CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RR VÀ QLRR TRONG CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG NÓI CHUNG VÀ CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ NÓI RIÊNG 1. Sơ lược về lịch sử phát triển lý thuyết rủi ro (LTRR) và QLRR 1. Lịch sử phát triển LTRR và QLRR ở các nước ngoài Tuy các phương pháp QLRR chính thống mới được nghiên cứu gần đây song nó đã có một lịch sử phát triển lâu dài. Với một số ít ngoại lệ các phép toán về RR, đặc biệt là lý thuyết xác suất đã được phát triển từ giai đoạn 1650 đến 1750 bởi các nhà tư tưởng như Pascal, , Fermat, Bernoulli, De Moivre và Bayes.
Đầu tiên việc ứng dụng những tiến bộ này chỉ giới hạn trong giải quyết các bài toán trò chơi, nhưng với sự thay đổi to lớn của xã hội, đặc biệt là kinh doanh thương mại ngày càng có tính tổ chức quy mô lớn và lý thuyết xác suất trở nên tối cần thiết cho quá trình ra quyết định tại một số ngành kinh doanh, đặc biêt là lĩnh vực bảo hiểm. Xem thế kỷ 17 là cung cấp các công cụ toán học, thì trong thế kỷ 18, các công cụ này đóng vai trò quan trọng trong xã hội. Đến thế kỷ 19, các nhà toán học lý thuyết như Laplace và Poisson và các nhà kinh tế học Jevons bắt đầu giải thích được rằng các vấn đề của bất trắc có thể giải quyết bằng các phương pháp xác suất thống kê xuất phát từ quan sát hoặc kinh nghiệm trước đấy. Và trong thế kỷ 20, các công cụ toán học dùng trong phát triển Lý thuyết Trò chơi đã được áp dụng đáng kể cho ngành quân đội và kinh doanh nhờ nhóm cố vấn của các tổ chức lớn như Rand Corporation ở Mỹ.
Một trong những nhà khoa học, nhà kinh tế học nổi bật trong nghiên cứu RR thời kỳ này là Frank Knight [41] (1885-1972). Đóng góp lớn nhất của ông đối với ngành kinh tế học là tác phẩm "Rủi ro, Sự không chắc chắn và Lợi nhuận" (Risk, Uncertainty, and Profit,1921). Mục tiêu cơ bản của ông là giải thích sự điều tiết lợi nhuận trong kinh doanh dưới dạng 5 một hàm số của rủi ro bất định (RRBĐ). Nghiên cứu này có tác dụng gắn kết những vấn đề về mặt lý thuyết giữa kinh tế vĩ mô và kinh tế vi mô.
Theo Frank Knight, RR là sự bất trắc có thể đo lường được. Các nhà khoa học khác như Irving Pfeffer, Marilu Hurt McCarty, và một số học giả Trung Quốc cũng đồng ý với quan điểm này. Một số nhà kinh tế học người Mỹ cho rằng RR là hoàn cảnh trong đó một sự kiện xảy ra với một xác suất nhất định hoặc trong trường hợp quy mô của sự kiện đó có một phân phối xác suất. Việc nghiên cứu RR sau đấy nhận được sự quan tâm rất lớn của khoa học nhân loại, đặc biệt là các nhà điều tra như Slovic, Kahneman, Tversky.
Hiệp hội quản trị rủi ro (QTRR) và bảo hiểm (Risk and Insurance Management Society, RIMS) - hiệp hội gồm những chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực QTRR - là hiệp hội đi đầu trong việc thiết lập những quan hệ với các nhà QLRR châu Âu và châu Á vào những năm 70 của thế kỷ 20. Trong những năm 90, các hoạt động QLRR tiếp tục phát triển; hàng loạt các hiệp hội QLRR ra đời ở Mỹ như hiệp hội QLRR công cộng (Public Risk Management Association, PRIMA), hội QLRR về chăm sóc sức khỏe Mỹ (the American Society for Healthcare Risk Management, ASHRM), hiệp hội QLRR và bảo hiểm của trường đại học (University Risk Managment and Insurance Association, URMIA),. đã làm cho hoạt động này trở thành một hoạt động không thể thiếu đối với các tổ chức và doanh nghiệp nhất là các tổ chức có quy mô lớn. Mục đích cuối cùng của các nhà QLRR là giúp cho các tổ chức, doanh nghiệp giảm tối đa các chi phí về RR dưới mọi hình thức và làm tăng tối đa những lợi ích của RR nhờ mạo hiểm.
Lịch sử phát triển về RR và QLRR ở Việt Nam Trong khi trên thế giới, LTRR và QLRR đã có quá trình phát triển lâu dài và rất mạnh mẽ thì tại Việt Nam, LTRR hầu như chưa được nghiên cứu và 6 áp dụng trong đầu tư xây dựng công trình. Tiến sĩ Trịnh Thùy Anh [21, 22, 23] đã nhận xét khoa học về RR ở Việt Nam còn thấp, trong đó các bên liên quan đến dự án còn rất thụ động và hoàn toàn phụ thuộc vào các yếu tố ngoại cảnh tác động trong việc ứng phó với RR. Hiện tại Việt Nam có nhiều rào cản lớn hạn chế QLRR; còn thiếu các điều kiện cần như các yếu tố về thời gian, nguồn lực, kinh phí cho công tác QLRR; các nhà quản lý chưa quen với khái niệm QLRR, lợi ích của việc QLRR chưa được đánh giá một cách cụ thể; nhận thức về RR và QLRR ở các bên liên quan đến dự án còn chưa rõ ràng. Hơn nữa, Việt Nam chưa có một đội ngũ chuyên gia có kinh nghiệm về QLRR.
Ngay cả trong Luật Xây dựng [1], ở chương III cũng chỉ nêu khái niệm "sự cố công trình xây dựng" chứ chưa đề xuất đến QLRR. Do vậy, việc nghiên cứu về QLRR trong các công trình xây dựng là rất cần thiết cả về ý nghĩa khoa học lẫn thực tiễn ở nước ta hiện nay. Khái niệm và phân loại rủi ro 1. Định nghĩa rủi ro Trong cuộc sống tất cả chúng ta đều phải đương đầu với RR, đó là điều không thể tránh khỏi.
RR có thể được hiểu là những bất trắc xảy ra ngoài mong muốn của đối tượng sử dụng và gây ra những thiệt hại về thời gian, vật chất, tiền của, thậm chí đến cả tính mạng của con người, và làm ảnh hưởng đến hoạt động của con người chúng ta. Có những RR do bản thân hoạt động của con người gây ra như RR tai nạn, RR do trình độ chuyên môn, quản lý, trình độ kinh doanh yếu kém, có những RR do những kỹ thuật và thiết bị lạc hậu dẫn đến năng suất lao động thấp, giá thành sản phẩm cao hoặc có những RR do tiến bộ khoa học gây ra như RR hao mòn vô hình quá lớn (nhập các thiết bị rất tiên tiến của thế giới vào trong nước không có điều kiện sử dụng, hoặc sử dụng với một thời gian ngắn), không kịp thu hồi vốn đầu tư trong 7 trang thiết bị máy móc vào tài sản cố định. Các RR này thường xuất hiện trong lĩnh vực sản xuất đặc biệt như trong lĩnh vực sản xuất xây dựng. Theo Frank Knight [41], một nhà khoa học, nhà kinh tế học người Mỹ, trong tác phẩm "Rủi ro, Sự không chắc chắn và Lợi nhuận" (Risk, Uncertainty, and Profit,1921) đã có những đóng góp quan trọng về phương pháp luận vào kinh tế cũng như đối với việc định nghĩa và giải thích chi phí xã hội.
Có thể xem ông là một trong những nhà khoa học hiện đại đầu tiên nghiên cứu sâu về RR bất định. Mục tiêu cơ bản của ông là giải thích sự điều tiết lợi nhuận trong kinh doanh dưới dạng một hàm số của RR bất định. Từ một số dẫn chứng trên cho thấy có rất nhiều khái niệm khác nhau về RR nhưng có thể xếp thành 2 nhóm như sau: Nhóm thứ nhất - RR là tình trạng xảy ra một số biến cố bất lợi nhưng có thể đo lường được bằng xác suất như Frank Knight, "RR là sự bất trắc có thể đo lường được"; hoặc theo Irving Pfeffer "RR là những ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất." Nhóm thứ hai - định nghĩa RR với sự chú trọng đến kết quả mà không chú ý đến xác suất xảy ra như Allam Willet: "RR là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi. HrThur Williams, "RR là sự biến động tiềm ẩn ở kết quả." Theo Georges Hirsch, khái niệm RR gắn liền với khả năng xảy ra của một số biến cố không lường trước hay đúng hơn là một biến cố mà ta hoàn toàn không chắc chắn (xác suất xảy ra <1); nói cách khác, RR ứng với khả năng có sai lệch giữa một bên là những gì xảy ra trong thực tế và một bên là những gì được dự kiến từ trước mà sai lệch này lớn đến mức khó có thể chấp nhận được.
8 Từ các khái niệm nêu trên có thể định nghĩa tổng quát về RR như sau: Rủi ro là tổng hợp những sự kiện ngẫu nhiên tác động lên sự vật, hiện tượng làm thay đổi kết quả của sự vật hiện tượng (theo chiều hướng bất lợi) và những tác động ngẫu nhiên đó có thể đo lường được bằng xác suất. Trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản nói chung và xây dựng công trình đường bộ nói riêng, các RR thường xuyên xuất hiện trong hầu hết quá trình thực hiện đầu tư. Dự án đường bộ có đặc điểm là quy mô xây dựng, vốn đầu tư, vật tư thiết bị và lao động lớn, thời gian thi công kéo dài và diễn ra trên nhiều vùng địa lý khác nhau, điều kiện địa hình, địa chất thủy văn, điều kiện môi trường khí hậu, thời tiết và cả điều kiện kinh tế - xã hội - dân cư khác nhau (ví dụ như tuyến đường Hồ Chí Minh, đường tuần tra biên giới, .), thời gian vận hành và khai thác dài nên RR có thể xảy ra do công trình không khả thi (như thiếu vốn, không giải phóng được mặt bằng, .), không đạt được mục đích, yêu cầu ban đầu của dự án, RR có thể là điều kiện bất khả kháng do điều kiện tự nhiên như sụt trượt đất, bão, lũ, lụt, động đất, sóng thần,. Theo thống kê ban đầu GS.
Nguyễn Viết Trung và TS. Đinh Công Tâm [34], với các công trình xây dựng cầu đường ở Việt Nam có tới 70 - 80% sự cố công trình là do lỗi thiết kế, trong đó tới 50% là do công tác khảo sát không kỹ; 20 - 30% là do lỗi của thiếu kiến thức ở khâu thiết kế và thẩm định thiết kế; 20% sự cố có liên quan đến lỗi do thi công và giám sát thi công. Từ góc độ QLDA, Hiệp hội QLDA của Anh Quốc (Association for Project Management) [39] và Viện QLDA Hoa kỳ (Project Management Institute) [43] đưa ra định nghĩa "Rủi ro là các sự kiện không chắc chắn xảy ra có thể ảnh hưởng đến mục tiêu của dự án nếu nó xảy ra." 9 Tuy nhiên, RR trong quản lý dự án có thể đo lường trên cơ sở tần suất xuất hiện của hiện tượng đấy trong quá khứ. RR khác với bất trắc.
Bất trắc là tình huống RR trong đó không thể xác định được xác suất xuất hiện của sự kiện.