Chương 1. Chương 4: Kết quả nghiên cứu – trình bày các kết qủa mà nghiên cứu đã tìm được. Cụ thể, các kết quả này bao gồm các kết quả kiểm định nghiệm đơn vị, đồng liên kết trong hai trường hợp không xét và có xét đến điểm gãy cấu trúc; kết quả hồi quy mối quan hệ dài hạn giữa tỷ giá thực và lãi suất thực giữa Việt Nam và Mỹ; các bằng chứng khác về mối quan hệ này giữa Mỹ với một số quốc gia khác trong khu vực Châu Á. Chương 5: Kết luận, hạn chế của đề tài và hướng phát triển của đề tài.
Chương này sẽ tổng kết lại các kết quả nghiên cứu, trình bày các điểm còn hạn chế trong bài nghiên cứu này, từ đó đề xuất những hướng nghiên cứu trong thời gian sắp tới. 8 CHƢƠNG 2 – KHUNG LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LÃI SUẤT VÀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM Sử dụng điều kiện ngang giá lãi suất không phòng ngừa (UIP) và giả thuyết cân bằng Fisher làm lý thuyết nền tảng để tìm ra mối liên hệ giữa tỷ giá hối đoái và lãi suất. Nói đến các lý thuyết tài chính quốc tế kinh điển giải thích về thay đổi của tỷ giá hối đoái thì có những lý thuyết sau đây : Ngang giá sức mua (PPP), ngang giá lãi suất không phòng ngừa (UIP) và ngang giá lãi suất có phòng ngừa (IRP).1 Lý thuyết ngang giá sức mua (PPP) Lý thuyết ngang giá sức mua (PPP) đã trở thành lời giả thích quan trọng cho tỷ giá hối đoái danh nghĩa và thực tế của thế giới trong suốt những năm 1970 và 1980. Trong hình thái tuyệt đối của nó, nó cho thấy rằng giá trị của tỷ giá hối đoái danh nghĩa bằng với tỷ lệ mức giá của hai quốc gia.
Nó được định nghĩa như sau: S= (1) Trong đó, S là tỷ giá giao ngay danh nghĩa, P và P* theo thứ tự là mức giá nội địa và nước ngoài. Với giá trị tuyệt đối của nó, PPP cho thấy rằng sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái được xác định bởi sự thay đổi giá tương ứng ở hai quốc gia. Giá trị tỷ giá danh nghĩa không thực sự cho thấy điều gì về “giá trị thực” của đồng tiền, hoặc bất kì điều gì liên quan đến PPP. Một tỷ giá hối đoái phải được định nghĩa như sau: Q= (2) Theo Laurence S.
Copeland (2000), kết luận chung về PPP có thể được tổng quát như sau: Trong ngắn hạn, độ lệch PPP là khá lớn , và hầu như không tìm thấy được sự tồn tại của PPP trong ngắn hạn. Những bằng chứng về PPP dài hạn được cho là không rõ ràng. Cho đến hiện giờ, cân bằng sức mua đang bị cho là không tồn tại, nhưng với sự hỗ trợ của công 9 cụ kinh tế lượng mới và các phương pháp kiểm định mới, các nhà nghiên cứu trong vài năm gần đây đã tìm được những bằng chứng thực nghiệm rõ ràng hơn về PPP. Trong thời kì biến động có một điều chắc chắc chắn rằng tỷ giá hối đoái đã biến động khác nhiều so với giá cả.
