Chương 1 tác giả đã trình bày những công trình nghiên cứu đã được thực hiện trên thế giới và tại Việt Nam có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Nhìn chung qua các nghiên cứu cho thấy được bằng chứng về mối quan hệ giữa TTKT trên BCTC và TSSL cũng như các nhân tố tác động lên mối quan hệ này. Tuy nhiên các nghiên cứu này thực hiện dựa trên nhiều lý thuyết, mô hình khác nhau, tại các TTCK khác nhau. Do đó, từ việc tổng hợp các nghiên cứu trước thì tác giả nêu lên khe hổng nghiên cứu và đưa ra hướng nghiên cứu cho bài luận văn.
Luận văn sẽ vận dụng mô hình Easton và Harris (1991) để kiểm định mối quan hệ TTKT trên BCTC và TSSL của cổ phiếu các CTNY trên TTCK Việt Nam. Ngoài ra, tác giả còn đưa thêm các nhân tố tác động lên mối quan hệ này như quy mô, tỷ lệ nợ, sự tăng trưởng để làm cho mô hình đầy đủ hơn. 13 2 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tổng quan về BCTC và vai trò thông tin của BCTC đối với nhà đầu tư 2.1 Khái niệm về BCTC BCTC là một trong những hệ thống báo cáo của doanh nghiệp, tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế tài chính nhất định. BCTC tổng hợp khái quát, toàn diện tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Thông tin trên BCTC nhằm phục vụ cho các đối tượng sử dụng TTKT của doanh nghiệp biết được tình hình kinh tế, tài chính, quá trình và kết quả hoạt động của đơn vị, là cơ sở giúp đưa ra các quyết định cần thiết. Trách nhiệm lập và trình bày BCTC Tất cả các doanh nghiệp thuộc các ngành, các thành phần kinh tế đều phải lập và trình bày BCTC năm. Đối với các doanh nghiệp Nhà nước, các CTNY trên TTCK còn phải lập BCTC giữa niên độ dạng đầy đủ.2 Đối tượng phục vụ của BCTC Theo Luật kế toán VN (2003), đối tượng phục vụ của BCTC được đề cập trong Luật là “đối tượng có nhu cầu thông tin của đơn vị kế toán”, hay theo chuẩn mực kế toán VN số 01 (VAS 01) và theo chuẩn mực kế toán VN số 21 (VAS 21) là “số đông người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế”. Như vậy, theo những khung pháp lý về kế toán đang áp dụng ở VN, đối tượng phục vụ của thông tin trên BCTC vẫn chưa rõ ràng chi tiết mà khá là rộng, tất cả các bên có nhu cầu sử dụng thông tin đều là đối tượng phục vụ của BCTC.
Theo đó, BCTC là nguồn thông tin quan trọng cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp như: các cơ quan quản lý Nhà nước, các nhà đầu tư hiện tại, các nhà đầu tư tiềm năng, các bên cho vay,… Mỗi đối tượng sử dụng yêu cầu loại thông tin nào tùy thuộc vào các loại quyết định mà đối tượng đó cần đưa ra. Đối với nhà quản lý doanh nghiệp: các nhà quản lý cần công khai các thông tin trên BCTC định kỳ về hoạt động của doanh nghiệp nhằm thể hiện cho các nhà đầu tư biết doanh nghiệp đang có mức lợi nhuận cao nhất và rủi ro thấp nhất hay công 14 khai các khoản lỗ để nhà đầu tư đánh giá đúng tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Đối với các cơ quan Nhà nước: BCTC cung cấp thông tin cần thiết giúp cho việc kiểm tra, kiểm soát, quản lý vĩ mô của các cơ quan tài chính Nhà nước đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, cũng như là cơ sở tính thuế hay các khoản phải nộp khác của doanh nghiệp đối với ngân sách Nhà nước. Đối với các nhà đầu tư: Nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng hay chủ nợ có xu hướng quan tâm đến BCTC để đưa ra quyết định đầu tư, cho vay, sau đó dựa vào BCTC sẽ thực hiện việc giám sát và bắt buộc nhà quản lý thực hiện theo đúng hợp đồng, cam kết.3 Vai trò thông tin của BCTC đối với nhà đầu tư Các nhà đầu tư được đề cập đến trong bài nghiên cứu bao gồm cả nhà đầu tư hiện hữu và nhà đầu tư tiềm năng.
