Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về XTĐT vào lĩnh vực NN địa phương. Chương 2: Thực trạng đầu tư và XTĐT vào NNTỉnh Nghệ An thời gian qua. Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường XTĐT vào nền NN của Tỉnh Nghệ An. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÚC TIẾN ĐẦU TƢ VÀO LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP ĐỊA PHƢƠNG 1.
Những vấn đề lý luận chung về xúc tiến đầu tƣ. Khái niệm về đầu tư. Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu quan trọng của mọi quốc gia. Để thực hiện và duy trì được mục tiêu đó, mỗi nước sẽ có những chính sách và những bước đi phù hợp với hoàn cảnh cụ thể.
Tuy nhiên dù là quốc gia nào cũng phải trả lời câu hỏi nguồn lực cho đầu tư PTKT ở đâu và cách thức để huy động những nguồn lực ấy như thế nào? Đầu tư là hoạt động chủ yếu, quyết định sự phát triển và khả năng tăng trưởng của doanh nghiệp. Trong hoạt động đầu tư, doanh nghiệp bỏ vốn dài hạn nhằm hình thành và bổ sung những tài sản cần thiết để thực hiện những mục tiêu kinh doanh. Hoạt động này được thực hiện tập trung thông qua việc thực hiện các DAĐT. Theo Luật Đầu tư cũ 2005 của Việt Nam thì “đầu tư là việc nhà đầu tư (NĐT) bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật đầu tư và các quy định khác của pháp luật liên quan”, như vậy theo khái niệm này, đầu tư là thông qua các tài sản hữu hình và tài sản vô hình, gọi chung là việc “ bỏ vốn”, NĐT thực hiện các hoạt đọng đầu tư nằm trong khuôn khổ quy định pháp luật cho pháp.
Như vậy với ngành nghệ hoạt động phù hợp, các NĐT đều có quyền thực hiện đầu tư vào tất cả các lĩnh vực cho phép trong nền kinh tế mà không vi phạm quy định của pháp luật. Theo Bộ môn kế hoạch và đầu tư của Học viện NN Việt nam, thì xét trên góc độ vĩ mô: Đầu tư là sự hy sinh giá trị chắc chắn ở hiện tại để đạt được giá trị (có thể không chắc chắn) trong tương lai. Trên góc độ tài sản, thì đầu tư được hiểu là “quá trình bỏ vốn để tạo ra tiềm lực SXKD dưới các hình thức tài sản kinh doanh. Trên góc độ tài chính, đầu tư là “chuỗi hành động chi của các chủ đầu tư tiến đến chuỗi hành động thu để hoàn vốn và sinh lời”.
Như vậy có thể nói, đầu tư là quá trình bỏ vốn, sử dụng vốn hoặc các nguồn lực khác nhằm đạt được mục tiêu xác định trong các điều kiện KT-XH nhất định trong một khoảng thời gian xác định thông qua sử dụng phối hợp các nguồn lực. 10 Qua đây có thể thấy rằng, hoạt động đầu tư là một trong những hoạt động chính để tạo ra nguồn vốn, cụ thể là cho các lĩnh vực trong PTKT xã hội mà trong đó có NN. Với thực trạng nguồn vốn địa phương hiện nay chưa thể đáp ứng được tốc độ phát triển cũng như đòi hỏi về nền NN nông nghệ cao, giá trị, phát triển bền vững, ổn định thì nội dung làm sao tăng cường hiệu quả, chất lượng của đầu tư là nội dung cần được sự quan tâm của Đảng và địa phương. Điều này cũng là động lực chủ yếu cho việc thay đổi môi trường, nội dung trong công tác XTĐT, nhằm tăng cường chất lượng giá trị của đầu tư thông qua kêu gọi VĐT vào ngành NN.2 Các hình thức đầu tư.
Căn cứ vào Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 của Việt Nam, nếu phân loại đầu tư theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư, thì có thể chia làm hai loại đầu tư: Đầu tư trực tiếp: là hình thức đầu tư do NĐT bỏ VĐT và tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Đầu tư gián tiếp: là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà NĐT không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Đứng trên góc độ của toàn nền kinh tế, VĐT bao gồm nguồn VĐT trong nước và nguồn VĐT nước ngoài. * Đầu tư trong nước: là việc NĐT trong nước bỏ vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam.
* Đầu tư nước ngoài: là việc NĐT nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư.2 Khái niệm xúc tiến đầu tư Hiện nay tại Việt Nam, chưa có một khái niệm chính thống nào về XTĐT mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về MTĐT hay các hình thức đầu tư (như gián tiếp, trực tiếp…) hay thậm chí trong các văn bản pháp luật của Nhà nước (như Luật đầu tư) cũng chưa giải thích về khái niệm này. Nhà kinh tế học người Mỹ Theodore H.Moran (1998), tác giả cuốn “Foreign Direct Investment and Development: The new policy agenda for Developing Countries and Economics in Transition”, đã đánh giá khái niệm (XTĐT) dưới góc độ là phân phối thị trường. Tác giả cho rằng: trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, 11 XTĐT không có ý nghĩa gì hơn sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế, làm méo mó sự phân phối nguồn lực, hạn chế những ngành công nghiệp không được khuyến khích. Còn ở thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, XTĐT lại được giải thích như những nỗ lực của chính phủ trong việc thu hút FDI, tuy nhiên cái giá phải trả cho sự can thiệp này là nền kinh tế có thể bị bóp méo.
