mở đầu diễn biển và kết thúc + Một quá trình tương tác giữa hai phía + Việc khơi gợi tiềm năng của TC + Giúp TC tự tin vào bản thân và tự giải quyết vấn để của mình + Mội quá trình dẫn đến sự thay đổi ở TC Đây là những đặc trưng quan trọng của tham vấn được nhiều tác giả nêu lên trong định nghĩa về tham vấn của mình [35,77], [3, 40], [31. 19, 169], [4,50] Ở các định nghĩa trên thì các tác giả đều cho rằng tham van là môi quá trình tương tác giữa NTV và TC, nêu lên vai trò của NTV là giúp TC nhận biết tiém năng của bản thân bằng các kiến thức va KN chuyên môn của mình và vai trò của TC là sử dụng những tiém năng đó để giải tự giải quyết vấn dé của: bản thân, cũng như nhấn mạnh đến kết quả của quá trình tương tác đó là phải tạo ra được sự thay đổi ở đối tượng. Theo các định nghĩa này thì tham vấn phải được thực hiện bởi những người được đào tạo chuyên nghiện, có chuyên mỗn.Mielke (1990) định nghĩa “ tham vấn là một quá trình, một mốt quan hệ nhằm giúp đỡ TC cải thiện cuộc sống của họ bằng cách khai thác nhận thức và thấu hiểu những suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của TC. Ở định nghĩa nay ta chỉ thấy mối quan hệ có một chiéu từ phía người giúp đỡ đến TC chứ không thấy chiều ngược lại và không thấy được vai trò chủ động của TC.
“Tham vấn la một quá trình trợ giúp dựa trên cắc KN, trong đó một người dành thời gian, sự quan tâm và sử dụng các KN của họ một cách rõ sang và có mục đích để giúp đỡ TC khai thác tình huống, xác định và triển khai những giải pháp khả thi trong giới hạn cho phép” [29,22|. O định nghĩa này có thể hiểu một người nào đó có KN nhất định thì có thể giúp đữ được người khác, giúp họ vạch ra các giải pháp. Nhưng để trở thành một người trợ giúp có hiệu quả thì chỉ cần có KN thôi chưa đủ mà cần phải có các yếu tố khác nữa như kiến thức và một số phẩm chất cần thiết. Như vậy “ Tham vấn là một quá trình tương tác tích cực giữa NTV và TC, trong dé NTV sử dụng những kiến thứ, KN chuyên mén của mình để tìm hiểu thấu đáo vấn dé của TC, cũng như tìm hiểu và khơi day những tiém năng của TC để họ tự giải quyết vấn dé trên cơ sở hiểu biết đẩy đủ thông tin và tạo ra sự thay đổi tích cực nơi TC" 1.2, Khái niệm tư van ( cố vấn) (consultation) Tư vấn (cố vấn) và tham vấn là hai khái niệm khác nhau về bản chất nhưng dễ bị lẫn lận.
Nguyên nhãn do việc dịch thuật các khái niệm từ tiếng Anh sang tiếng Việt. Trong tiếng Anh hai thuật ngữ “tham vấn” và "tư vấn” là hai từ hoàn toàn khác nhau (counseling va consultation). Ngoài ra còn do cách dùng từ ngữ trong hoạt động thực tiễn ở Việt Nam. Thuật ngữ tư vấn được sử dung phổ biến thông qua các hoạt động tư vấn pháp luật, tư vấn kinh tế, do đó người ta sử dụng luôn thuật ngữ tư vấn để gọi tên một hoat động giúp đỡ về mặt TL cho người khác (“tw vấn TL”).
Nhưng hiện nay người ta đã bat đầu xem xét lại nội hàm, ban chất của các thuật ngữ tham vấn và tư vấn để có sự phân biệt rõ rằng giữa tham vấn và tư vấn nhằm có sự điểu chỉnh cách gọi cho phù hợn |4, 50] Về thuật ngữ tư vấn cũng có rất nhiều khái niệm khác nhau như sau: - Tư vấn là một hoạt động giữa môi bên là chuyên gia được hỏi ý kiến với một bén là người có nhu cầu xin ý kiến về một vấn để thuộc chuyên môn của chuyên gia đó [3,40|, [38,18], [9,127] - Tư van là hoạt động diễn ra giữa hai người déu có chuyên môn, nghiệp vụ trong đó một người là người tư vấn, một người có nhu cầu được giúp đỡ để xử lý các vấn dé liên quan đến công việc. - Tư vấn là việc cho lời khuyên và chỉ dẫn cách thức thực hiện những lời khuyên đó cho người có nhu cầu tư vấn và họ phải làm theo như vậy [31.12] - Tư vấn TL là một quá trình hỗ trợ và tác động của nhân viên tư vấn tới nhận thức của đối tượng cẩn được tứ vấn để ho có thể vượt qua được những rào can về mặt TL, lý trí. tinh cảm, thói quen, định kiến để có được những quyết định phù hợp với yêu cầu chuyển đổi nhận thức thái độ và hành vi, làm cho họ vững tin rằng nhu cầu và mong muốn của họ sé được thoả mãn khi ho chấp nhận chuẩn mực mới ".[l4, 66] Ở định nghĩa này ta chỉ thấy quá trình hỗ trợ chỉ có một chiều từ nhãn viên tư vấn đến người cần tư vấn ma không có chiều ngược lại. Như vậy nhân viên tư vấn là người giữ vai trò chủ động còn người cần tư vấn thi thụ động.
