CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÒNG QUAN CÁC NGHIÊN cứu VÈ Ý ĐỊNH • ĐÀU Tư CHỨNG KHOÁN 1.1 Khải niệm liên quan 1.1 Thế hệ Gen z Gen z (viết tắt cùa Generation Z) là một thuật ngữ khá mới và phô biến hiện nay (Nguyền Quốc Anil, 2023). Cụm từ này ám chi nhóm bạn trẻ tuôi mới lớn sinh tìr năm 1995 đến 2012. Tuy nliiên, độ tuôi phô biến nhất và đirợc chấp nhận rộng rãi là 1997 - 2012. Thế hệ z thường xuyên kết nối và thích giao tiếp thông qua công nghệ hơn là tiếp xúc trực tiếp (Pol và KẸ 2019).
Đặc điêm của Gen z luôn suy nghĩ đến việc họ đã có ảnh hường, có nhu cầu tiến triển, thích ỷ tường tư làm, mong muốn đạt được mục tiêu nghề nghiệp, có phong cách khời nghiệp hơn, ưa thích giao tiếp tiực tiếp, và có sự tôn trọng và trung thành rõ ràng (Mandelbaum, 2016). Đúng như mong đợi từ sự đa dạng về biệt danh mà Thế hệ Gen z đã có, các nhà nghiên cứu mới bắt đầu kiêm tra và hiêu bản chất cũng như đặc diêm của nhóm nhân khẩu học này. Bối cảnh của Gen z The giới mà Gen z được lớn lên đầy rẫy căng thăng, thực địa chính trị, bạo lực và bất ôn xã hội sau ngày 11/9 (Dana Schwieger và cộng sự, 2018). Thế hệ Gen z, còn được biết đến với tên gọi là 'người kỹ thuật số bản địa', có phong cách học độc đáo như đa nhiệm trong quá trìnli học, và một cách suy nghĩ và tiếp cận thông tin độc đáo (Prensky, 2001; Prensky, 2001).
Do đó, phương pháp giảng dạy trong giáo dục đại học cần phải thích nghi với những biến thê này đê phù hợp với "phương pháp học" nhiều công nghệ, ựĩ nhiên và đa giác quan (Lai và Hong, 2015). Theo các khái niệm cùa các bài nghiên cứu có thê thấy được thế hệ Gen z nằm trong thời đại đôi mới và phát triên được áp dụng những công nghệ tiên tiến, những thông tin được đề cập nhanh chóng chi bang những cú chạm. Trong việc đầu tư cũng vậy, Gen z có thê dề dàng nắm bắt được các thông tin trên thị trường qua các ứng dụng, phần mem hr các doanh nghiệp, các tô chức tài chính qua đó Gen z có 5 thê học, tìm tòi và đầu tư cho bàn thân minh. Tuy nhiên việc ựr tìm hiêu này sẽ bị nhiều yếu tố tác động đen và có nguy cơ rủi ro kiến thức dần đến đầu tư một cách lệch lạc, không có hiêu quả cho bản thân mình.
Bài nghiên cứu này sẽ tìm hiêu các yếu tố tác động đến, cũng như tun ra các sai lầm khi thế hệ Gen z đang và có ý định đau tư cho bàn thân.2 Thị trường tài chính Việt Nam Thị trường chứng khoán là một thị trường tại đó cô phiếu được mua và bán (Zuravicky, 2005). Trong một nen kinh tế, bên cạnh vai trò là nguồn đầu tư tài chính, thị tnrờng chứng khoán còn thực hiện chức năng như một cơ chế báo hiệu cho các nhà quàn lý về các quyết định đầu tư và là chất xúc tác cho quàn trị doanh nghiệp (Võ Thị Hiếu và cộng sự, 2020). Bên cạnh đó, thị trường chứng klioán được biết đen là kênh hiệu quả nhất đê tăng vốn của công ty (Zuravicky, 2005). Mặc dù thị trường chứng khoán Hồ Chí Minh đã được phát triên đáng kê cả về số lượng cô phiếu niêm yết và giá trị giao dịch trong 1 năm qua, sự biến động giá dường như biến động khó lường qua các giai đoạn khác nhau và sự hiểu biết về hành vi của các nhà đầu tư cá nhân và các yếu tố hành vi ảnh hường đến quyết định đầu tư cùa họ là rất hạn chế ( Võ Thị Hiếu và cộng sự, 2020).