Tại Hội thảo Thu hút đầu tư nước ngoài- Triển vọng và giải pháp được tổ chức vào tháng 11/2002 do Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì đã bàn đến một khái niệm về XTĐT như sau: XTĐT là tổng hợp các biện pháp mà chính phủ một nước áp dụng nhằm thu hút VĐT trực tiếp nước ngoài, phục vụ cho các mục tiêu PTKT xã hội nhất định. Theo quan điểm này, thì công tác XTĐT được đánh giá là một trong những công cụ, biện pháp thu hút dòng vốn FDI, tuy nhiên không chỉ dừng lại ở đó, mà hoạt động XTĐT này phải phù hợp với định hướng, mục tiêu cũng như quan điểm của Chỉnh phủ, địa phương trong từng thời kỳ nhất định. Trong một nghiên cứu về “Chiến lược xúc tiến FDI tại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” do công ty PWC (Price Waterhouse Coopers) thực hiện nhờ sự tài trợ của cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) đã giới thiệu khái niệm XTĐT được đưa ra như sau “theo nghiã he ̣p, công tác XTĐT là những biện phát thu hút đầu tư thông qua một biện pháp tiếp thị tổng hợp của các chiến lược về “sản phẩm”, “xúc tiế n” và “giá cả”, trong đó: Sản phẩm: Ở đây sản phẩm chính là địa điểm mà thực hiện tiếp nhận các dự án đầu tư. Để phát triể n các chiế n lươ ̣c tiế p thi ̣phù hơ ̣p cầ n phải hiể u những thuâ ̣n lơ ̣i và bất lợi thực sự của một quốc gia hay một địa phương trước các đối thủ cạnh tranh.
Xúc tiến: Là những hoạt động phổ biến thông tin về các nỗ lực tạo lập nên mô ̣t hình ảnh về quố c gia, mô ̣t điạ phương hay mô ̣t khu công nghiê ̣p nào đó và cung cấ p thông tin về các dich ̣ vu ̣ đầ u tư cho các NĐT tiề m năng như tăng cường giới thiê ̣u các dich ̣ vu ̣ , sản phẩm tới NĐT; tăng cường hoa ̣t đô ̣ng xây dựng hin ̀ h ảnh bằ ng các hoa ̣t đô ̣ng cu ̣ thể ; tổ chức ma ̣nh mẽ trong giai đoa ̣n đầ u hoa ̣t đô ̣ng quan hê ̣ công chúng bao gồ m tổ chức hô ̣i n ghị khách hàng , tổ chức ho ̣p báo , tiế p xúc v ới khách hàng thường xuyên… Giá cả: Là giá mà NĐT phải trả để định vị hoạt động tại địa điểm đó. Giá này bao gồ m tấ t cả các loa ̣i chi phí từ giá sử du ̣ng cơ sở ha ̣ tầ ng , các tiê ̣n ić h đế n các loa ̣i 12 thuế, ưu đaĩ … Viê ̣c xác đinh ̣ giá phải có cơ sở và phải đa ̣t đươ ̣c các mu ̣c tiêu như là khi chào hàng phải tính đến giá trị đầu tư của khách hàng ; để tạo sự cạnh tranh, khi báo giá phải liệt kê rõ các dịch vụ sau bán hàng kèm theo. Giá tiền khách hàng phải trả tương xứng với mức dich ̣ vu ̣ mà ho ̣ nhâ ̣n đươ ̣c ; giá được quyết định ở mức giữ uy tín cũng như hỗ trơ ̣ các doanh nghiê ̣p để tránh sự can thiê ̣p của cơ quan liê n quan. Như vậy, có thể thấy dưới góc độ tiếp cận này, XTĐT được hiểu là một dịch vụ mà thông qua đó NĐT có thể có được các thông tin liên quan đến giá cả kinh doanh, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ NĐT thông qua các biện pháp tiếp thị, quảng bá hình ảnh MTĐT, chính sách,địa phương, đất nước và con người… Hay theo Phùng Xuân Nha ̣ (2012) : “ XTĐT là các hoạt động giới thiệu , quảng cáo cơ hội đầu tư và hỗ trợ đầu tư của nước sở tại.
Các hoạt động này được thực hiê ̣n bởi các quan chức chính phủ , các nhà khoa học , các doanh nhân… và dưới nhiề u hiǹ h thức như các chuyế n thăm viế ng ngoa ̣i giao cấ p chin ́ h phủ , các hội thảo khoa học , diễn đàn đầ u tư , các đoàn thăm quan khảo sát… và thông qua các phương tiê ̣n, xây dựng các ma ̣ng lưới văn phòng đa ̣i diê ̣n ở nước ngoài”. Có thể nói rằng, khái niệm XTĐT là một khái niệm không hoàn toàn mới trong lĩnh vực đầu tư đặc biệt là trong hoạt động thu hút đầu tư FDI và hiện nay, chưa có một khái niệm thống nhất nào về nội dung này, tuy nhiên trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng thì khái niệm này ngày càng được đa dạng hóa và nội dung ngày càng được xây dựng phong phú dưới nhiều phương thức.