= 13- Như vậy có thể nhận thấy tư vấn bao gồm những đặc trưng sau: + Doi hỏi những lời khuyên mang tính cụ thể, và cách giải quyết vấn để một cách cụ thể từ những chuyên gia có chuyên môn về một lĩnh vực cụ thể ma người có nhu cau tư vấn đang can + Nhà tư vấn là người chủ động và quyết định thay cho TC bằng cách áp đặt cách giải quyết của mình lên TC + Tính lượng giá thường rõ rang, cụ thể + Không phải là việc khơi gợi tiểm năng ở TC + Không phải là một quá trình để dẫn déu sự thay đổi ở TC, việc giải quyết vấn để chỉ mang tính chất tạm thời Vậy : " tư vấn là một hoạt động cung ting lời khuyên, sự chỉ dẫn cụ thể để giải quyết vấn dé từ phía nhà tu vấn (người cd kiến thức chuyên môn, hiểu biết nhất định về một lĩnh vực cụ thể) cho cá nhân hay tổ chức xã hội cá nhu cầu được cung cấp thông tin, hải ý kiến hoặc tìm kiếm giải pháp hay một lời khuyên cho vấn dé của họ mà thuộc phạm vi chuyên môn của nhà tư uấn, để giúp họ giải quyết vấn đề một cách cd hiệu gud. Sự khác nhau giữa tham vấn và tư vấn (cố vấn ) Tham vấn - counseling Tư vấn (cố vấn) - consultation Là một cuộc nói chuyện mang tính | Là một cuộc nói chuyện giữa một cá nhân giữa NTV với một hoặc một | chuyên gia về một nh vực nhất nhóm người đang cẩn sự hỗ trợ để | định với một hoặc nhiều người đang đối mặt với khó khăn trong cuộc | cẩn lời khuyên hay chỉ dẫn về lĩnh sống, trọng tâm của tham vấn đặt ở | vực đó, trọng tâm của tư vấn đặt ở BR Fe NTV hỗ trợ TC ra quyết định bằng | Nhà tư vấn đưa ra những lời khuyên, cách giúp họ xác định và làm sáng | chỉ dẫn cụ thể để TC dựa vào đó mà tỏ vấn để, xem xét tất cả các khả | giải quyết vấn để của họ. Khi TC năng và từ đó TC sẽ tự đưa ra lựa | làm theo lời khuyên đó thì xem như Í chọn tối ưu nhất cho chính họ dựa | việc tư vấn đã thành công. Có thé trên sự hiểu biết thông tin đầy đủ và | tạo nên sự ¥ lại của TC vào nhà tư nhận thức được khả năng tiểm ẩn | vấn.
Dấu hiệu của sự thành cong trong tham vấn là giúp TC biết cách tự giải quyết vấn để của họ, không | tạo nên sự ÿ lại của TC nơi NTV Ì Để tham vấn có hiệu quả thì việc | Để tư vấn có hiệu quả thì kiến thức xây dựng mỗi quan hệ với TC có ý | chuyên mén và sự hiểu biết của nha nghĩa quyết định, NTV cần phải xây | tư vấn về lĩnh vực mà TC đang can dựng được lòng tin nơi TC. Nếu | tư vấn lại có ý nghĩa quyết đỉnh hơn. không thì quá trình tham vấn không thể diễn ra. NTV chỉ là người giúp TC nhận ra | Nhà tư vấn nói với TC về những và sử dụng những khả năng và thể | quyết định họ cho là phù hợp nhất mạnh riêng của họ và để TC có vai | đối với tình huống của TC thay vì trò chủ động trong quá trình tham | tăng cường khả năng của TC và nhà vấn chứ NTV không quyết dinh thay tư vấn là người giữ vai trò chủ động thân TC trong quá trình tư vấn chứ không phải là TC - lã- Tham van tập trung vào con người Tư vấn tập trung vào nan để, nhà tư chứ không chỉ là nan để.
vấn tập trung vào việc xử lý các nan đồng cảm va chấp nhận vô điểu để TC trình bày, nha tư vấn có thể kiện với những cảm xúc và tình cẩm | giúp TC mà không cần chú ý đến của TC vì vậy NTV cần phải thiết người đó hay tạo một mối quan hệ lap được mối quan hệ với TC và tìm nào cả, Tập trung vào nan dé khiến hiểu về hoàn cảnh của TC điều gì đó cho người khác.vấn đưa ra những lời khuyên ho không quan tâm đến việc thể hiện sự thông cảm hay chấp nhãn TC và không ean thiết phải tìm hiểu hoàn cảnh TC. Tham vấn chỉ có tính chất 2 bên, Tư vấn có tính chất 3 bên bao gồm NTV và TC, vấn để tham vấn luôn là nhà chuyên gia, cá nhãn tổ chức cần của bản thân TC, TC trực tiếp cẩn| tư vấn, và đối tượng tác động của tham vấn người cẩn tư vấn, vấn để của TC trong tư vấn có thể không phải là của bản thân họ mà họ chỉ là người dai diện, người trung gian đi tu vấn thay. Tham vấn TL với TL trị liệu TL trị liệu là một quá trình tương tac qua lại giữa nhà trị liệu (người có KN, kinh nghiệm, được huấn luyện) với TC (người có các vấn để nghiém trọng về mặt TL). Trong đồ nhà trị liệu sử dụng các liệu pháp TL - lö- (đó là các biện pháp kĩ thuật trị liệu đã được chấp nhận và được thực hiện bởi những người có chuyên môn, đã qua trường lớp đào tạo, huấn luyện với những rằng buộc về đạo đức nghề nghiệp, pháp lý) để giúp TC tháo gd, giải tod những trói buộc về cơ thể, xúc cảm, tình cảm, tư tưởng nhận thức do những stress, nếp nghĩ, thói quen tập nhiễm tạo ra.