Đối với nhà đầu tư hiện hữu, họ quan tâm đến khả năng ổn định tài chính, suất sinh lợi nhuận, cũng như thu nhập của doanh nghiệp có thể tăng hoặc giảm như thế nào trong tương lai. Đối với những nhà đầu tư tiềm năng, họ quan tâm đến thành tựu của doanh nghiệp làm được trong năm hiện tại cũng như quá khứ, để họ đưa ra quyết định đầu tư vào doanh nghiệp đó hay không. Chính những mục tiêu như vậy, các nhà đầu tư sẽ khai thác tất cả các nguồn thông tin để phân tích đánh giá. Và cho đến nay, nguồn thông tin tài chính mà được phần đông các nhà đầu tư quan tâm, sử dụng đến chính là BCTC của các doanh nghiệp.
Khi xây dựng danh mục đầu tư và ra quyết định đầu tư vào một doanh nghiệp, hàng loạt các thông tin trên BCTC sẽ được nhà đầu tư tiếp cận, phân tích và đánh giá trực tiếp. Việc nghiên cứu các mối quan hệ, các tỷ suất giữa các chỉ tiêu trên BCTC chưa đánh giá đầy đủ bản chất tài chính của một doanh nghiệp, nhưng giúp cho nhà đầu tư có cái nhìn tổng quan về tình trạng tài chính của doanh nghiệp đó, năng suất hoạt động và khả năng sinh lợi tương ứng. Đây là vai trò vô cùng quan trọng của BCTC đối với quyết định kinh tế của nhà đầu tư. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố tác động, vai trò thông tin của BCTC đối với nhà đầu tư có thể trở nên giảm đi do không đảm bảo tính hữu ích của các thông tin BCTC 15 hay chất lượng của BCTC.
Từ đó, dẫn đến việc nhà đầu tư có thể đưa ra các quyết định sai lầm nếu căn cứ vào thông tin mà BCTC cung cấp. Do đó, vai trò của thông tin BCTC tác động quyết định nhà đầu tư cần phải được xem xét song song với tính hữu ích của thông tin BCTC.2 Thông tin kế toán trên báo cáo tài chính Theo thông tư 52/2012/TT-BTC thì nội dung công bố thông tin về BCTC bao gồm: Bảng cân đối kế toán; Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Bản thuyết minh BCTC theo quy định của pháp luật về kế toán và Báo cáo kiểm toán. Thuyết minh BCTC phải trình bày đầy đủ tất cả nội dung theo quy định của pháp luật về kế toán. Trường hợp trong thuyết minh BCTC có chỉ dẫn đến phụ lục, phụ lục phải được công bố cùng thuyết minh BCTC.
Theo mô hình gốc của Easton và Harris (1991) thì TTKT đại diện bởi các thông tin về tỷ suất thu nhập (đo bằng EPS trên giá thị trường cổ phiếu) và tỷ suất thu nhập biến đổi (đo bằng chênh lệch của EPS trên giá thị trường cổ phiếu). Để thuận tiện và phù hợp với bài nghiên cứu tại TTCK VN thì TTKT được tác giả đề cập đến là TTKT của các CTNY bao gồm lãi cơ bản trên cổ phiếu, lãi cơ bản trên cổ phiếu điều chỉnh, tỷ suất thu nhập, tỷ suất thu nhập biến đổi. Các thông tin này đa số được lấy từ các BCTC của các CTNY trên TTCK VN và tính toán để có các thông tin cần thiết.1 Thông tin về lãi cơ bản trên cổ phiếu Đây là phần lợi nhuận mà công ty phân bổ cho mỗi cổ phần thông thường đang được lưu hành trên thị trường. Lãi cơ bản trên cổ phiếu (EPS) được sử dụng như một chỉ số thể hiện khả năng kiếm lợi nhuận của doanh nghiệp.
