Chương 1: Giới thiệu đê tải nghiên cứu Chương này sẽ trình bày lý do lựa chọn đề lài, mục tiêu, phạm vi, phương pháp nghiên cứu, ỷ nghĩa khoa học và thực tiền, bố cục trình bày các chương tiếp theo. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Nội dung chương 2 sè tập trung tông quan các lý thuyết, bằng chửng thực nghiệm về mỏ hình Fama-French, mức độ quan tâm của nhà đầu tư, chí số khối lưọTig tìm kiêm trên Google và môi quan hệ giừa chi sô khôi lượng tìm kiêm trôn Google và tỷ suất sinh lợi cổ phiếu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này s trình bày cách thức thu thập dữ liộu, phát triển giã thuyết cùa nghiên cứu, xác định các biến đo lường và xây dựng mô hình nghiên cứu. Chuơng 4: Ket quá nghiên cứu Chương này tác giả tiên hành hôi quy, lựa chọn mô hỉnh, kiêm định các khuyết tật và khắc phục thông qua phần mèm Stata.
Sau đó, lác giâ tháo luận kết quá nghiên cứu và xem xét các giả thuyêt nghiên cứu ờ chương 3. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Chương này tác giá đưa ra kêt luận chung từ kêt quâ nghiên cửu ờ chương 4, đồng thời đưa ra các khuyến nghị cho các Chính phù, các công ty và nhà đầu tư. Tiếp đôn, những hạn chỗ của bài nghiên cứu được tác giả trinh bày và gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo. 7 CHƯƠNG 2: cơ SỞ LÝ THUYẾT 2.
Mô hình Fama-French Mô hình định giá tài sản đà được phát triên và mờ rộng qua nhiều bài nghiên cứu trong quá khứ, nối bật với ba mô hình chính là mô hình CAPM, APT và Fama- French. Trong đó, mô hỉnh CAPM xây dựng vào đâu những năm 1960 dựa theo lý thuyết danh mục đầu tư của Markowitz vẫn được chấp nhận và sử dụng rộng râi bới nhiêu nhà nghiên cứu ngày nay. Song mô hình này đơn giản vê mặt khái niệm khi mô hình chi sử dụng một yếu tố thị trường p là yếu tố tông the de so sánh tỷ suất sinh lợi cúa danh mục đầu tư với tỳ suât sinh lợi của loàn bộ thị trường. Đen năm 1992, Fama và French xây dựng nên mô hình Fama-French 3 nhân tổ được xem là một trong những mô hình được đánh giá cao nhât có sử dụng rủi ro thị trường và sự khác biột vồ đặc điếm công ty (quy mô công ty và tỳ lộ giá trị thị trường trên giá trị sô sách) đê giái thích sự thay đôi trong tỳ suât sinh lợi của cô phiếu.
Bên cạnh đó, mô hình Fama-French 3 nhân lổ chứng minh được tính hiệu quá trong việc cải thiện những thiêu sót trong mô hỉnh CAPM khi beta thị trường trong mô hình này ít cỏ khả năng giải thích tỷ suất sinh lợi của chứng khoán kỗ cá khi hồi quy riêng lẻ hoặc kêt hợp cùng các biên khác. Mô hình Fama-French 3 nhân tô, một phiên bàn mờ rộng của mô hình CAPM truyền thống, được đánh giá cao trong viộc giái thích biến động tỷ suât sinh lợi chửng khoán. Mô hình này bô sung hai yêu tô: nhân tô quy mô (SMB) và nhân tổ giá trị (HML). SMB phản ánh xu hướng các công ty có vốn hóa thị trường nhỏ tạo ra lợi nhuận cao hơn, trong khi HML chi ra răng cô phiêu có tý lệ giá trị sô sách trôn thị trường cao thường mang lại lợi nhuận vượt trội.
Trong hai thập kỷ qua, mồ hình Fama-French 3 nhân tố đã có anh hương rất lớn và trở nên phô biến trong xem xét các mô hình định giá tài sán. Tuy nhiên, nhiều nghiên cửu cũng cho răng mô hình 3 nhân tô chưa hoàn thiện và cân nhiêu nhân tô hơn để mô tả chính xác hồi quy chéo cùa tý suất sinh lợi cô phiếu. Vào năm 2015, sau khi có nhiều nghiên cứu chứng minh được mối quan hệ của yếu tố lợi nhuận (Novy-Marx, 2013) và khuynh hướng đầu tư (Aharoni và cộng sự, 2013) đến tỷ suất sinh lợi, Fama và French đã mờ rộng mô hình Fama-French 3 nhân tô với hai biên 8 mới là lợi nhuận và khuynh hướng đâu tư, hình thành nên mô hình Fama-French 5 nhân tổ với khâ năng giái thích tý suất sinh lợi tốt hơn so với mô hình Fama-French 3 nhân tố. Nhân tổ lợi nhuận cho thấy cô phiếu của các công ty cỏ lợi nhuận hoạt động cao có khả năng mang lại tỷ suất sinh lợi cao hơn.
Trong khi đó, nhân tổ khuynh hướng đầu tư ngụ ỷ rằng cô phiếu của các công ty có tông tài sán tăng trường cao sẽ cỏ tỷ suất sinh lợi dưới mức trung binh. Nghicn cứu cúa Fama-French (2017) mô hình Fama-French 5 nhân tô đà được nghiên cửu thực nghiệm với dừ liệu quôc tẻ cho thấy tý suất sinh lợi trung binh cua cố phiếu ờ Bắc Mỹ, Châu Âu và Châu Ả - Thái Bình Dương cỏ tương quan cùng chiều với tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường và ngược chiều với yếu tố đầu lư. Có sự khác biệt trong dừ liệu ờ Nhật Bán khi tỷ suất sinh lợi cỏ mối tương quan mạnh đối với tỳ lệ giá trị số sách trên giá trị thị trường và ngược lại, yếu trong mối lương quan với yếu tổ lợi nhuận hoặc đầu tư. Foye (2018) cho rằng mô hình Fama-French 5 nhân lố có hiộu quâ tối ưu hơn so với mô hình Fama-French 3 nhân tố trong giải thích biến động của cô phiếu trong thị trường Đông Âu hoặc Mỳ Latinh nhưng điều này không đúng khi xem xét ơ khu vực Châu Ả.
Mặc dù đà chứng minh được lính hiệu quả trong giải thích tý suât sinh lợi cúa cô phiêu trong nhiêu nghiên cứu thực nghiệm, mô hình Fama-French 5 nhân tổ vần gây tranh cài vì còn nhiều thiếu sót, cụ thê như khó giãi thích được lợi nhuận trung bình của các cố phiếu nhỏ (Lin, 2017; Xie & Qu, 2016). Trong bài nghiên cứu này, tác giá tập trung vào đánh giá tác động 9 của chi số khối lượng tìm kiếm trên Google lên tỷ suất sinh lợi chứng khoán dựa trên cơ sờ lý thuyết của mô hình Fama-French. Mức độ quan tâm của nhà đầu tư và chí số khối lưọng tìm kiếm trên Google 2. Mức độ quan tâm của nhà đầu tư Theo giá thuyết thị trường hiệu quá, giá cô phiổu phàn ánh tất cá thông tin cỏ săn (Fama, 1970).
Điêu này đỏi hỏi các nhà đâu tư phải quan tâm đên tât cá thông tin cỏ sằn trên thị trường. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, bằng chứng thực nghiệm đà chứng minh rằng già thuyết này đà bị vi phạm. Kahneman lần đầu tiên đề xuất khái niệm về sự chú ý hạn chế vào năm 1973. Ông đà thừa nhận rằng mức độ quan tâm là nguồn lực nhận thức khan hiếm.
Do đó, khi phải đối mặt với một lượng thông tin lớn và ra quyết định đầu tư, nhà đầu tư phải chọn lọc và hạn che về sổ lượng thông tin họ có thê xư lý (Cohen & Frazzini, 2008). Mức độ quan tâm của nhà đầu tư là một chi số quan trọng phán ánh nhừng thay đối VC mặt tâm lý cua nhà đầu tư và có thố ánh hường đáng kê đên tỷ suât sinh lợi của nhiêu loại tài sàn bao gôm cả cô phiêu (Yao và cộng sự, 2017). Tầm quan trọng cua mức độ quan lâm cùa nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán gia tăng đáng ke với các nghiên cứu vê tác động cua yêu tô này đên tỳ suât sinh lợi cùa cô phiếu (Cai và cộng sự, 2022; Zhang và cộng sự, 2013). Cỏ hai già thuyết nôi tiếng được đê xuât đê giải thích tác động của mức độ quan tâm của nhà đau tư đến tý suất sinh lợi của cô phiếu là giá thuyết nhận diện của nhà đầu tư (Merton, 1987) và giả thiết áp lực giá (Barber & Odean, 2008).
Theo giã thuyết về sự nhận diện cúa nhà đầu tư giái thích kha năng hiến thị và nhận diện của một cố phiêu có thê tác động đên giá và thành quả như thê nào. Giá thuyêt đê suât răng các 10 cô phiếu ít được đưa tin trên phương tiện truyền thông sẽ mang lại tý suất sinh lợi cao hơn vì các nhà đầu tư có ít thông tin hơn về các cô phiếu này và phải chịu rúi ro lớn hơn (Merton, 1987). Đà có những nghiên cứu được thực hiện có kết quả phù hợp với giả thuyết nhận diện của nhà đầu tư khi làm rõ được tác động tiêu cực cua sự gia lăng trong mức độ quan tâm của nhà đầu tư lên tỳ suất sinh lợi cô phiếu (lyke & Ho, 2021; Salisu và cộng sự, 2021). Ngược lại, theo giá thuyết vẻ áp lực giá, nhà đầu tư có xu hướng mua một tập hợp con các cô phiếu quen thuộc và thu hút sự chú ý của họ vì sự thiếu hụt thời gian và nguồn lực đỗ lìm kiếm kỳ càng trong hàng ngàn cô phiếu trên thị trường.
Do đó, giả thuyết này cho răng mức độ quan tâm của nhà đầu tư đối với một cô phiếu tăng lên sẽ góp phần làm tăng giá và khối lượng giao dịch (Barber & Odean, 2008). Nghiên cứu của Bank và cộng sự (2011) cũng úng hộ giả thuyết về áp lực giá (Barber & Odean, 2008) khi chứng minh được mức độ quan tâm của nhà đầu tư có môi quan hệ cùng chiêu với tỉnh thanh khoán của cô phiêu trong tương lai khi xem xct ờ thị trường chứng khoán Đức. ơ thị trường chứng khoán Thô Nhĩ Kỳ, Tan và Ta§ (2019) đà phát hiện ra môi tương quan dương giừa mức độ quan tâm cùa nhà đầu tư với tỷ suất sinh lợi của cô phiếu. Chỉ số khối lượng tim kiếm thê hiện mức độ quan tâm của nhà đầu tư và sự sằn có của thông tin trong tâm trí họ.
Mức độ tìm kiếm tăng lên phán ánh mức độ quan tâm của nhà đầu tư dành cho một chù đề hoặc một tải sản cụ thê. Khi một cô phiếu hoặc ngành nghề đột ngột nhận được sự chú ý từ các phương tiộn truyền thông hoặc từ các sự kiện đặc biệt, khôi lượng tìm kiêm vê cô phiêu đỏ cũng sè tăng lẻn, đông nghĩa với việc các nhà đầu tư sẽ chủ ý và có thê thay đối quyết định đầu tư của mình. Bên cạnh đó, sự săn có của thông tin cho răng nhà đâu tư dê dàng đưa ra các quy Ct định dựa trôn những thông tin dồ tiếp cận và ghi nhớ, từ đó đưa ra các quyết định đầu tư dựa trên thông tin đó. Sự gia tăng trong khôi lượng tìm kiêm có thê phán ảnh sự thay đổi trong tâm lý của nhà đầu tư và có anh hưởng trực tiếp đến các quyết định đầu tư của họ.