đặt vấn đề quản lý, sử dụng nguồn vốn, chất lượng và tiến độ thi công lên hàng đầu sau đó mới đến quản lý an toàn lao động thi công công trình (ATLĐ). Tuy nhiên, khi Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 và Luật An toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2016) được ban hành đã có sự thay đổi lớn, công tác quản lý ATLĐ đã trở thành yếu tố quan trọng hàng đầu. Đây là sự thay đổi quan trọng về pháp luật, góp phần tạo ra sự chuyển biến nhận thức cho chính những người làm công tác quản lý trong ngành Xây dựng. Các chuyên gia về quản lý công trình xây dựng thường ví về công tác an toàn “phòng bệnh hơn chữa bệnh”.
Điều này hoàn toàn đúng với thực tế bởi nguyên tắc chính của quản lý an toàn trong thi côngcông trình xây dựng là công tác phòng ngừa. Quản lý an toàn trong thi công xây dựng công trình bao gồm các hoạt động quản lý ATLĐ của nhà thầu thi công xây dựng; giám sát an toàn, thi công xây dựng công trình và kiểm tra nghiệm thu công trình xây dựng của chủ đầu tư; tư vấn giám sát của nhà thầu thiết kế thẩm tra biện pháp an toàn. Công tác quản lý chất lượng trang thiết bị trong thi công xây dựng là một trong các công tác chính của công tác quản lý ATLĐ công trình xây dựng. Đã có nhiều nghiên cứu liên quan về công tác liên quan an toàn dự án xây dựng tại Việt Nam trước đây như: 9 - Tác giả Trần Ngọc Hùng (2009).
Báo cáo “Sự cố công trình xây dựng : Nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa”, Tổng hội xây dựng Việt Nam để cải thiện việc quản trị phòng ngừa an toàn trong xây dựng - PGS. “Sự cố công trình xây dựng – Bất cập trong quy định hiện hành và kiến nghị khắc phục”, Báo cáo hội thảo khoa học toàn quốc “Sự cố và phòng ngừa sự cố công trình xây dựng” - Tác giả Phạm Thi Trang (2010). “Nghiên cứu giải pháp quản trị rủi ro trong dự án thi công xây dựng” Chu trình phát triển của một dự án xây dựng gồm 3 giai đoạn: Giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư, giai đoạn thực hiện dự án đầu tư, giai đoạn kết thúc dự án đầu tư. Thi công xây lắp thuộc giai đoạn thực hiện dự án đầu tư, đây là giai đoạn sử dụng nhiều nhất nguồn tài chính, nhân lực và vật lực của dự án.
Theo Jon Alvarez, Frances M, David Pieterse (2007), giai đoạn thi công xây dựng cũng chính là giai đoạn xảy ra nhiều rủi ro về nhất về chất lượng, tiến độ, chi phí, an toàn của dự án. Do đó, việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng chi phi an toàn trong giai đoạn thi công cho các công trình xây dựng sẽ đầy đủ cơ sở nhất. Mục tiêu nghiên cứu 1/ Tìm hiểu tổng quan và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí an toàn lao động, vệ sinh lao động 2/ Phân tích thống kê các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí an toàn lao động để đánh giá mức độ quan trọng của các nhân tố 3/ Đề xuất mô hình dự báo định lượng về chi phí ATLĐ trong công trình xây dựng trên địa bàn Tp. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi Luận văn dừng lại ở những giới hạn sau: Thời gian thực hiện luận văn: từ ngày 15/02/2017 đến ngày 31/08/2017.
10 Địa điểm: Luận văn tiến hành khảo sát các cá nhân làm việc tại các dự án thuộc TPHCM. Tính chất, đặc trưng của đối tượng nghiên cứu: đơn vị tư vấn Quản lý dự án/TVGS, nhà thầu thi công của các dự án tại TP. Quan điểm phân tích: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí ATLĐ dự án trên quan điểm của đơn vị tư vấn QLDA/TVGS và nhà thầu thi công. Đặc điểm dự án: Dự án vốn tư nhân, thực hiện theo kiểu Design- Bid- Buid.
Đối tượng khảo sát: + Đơn vị TVGS/Quản Lý Dự Án. + Các nhà thầu thi công xây dựng dân dụng và công nghiệp. Đóng góp kỳ vọng của nghiên cứu: 1. Về mặt học thuật, hàn lâm.
Các ngành công nghiệp xây dựng đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Sự cần thiết để đạt được tính chuyên nghiệp, tính nhân văn và môi trường cộng đồng trong dự án xây dựng là rất quan trọng. An toàn và vệ sinh môi trường là một yếu tố thiết yếu cho sự bền vững và sự hài lòng của khách hang, địa phương nơi doanh nghiệp đặt trưng đến. Nghiên cứu này nhằm mục đích để cung cấp cho khách hàng, các nhà quản lý dự án, các nhà thiết kế, nhà thầu và các thông tin cần thiết cần thiết để tổ chức quản lý tốt hơn chất lượng công tác an toàn của dự án xây dựng như: - Tổng quan về công việc, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, vệ sinh lao động - Các yếu tố nguy hiểm, có hại khi làm công việc hoặc vận hành thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động và vệ sinh lao động - Kỹ thuật an toàn lao động, vệ sinh lao động khi làm công việc hoặc vận hành thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, vệ sinh lao động.
