ hội, lập dự án, lập kế hoạch, quyết định đến tiến hành xây dựng dau tư; quá trình này có thé kéo dai hàng năm do đó đòi hỏi DN phải có kế hoạch huy động vốn cho phù hợp với với thời gian kéo dài, có kế hoạch phân chia nguồn lực cho hợp lý với tiễn độ dự án, tránh các tinh trạng thiếu vốn khiến đầu tư chậm tiễn độ. Do thời gian đầu tư kéo dai nên khi đưa dự án vào vận hành có thể gặp phải một số tình huống thay đổi của môi trường đầu tư nên sẽ ảnh hướng đến công tác vận hành kết quả có thé theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực vì vậy đối với các DN khi quyết định thực hiện DTPT cần quan tâm đến các yếu tổ độ trễ của thời gian khi đầu tư để xây dựng các phương án dự báo thích hợp như về nhu cầu thị trường trong tương lai, các yêu tố ảnh hưởng. từ đó đưa ra phương án đầu tư hợp lý. e DTPT trong DN có độ rủi ro cao.
Do hoạt động DTPT mang các đặc điểm có quy mô nguồn lực lớn, thời gian đầu tư và vận hành kết quả kéo dài. nên đây là hoạt động có mức độ rủi ro thường cao. Rui ro có thé xảy ra do các yếu tố khách quan và chủ quan như sự quản lý yếu kém, công tác chuẩn bị còn thiếu xót, đội ngũ thực hiện dự án thiếu chuyên môn, sự thay đổi của môi trường đầu tư. vì vậy đòi hỏi DN khi đầu tư cần chuẩn bị kỹ các bước như nhận diện rủi ro, đánh giá mức độ rủi ro có thể xảy ra và cuối cùng xây dựng các kịch ban ứng phó và phòng chống rủi ro nhằm hạn chế tối đa các thiệt hại có thé xảy ra hay gia tăng các rủi ro tốt.
CHUYÊN NGÀNH KT ĐẦU TƯ GVHD: THS.LƯƠNG HƯƠNG GIANG 1.