Các yếu tố hành vi là các yếu tố tâm lý bao gom càm xúc và nhận thức, đóng vai trò quan trọng trong quá trình ra quyết định cùa các nhà đầu tư (Waweru và cộng sự, 2008).2 Lý thuyết nền tảng 1.1 Thuyết hành động hợp lý Theo TRA (Theory of Reasoned Action), moi liên hệ giữa hai câu hòi phụ thuộc vào thái độ và chuẩn mực chủ quan cùa người thực hiện hành vi. Thái độ là tình trạng cảm xúc tích cực hoặc tiêu cực đối với hành vi cụ thê, như được định nghĩa bời Davis và cộng sự (1989) và .Chuẩn mực chủ quan là nhận thức thực hiện hành động của một người rang người quan trọng đối với họ nghĩ gì về hành vi đó, như được mô tả bời Fishbein và Ajzen (1975). Tiêu chí chù quan cho biết mức độ ảnh hường của những người khác đen ý định hành vi và vai trò của các nhóm lợi ích trong hành vi của khách hàng, theo Venkatesh và Davis (2000). Các mô hình TRA đã được sử dụng thành công trong nhiêu tình huống và lĩhh vực đê dự đoán biêu lũện cùa hành vi và ý định hành vi.
6 Hành vi thực sự Hình 1.1 Mô hình nghiên ahi TRA Nguồn: Fishbein & Ajzen (1975) 1.2 Thuyết hành vi chấp nhận công nghệ Mô hình TAM (Technology acceptance model) xem xét mối quan hệ và tác động cùa tính him dụng được cảm nhận và tính dễ sữ dụng được cãm nhận đối với thái độ dần đến và cuối cùng là ý định đến hành động thực tế. Người sử dụng dịch vụ ngân hàng trực tuyến nhận ra lợi ích của các giao dịch như tiền gửi tiết kiệm và thanh toán hóa đơn hiệu quả hơn và tiết kiệm thời gian cho kliách hàng qua quầy. Nhận thức dễ sử dụng (Davis, 1989) là mức độ mà một người tin rằng một hệ thống cụ thê có thê được sử dụng mà không cần nỗ lực. Nói cách khác, E-Banking thuận tiện nhưng chính khách hàng lại không sữ dụng vì bất tiện.
Ngược lại, nếu người dùng thấy dịch vụ ngân hàng qua Internet dề dàng và đơn giãn, họ có nhiều khả năng sử dụng dịch vụ hơn. Khi công nghệ trờ nên dễ sừ dụng hơn, người dùng sẽ thấy nó hữu ích hơn (Wang và cộng sự, 2003). 2 Mô hình nghiên cím TAM Nguồn: Ajzen (1991) 1.3 Lý thuyết hành vi có kế hoạch Ngoài những lý thuyết thường được sử dụng đê giãi thích hành vi như TRA, TAM, UTAUT, lý thuyết TPB (Ajzen, 1991). Lý thuyết này bao gồm các yeu tố chính: 7 Nhận thức kiêm soát hành vi, Thái độ đối với hành vi, và Chuân chù quan.
Nhận thức kiêm soát hành vi phản ánli mức độ dê hay klió khi cá nhân thực hiện hành vi, điều này phụ thuộc vào sự sẵn có cùa các nguồn lực và cơ hội đê thực hiện hành vi đó. Thái độ đề cập đen cảm nhận tích cực hoặc tiêu cực của cá nhân đối với hành vi, trong kill chuân chủ quan biêu hiện ảnh hường cũa xã hội đến hành vi cá nhãn. Mô hình TPB đã được nghiên cứu và mờ rộng thông qua việc bô sung thêm nhiều yếu tố giải thích khác. Do đó, trong mỗi ngữ cành cụ thê, TPB sẽ được áp dụng một cách phù hợp đê lý giãi ý định hành vi trong phạm vi bối cành đó.4 Lý thuyết về giói tính hành vi Có hai lý thuyết khác nhau giải thích các klúa cạnh quan trọng liên quan đến ý định cùa nhà đầu tư cá nhân về mức độ lũi ro trong các khoản đầu tư của họ.