Công ty phải tính và trình bày trên báo cáo tài chính lãi cơ bản trên cổ phiếu theo các khoản lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty. Lãi cơ bản trên cổ phiếu được tính bằng cách chia lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty cho số lượng bình quân gia quyền của số cổ phiếu phổ thông đang lưu hành trong kỳ. 16 Theo hướng dẫn của CMKT VN số 30 và hướng dẫn chi tiết theo Thông tư 21/2006/TT-BTC, công thức tính EPS cơ bản như sau: Lãi cơ bản Lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông = trên cổ phiếu Số bình quân gia quyền của cổ phiếu đang lưu hành trong kỳ Lợi nhuận hoặc lỗ phân bổ cho cổ đông sở hữu cổ phiếu phổ thông của công ty là các khoản lợi nhuận hoặc lỗ sau thuế thu nhập doanh nghiệp trong kỳ sau khi được điều chỉnh bởi cổ tức của cổ phiếu ưu đãi, những khoản chênh lệch phát sinh do thanh toán cổ phiếu ưu đãi và những tác động tương tự của cổ phiếu ưu đãi đã được phân loại vào nguồn vốn chủ sở hữu. Số lượng cổ phiếu phổ thông được sử dụng để tính lãi cơ bản trên cổ phiếu là số bình quân gia quyền của cổ phiếu phổ thông đang lưu hành trong kỳ.
Số bình quân gia quyền cổ phiếu phổ thông đang lưu hành trong kỳ hiện tại và tất cả các kỳ trình bày phải được điều chỉnh cho các sự kiện (Trừ việc chuyển đổi cổ phiếu phổ thông tiềm năng) tạo ra sự thay đổi về số lượng cổ phiếu phổ thông mà không dẫn đến thay đổi về nguồn vốn. Việc sử dụng số bình quân gia quyền của cổ phiếu phổ thông đang lưu hành trong kỳ là do giá trị vốn cổ đông thay đổi trong kỳ khi số lượng cổ phiếu phổ thông lưu hành tăng hoặc giảm. Số bình quân gia quyền của cổ phiếu phổ thông lưu hành trong kỳ là số lượng cổ phiếu phổ thông lưu hành đầu kỳ được điều chỉnh theo số cổ phiếu phổ thông được mua lại hoặc được phát hành thêm nhân với hệ số thời gian. Hệ số thời gian là tỷ số giữa số lượng ngày mà cổ phiếu được lưu hành trong kỳ chia cho tổng số ngày trong kỳ.2 Thông tin về lãi cơ bản trên cổ phiếu điều chỉnh Theo Thông tư 21/2006/TT-BTC, trên thực tế có những trường hợp tách, gộp CP, phát hành thêm CP, chia cổ tức bằng CP, thưởng CP, phát hành quyền mua CP mới…thì EPS cơ bản sẽ không phản ánh đựơc chính xác số lựợng CP đang lưu hành.
Do có sự thay đổi về số lượng CP đang lưu hành nên ta cần điều chỉnh EPS cơ bản. Sau đây là các trường hợp điều chỉnh EPS: 17 Trường hợp tách, gộp cổ phiếu, trả cổ tức bằng cổ phiếu, thưởng cổ phiếu: trong ngày giao dịch không hưởng quyền, EPS cơ bản sẽ được điều chỉnh theo tỷ lệ tách, gộp, trả cổ tức hay tỷ lệ thưởng cổ phiếu mới.