Các nhà kinh tế học đã tranh luận xem liệu PPP tồn tại trong ngắn hạn, dài hạn, hay không tồn tại cả trong ngắn và dài hạn. Cuối những năm 1970, PPP ít nhất trong ngắn hạn đã bị bác bỏ một cách thuyết phục bởi dữ liệu. Liệu PPP trong dài hạn có bị bác bỏ hay không, điều này vẫn còn đang được xem xét.2 Lý thuyết ngang giá lãi suất không phòng ngừa (UIP) Ta có: rt = (1+if) (1+ef)-1 trong đó: rt: tỷ suất sinh lợi có hiệu lực khi đầu tư ra nước ngoài ih: lãi suất trong nước if: lãi suất nước ngoài ef: giá trị tăng lên hay giảm xuống của đồng ngoại tệ Nếu giả định việc đầu tư ra nước ngoài cũng có tỷ suất sinh lợi bằng với đầu tư trong nước, nghĩa là: rt = (1 + if)(1 + ef) – 1 = ih Suy ra: ef = (1 + ih) / (1 + if) - 1 Lấy gần bằng: ef = ih - if Lý thuyết ngang giá lãi suất không phòng ngừa UIP phát biểu rằng tỷ giá hối đoái sẽ thay đổi theo chênh lệch lãi suất của hai quốc gia theo công thức: ef = (1 + ih) / (1 + if) – 1 Phương vậy, để có được cân bằng lãi suất giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài thì sự thay đổi của ngoại tệ sẽ tương ứng với chênh lệch lãi suất. 10 Nếu lãi suất trong nước ih> lãi suất nước ngoài if : đồng ngoại tệ sẽ tăng giá để bù đắp cho lãi suất thấp hơn.
Nếu lãi suất trong nước ih< lãi suất nước ngoài if : đồng ngoại tệ sẽ giảm giá một mức tương đương với chênh lệch lãi suất.3 Lý thuyết ngang bằng lãi suất có phòng ngừa (IRP) Ta có: rt = (1+if) (1+p)-1 trong đó: rt: tỷ suất sinh lợi có hiệu lực khi đầu tư ra nước ngoài ih: lãi suất trong nước if: lãi suất nước ngoài p: giá trị tăng lên hay giảm xuống của tỷ giá kỳ hạn đồng ngoại tệ Nếu giả định việc đầu tư ra nước ngoài cũng có tỷ suất sinh lợi bằng với đầu tư trong nước, nghĩa là: rt = (1 + if)(1 + p) – 1 = ih Suy ra: P = (1 + ih) / (1 + if) - 1 Lấy gần bằng: p = ih - if Lý thuyết ngang giá lãi suất phòng ngừa IRP phát biểu rằng tỷ giá kỳ hạn sai lệch so với tỷ giá giao ngay bằng một lượng vừa đủ để lại trừ mức chênh lệch lãi suất giữa hai loại tiền.4 Các nghiên cứu thực nghiệm trƣớc đây 2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm không xem xét đến điểm gãy cấu trúc Nghiên cứu của Campell và Clarida. Năm 1987, Campell và Clarida công bố bài nghiên cứu “The dollar and real interest rates”. Trong bài này Campell và Clarida tìm hiểu mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoán thực của đồng USD và lãi suất thực kể từ năm 1979. Hai ông muốn tìm hiểu bao nhiêu phần trăm sự thay đổi trong 11 tỷ giá là do sự chệnh lệch lãi suất giữa hai quốc gia, bao nhiêu phần trăm thay đổi trong tỷ giá thực là do sự dịch chuyển của tỷ giá thực cân bằng dài hạn.
Để làm được điều đó cần phải sử dụng các biến chênh lệch lãi suất thực tiên nghiệm, kì vọng tỷ giá thực trong dài hạn và kể cả sai số trong việc dự báo lạm phát kì vọng. Tuy nhiên đây là những biến không quan sát được. Với giả định tỷ giá hối đoái thực trong dài hạn có bước đi ngẫu nhiên, hai ông đã ước lượng mô hình gồm các biến tỷ giá thực hậu nghiệm và chênh lệch lãi suất thực hậu nghiệm ngắn hạn. Hai biến này là tổ hợp tuyến tính của những biến không quan sát được đã nêu trước đó.
Tiến hành ước lượng mô hình, các ông tìm được những kết quả đó là: Kể từ năm 1980 sự thay đổi của tỷ giá thực của đồng USD bị chi phối bởi sự thay đổi ngoài kì vọng của tỷ giá thực dài hạn kì vọng. Chênh lệch lãi suất thực tiên nghiệm chỉ giải thích được một phần nhỏ và không đủ mạnh để khẳng định sự tác động của nó lên tỷ giá thực của đồng USD. Rõ ràng kết quả tìm được của Campell và Clarida còn khá mơ hồ trong việc tìm ra mối quan hệ giữa tỷ thực và chênh lệch lãi suất thực. Nghiên cứu của Messe và Rogoff.
Trong bài nghiên cứu “Was it real? The exchange rate-interest differential relation over the modern floating rate- period” đăng trên tạp chí Journal of Finance năm 1988, Messe và Rogoff cũng đi tìm mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và lãi suất thực kể từ sau khi Mỹ chấp nhận chế độ tỷ giá thả nổi (tháng 3/1973). Trong mô hình của mình Messe và Rogoff chỉ tập trung vào hai biến là tỷ giá thực và chênh lệch lãi suất thực mà không quan tâm đến các biến kinh tế khác. Chuỗi dữ liệu hai ông nghiên cứu cho ba cặp tiền tệ: Dollar Mỹ - Mark Đức, Dollar Mỹ - Yên Nhật, Dollar Mỹ - Bảng Anh. Dữ liệu quan sát được lấy theo tháng từ tháng 4/1976 cho đến tháng 3/1986.
Messe và Rogoff tiến hành các kiểm định nghiệm đơn vị, hồi quy phương trình GMM và kiểm định tính đồng liên kết. Kết quả của bài nghiên cứu phương sau: 12 Thứ nhất: Tìm được mối quan hệ giữa tỷ giá thực và chênh lệch lãi suất thực, tuy nhiên kết quả này lại không có ý nghĩa về mặt thống kê. Ông đề xuất đưa vào các biến khác có thể sẽ làm cho mối quan hệ này rõ ràng hơn. Thứ hai: Kiểm định nghiệm đơn vị cho thấy cả hai chuỗi dữ liệu tỷ giá thực và chênh lệch lãi suất thực có nghiệm đơn vị, tuy nhiên lại không tìm thấy bằng chứng về tính đồng liên kết của hai chuỗi dữ liệu này.
Phương vậy, nghiên cứu của Messe và Rogoff cũng chưa nêu ra được bằng chứng rõ ràng về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và chênh lệch lãi suất thực. Nghiên cứu của Edison và Pauls năm 1993. Năm 1993, bài nghiên cứu“A re-assessment of the relationship between real exchange rates and real interest rates: 1974-1990”, được đăng trên tạp chí Journal of Monetary Economics. Dựa trên ý tưởng tương tự và đề xuất của Messe và Rogoff, Edison và Pauls đưa thêm biến lạm phát kì vọng vào trong mô hình bên cạnh tỷ giá thực và chênh lệch lãi suất thực.
Tác giả bài nghiên cứu đã sử dụng phép kiểm định đồng kiên kết và mô hình sai số sửa lỗi (ECM) để kiểm định lại mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và chênh lệch lãi suất thực. Dữ liệu được thu thập theo quý cho giai đoạn từ năm 1974 cho đến 1990. Edison và Pauls tiến hành kiểm định đối với các cặp tỷ giá giữa Dollar Mỹ - Mark Đức, Dollar Mỹ - Yên Nhật, Dollar Mỹ - Bảng Anh, Dollar Mỹ - Dollar Canada và cuối cùng là Dollar Mỹ - đồng tiền đại diện các nước G10. Thực hiện kiểm định nghiệm đơn vị, hai ông nhận thấy các chuỗi tỷ giá thực và chênh lệch lãi suất thực đều là chuỗi không dừng.
Tuy nhiên hai ông lại không tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ đồng liên kết giữa hai biến này.