Một trường phái lý thuyết nhấn mạnh các yếu tố như giới tính, thu nhập, tài sàn và các yếu tố khác liên quan đến quản lý đầu tư và ra quyết định. Trường phái còn lại tập tiling vào các yếu tố tâm lý, lập luận rằng chúng đóng góp đáng kê vào quá trình ra quyết định đầu tư cùa cá nhân. Theo các nhà nghiên cứu thuộc trường phái học thuật đầu tiên, giới tính đóng vai trò quan trọng trong hành vi cùa nhà đau tir. Bajtelsmit và Bernasek (1996); Hallahan, Faff và McKenzie (2004); và Worthington (2006) đều kết luận rằng sự khác biệt giới tính là yếu tố quan trọng trong việc tránh rủi ro.
Bajtelsmit, Bernasek và Jianakoplos (1999); Hariharan, Chapman và Domian (2000); và Olsen và Cox (2001) cũng nhận thấy rang phụ nữ thường ngan ngại đầu tư vào các tài sàn có rùi ro cao hơn so với nam giới. Mặc dù nhiều nghiên cứu nhấn mạnh các đặc diêm nhân khâu học của nhà đầu tư cá nhân nhằm làm rõ hành vi đầu tư cũa họ, cũng có nhiều nghiên cứu tập tiling vào các yếu tố tâm lý liên quan đến hành vi đầu tư cá nhàn. Ví dụ, Carducci và Wong (1998) nhận thay rang những nhà đầu tư có đặc diêm tính cách kiêu A có xu hướng chấp nhận rủi ro cao hơn trong tất cả các vấn đề tài chính; điều này có thê liên quan đến việc những người có tính cách kiêu A thường có thu nhập cao hơn (Thoresen và Low, 1990) so với những người kiêu B. Wong và Carducci (1991), cũng cung cấp bằng chứng về nhu cầu cân nhắc kỹ lường của một số tính cách trong việc quàn lý tài chính của họ.5 Lý thuyết hành động hợp lý Lý thuyết Hànli Động Hợp Lý (Theory of Reasoned Action) được Fishbein và Ajzen phát triên vào năm 1975, giải thích rằng hành vi của con người được thực liiện bời vì cá nhân có ý định thực hiện nó và liên quan đến các hoạt động được thực hiện theo ý chí ựr do của họ.
Hành vi theo ý chí ựĩ do dựa trên giả định rằng con người hành động theo cách họp lý. Thứ hai, con người cân nhắc tất cả các thông tin. Thứ ba, con người xem xét rõ ràng hoặc ngầm định các hệ quả của hành động của họ. Ngoài ra, Ajzen và Fishbein (1977) trong nghiên círu cùa Claudia và MN (2019) cho rang Lý thuyết Hành Động Hợp Lý bị ảnh Trương bời hai yếu tố chínli là thái độ hành vi (yếu tố nội sinh) và các chuân mực chù quan (yếu tố ngoại sinh).
Yeu tố nội sinh xuất phát tìr chính băn thân cá nhân, trong khi các yếu tố ngoại sinh ảnh hưởng đến tư duy của một người tìĩ môi trường xung quanh. Theo Septyanto (2013), các biến số ngoại sinli/ngoại tại bao gồm nhân khâu học, đặc diêm tính cách, niềm tin về các đối tượng, thái độ đối với các đối tượng, đặc diêm nhiệm vụ và tìnli huống. Các thái độ này tương tác với nhau. Gamel và cộng sự (2022) giải thích rang Lý thuyết Hành Động Hợp Lý (TRA) giã định rang hầu hết các hành vi cá nhân có thê được xem như là một chức năng của thái độ của họ đối với hành vi đó và các chuân mực chù quan.3 Lược khảo nghiên cứu định lượng liên quan 1.