11 - Xử lý các tình huống sự cố sản xuất, sơ cứu tai nạn lao động 1. Về mặt thực tiễn Kết quả nghiên cứu tìm ra các nhân tố gây ảnh hưởng tiêu cực đến an toàn lao động công trình và chi phí cho công tác an toàn trong giai đoạn thi công của dự án, từ đó có các biện pháp phòng ngừa, kiểm soát hợp lý có giá trị tham khảo cho các nhà quản lý dự án trong việc quản lý trong giai đoạn thi công đưa dự án đến thành công. 12 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 2. Giới thiệu chương.
Nội dung của Chương 2 sẽ đi vào hai vấn đề chính đó là làm sáng tỏ các khái niệm quan trọng được sử dụng trong Luận văn và tổng hợp các nghiên cứu trước về phương pháp cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến ATLĐ và chi phí tiềm năng được tổng hợp có chọn lọc từ những nghiên cứu trước. Nội dung chương này cung cấp một cơ sở lý thuyết cho đề tài nghiên cứu. Khái niệm về an toàn lao động. Theo Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015: “An toàn lao động” là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động.
Khái niệm về chi phí ATLĐ. - Theo Thông tư 04/2017/TT-BXD qui định về Quản lý an toàn lao động trong thi công xây dựng công trình có qui định “Chi phí thực hiện đảm bảo an toàn lao động”. Theo đó, chi phí thực hiện để đảm bảo ATLĐ cho người lao động khi tham gia thi công xây dựng công trình, gồm: Lập và thực hiện các biện pháp kỹ thuật an toàn; Huấn luyện và thông tin, tuyên truyền về ATLĐ; Trang cấp dụng cụ, phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động; Công tác phòng, chống cháy, nổ; Phòng, chống yếu tố nguy hiểm, có hại và cải thiện điều kiện lao động; Ứng phó sự cố gây mất ATLĐ, xử lý tình trạng khẩn cấp; Kiểm tra công tác ATLĐ của cơ quan chuyên môn về xây dựng”. Quản lý an toàn lao động là một phần quan trọng trong Quản lý chất lượng công trình nên các nguyên tắc quản lý an toàn lao động cũng như sau: - Nguyên tắc thứ 1 là định hướng bởi khách hàng.
13 - Nguyên tắc thứ 2 là sự lãnh đạo. - Nguyên tắc thứ 3 là sự tham gia của mọi người. - Nguyên tắc thứ 4 là quan điểm quá trình. - Nguyên tắc thứ 5 là tính hệ thống.
- Nguyên tắc thứ 6 là cải tiến liên tục. - Nguyên tắc thứ 7 là quyết định dựa trên đặc trưng dự án. - Nguyên tắc thứ 8 là quan hệ hợp tác cùng có lợi với người đầu tư.1: Mô hình một hệ thống quản lý ISO 9001:2008 Các phương pháp quản lý an toàn và chi phí an toàn - Kiểm tra hệ thống an toàn. - Kiểm soát hoạt động an toàn.
- Kiểm soát chất lượng an toàn toàn diện. 14 - Quản lý chất lượng an toàn toàn diện Hình 2.2: Mô hình một hệ thống quản lý ATLĐ công ty DOOSAN- Hàn quốc Quản lý chất lượng an toàn toàn diện được định nghĩa là phương pháp quản lý của một tổ chức, định hướng vào chất lượng công việc, dựa trên sự tham gia của mọi thành viên và nhằm đem lại sự thành công dài hạn thông qua sự hiệu quả công việc và lợi ích của các thành viên trong đơn vị và cả xã hội. Mục tiêu của quản lý an toàn toàn diện là cải tiến biện pháp thực hiện và thỏa mãn yêu cầu an toàn ở mức tốt nhất cho phép. Khái niệm về dự án Dự án được hiểu là một công việc với các đặc tính như nguồn lực (con người, tài chính, máy móc), có mục tiêu cụ thể, phải được hoàn thành với thời gian và chất lượng định trước, có thời điểm khởi đầu và kết thúc rõ ràng, có khối lượng và 15 công việc cụ thể cần thực hiện, có nguồn kinh phí bị hạn chế và là sự kết nối hợp lý của nhiều phần việc lại với nhau.
Theo Viện Quản lý dự án Quốc tế PMI 2007: Quản Lý dự án là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp và được kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt được một mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực. Khái niệm về dự án đầu tư xây dựng: Theo khoản 2, Điều 3 Luật đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015, được sửa đổi, bổ sung đưa ra giải thích về dự án đầu tư như sau: “Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định” Theo điều 3 – Luật xây dựng định nghĩa dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định. Dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở.