Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỒNG PHẠM TRONG TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Nhận thức về đồng phạm và khái niệm đồng phạm trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 1. Nhận thức về đồng phạm Đồng phạm là một khái niệm thể hiện việc nhiều người tham gia vào việc thực hiện tội phạm, phản ánh quy mô tội phạm. Nhưng không phải cứ có nhiều người tham gia là đồng phạm, mà nhiều người tham gia đó phải cố ý cùng thực hiện một tội phạm, nếu có nhiều người phạm tội nhưng không có sự cố ý cùng thực hiện một tội phạm thì không gọi là đồng phạm.
Cùng cố ý là có sự tiếp nhận về mặt ý chí giữa những người phạm tội. Dưới góc độ khoa học luật hình sự, có thể đưa ra định nghĩa khoa học về khái niệm đồng phạm như sau: “Đồng phạm là hình thức phạm tội do cố ý được thực hiện với sự tham gia của 2 người trở lên” [6, tr. Theo đó để được coi là phạm tội trong trường hợp đồng phạm đòi hỏi phải thỏa mãn các dấu hiệu khách quan và các dấu hiệu chủ quan, tức là phải thỏa mãn “ba dấu hiệu khách quan và hai dấu hiệu chủ quan có tính đặc trưng và bắt buộc” [64, tr. Các dấu hiệu khách quan là sự tham gia của hai người trở lên vào việc thực hiện tội phạm và có sự cùng chung hành động (hay liên hiệp hành động).
Sự tham gia của hai người trở lên vào việc thực hiện một tội phạm là dấu hiệu bắt buộc thuộc về mặt khách quan của đồng phạm, nếu thiếu dấu hiệu về số lượng người tham gia thực hiện một tội phạm thì sẽ không có cấu thành đồng phạm. Tội phạm do một người thực hiện chỉ là trường hợp phạm tội riêng lẻ, Cấu thành tội phạm độc lập, hậu quả phạm tội là do hành động và ý chí của một người gây ra. Chỉ khi có từ hai hoặc nhiều người trở lên tham gia thực 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiện tội phạm thì mới có sự bàn bạc và cùng nhau hành động. Cùng chung hành động (hay liên hiệp hành động) của những người tham gia vào việc thực hiện tội phạm là dấu hiệu khách quan bắt buộc trong đồng phạm.
Thực tiễn cho thấy không phải bất cứ trường hợp nào cứ có hai hoặc nhiều người có hành động phạm tội cố ý cùng một lúc, tại cùng một địa điểm thì có đồng phạm. Đồng phạm đòi hỏi những người này phải cùng chung thực hiện một tội phạm cố ý, có nghĩa là những hành vi có tính nguy hiểm đáng kể của họ được thực hiện trong mối liên kết thống nhất, qua lại với nhau. Dấu hiệu chủ quan là sự cùng cố ý của những người tham gia thực hiện tội phạm. Sự cùng cố ý của những người tham gia thực hiện tội phạm: Dấu hiệu đặc trưng thuộc mặt chủ quan của đồng phạm là phải có sự cùng cố ý của tất cả những người đồng phạm để tham gia vào việc thực hiện tội phạm cố ý.
Đây là dấu hiệu chủ quan bắt buộc của đồng phạm, nếu thiếu dấu hiệu này sẽ không có đồng phạm. Sự cùng cố ý được thể hiện cả về lý trí và ý chí. Về lý trí thì những người tham gia trong đồng phạm phải hiểu rõ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình, cũng như hậu quả của nó [7, tr. Hoạt động phạm tội của những người phạm tội phải được tất cả biết rõ và họ muốn những người khác cùng mình hành động.
Về ý chí, trên cơ sở tiếp tục cho những cơ sở của lý trí, những người tham gia vào việc thực hiện tội phạm thể hiện mong muốn có hoạt động phạm tội cùng nhau hoặc nếu hậu quả có xảy ra thì có ý thức bỏ mặc. Nói cách khác, giữa những người đồng phạm đã cùng chung hành động hay liên hiệp hành động trong việc cùng thực hiện một tội phạm. Hành vi của mỗi người là một khâu cần thiết cho hoạt động phạm tội chung, "nhằm thực hiện một tội phạm nhất định và để đạt được một kết quả phạm tội thống nhất" [41, tr 196]. Hay nói một cách khác, phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của mỗi người đồng phạm với hậu quả nguy hiểm cho xã hội.
Mối quan hệ nhân quả có thể mang tính chất trực tiếp như cung cấp 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho người thục hành công cụ, phương tiện phạm tội,… hoặc biểu hiện gián tiếp thông qua nhận thức của người thực hiện như: xúi giục người thực hành, giúp đỡ họ thực hiện tội phạm [67, tr. Có thể khẳng định: nếu không có mối quan hệ nhân quả nêu trên thì không xuất hiện đồng phạm (dấu hiệu khách quan về mối quan hệ nhân quả). Những dấu hiệu chủ quan trong đồng phạm bao gồm: có sự cố ý của những người tham gia thực hiện tội phạm và động cơ - mục đích trong đồng phạm. Đồng phạm phải do cùng thực hiện tội phạm với lỗi cố ý thể hiện trên hai phương diện: lý trí và ý chí.
“Sự cùng cố ý phạm tội làm cho ý chí của những người đồng phạm được thống nhất với nhau và hành động phạm tội của mỗi người đều thống nhất trong sự chi phối chung của sự cùng cố ý phạm tội” [63, tr. Có thể có nhiều người đồng phạm khác nhau như người tổ chức, người giúp sức, người xúi giục, người thực hành với những hành vi tham gia vào việc thực hiện tội phạm tương ứng như hành vi tổ chức, xúi giục, giúp sức cho việc thực hiện tội phạm. Tuy nhiên là luôn phải có hành vi của người thực hành, hành vi của những người đồng phạm khác chỉ thông qua hành vi của người thực hành để góp phần vào kết quả chung của tội phạm. "Hành vi của những người đồng phạm khác chỉ tạo ra khả năng phát sinh hậu quả, muốn chuyển khả năng ấy thành hiện thực phải có hành vi của người thực hành" [62, tr.
Đồng phạm có thể phân loại thành đồng phạm thường, đồng phạm phức tạp và đồng phạm đặc biệt. Trên phương diện lập pháp và thực tiễn thì đồng phạm có tổ chức còn chưa được làm rõ và gặp nhiều quan điểm nhìn nhận khác nhau. Phạm tội có tổ chức với tính chất là đồng phạm đặc biệt mà định nghĩa pháp lý của nó được nhà làm luật Việt Nam ghi nhận trong pháp luật hình sự hiện hành. Tuy nhiên phạm tội có tổ chức vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau do sự ghi nhận còn chung chung, chưa làm rõ được sự “câu kết chặt chẽ”.
Có quan điểm cho rằng phạm tội có tổ chức là hình thức phạm tội đặc 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biệt có sự câu kết chặt chẽ của những người cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm hoặc của các thành viên cùng một tổ chức tội phạm [6, tr. Sự câu kết chặt chẽ của những người đồng phạm chính là đặc điểm chủ yếu nhất nói lên tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn cả của hình thức đồng phạm này và nó thường có các dấu hiệu đặc trưng riêng về mặt khách quan và chủ quan. Quan điểm khác lại cho rằng hình thức phạm tội có tổ chức được thực hiện bởi những người đồng phạm đã tham gia vào một tổ chức tội phạm được hình thành (hoặc không tham gia vào một tổ chức nào) với “phương thức hoạt động có tính chất lâu dài, bền vững” [7, tr. Cũng có quan điểm nhận diện phạm tội có tổ chức là một hình thức đồng phạm đặc biệt – đó chính là đồng phạm có tổ chức.
Tính “có tổ chức” được thể hiện có sự bàn bạc, phân công vai trò người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện hành vi phạm tội, có kỷ luật, có quy ước hoạt động. trước khi thực hiện tội phạm có vạch kết hoạch, có sự tính toán, cân nhắc kỹ càng, có đề ra các tình huống xấu khi xảy ra … để cùng thống nhất hành động [69, tr. Theo tính chất tồn tại, phạm tội có tổ chức gồm: phạm tội có tổ chức một lần và phạm tội có tổ chức kéo dài. “Phạm tội có tổ chức một lần (hoặc một số lần) là hình thức phạm tội có tổ chức có sự câu kết chặt chẽ giữa những người phạm tội trong thời gian tương đối ngắn để cùng nhau thực hiện một tội phạm hoặc một số tội phạm” [39, tr.
Ở trường hợp này, những người đồng phạm mới chỉ thực hiện tội phạm được một lần hoặc một số lần thì bị phát hiện, bị bắt và bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng có thể thời gian câu kết để chuẩn bị phạm tội đã diễn ra trong thời gian tương đối dài. Để tiếp cận khái niệm phạm tội có tổ chức với tính chất là một hình thức phạm tội có tính nguy hiểm cao, trước hết cần làm rõ đến khái niệm tội phạm có tổ chức bởi tội phạm có tổ chức chính là hiện tượng tiêu cực mà trong đó những hoạt động phạm tội có tổ chức (hay còn gọi là đồng phạm có tổ chức) được thực hiện bởi một nhóm 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người có cơ cấu nhất định (câu kết với nhau) nhằm mục đích lợi nhuận hay các mục đích khác. Ngoài những dấu hiệu mang tính chất của đồng phạm đã nêu trên, phạm tội có tổ chức còn mang các nét đặc biệt so với đồng phạm nói chung. Phạm tội có tổ chức không thể là trường hợp đồng phạm đơn giản, vì nếu không có sự phân công vai trò thì không thể hiện được “tính có tổ chức” của loại đồng phạm đặc biệt này.
Cũng không thể đánh đồng phạm tội có tổ chức với đồng phạm có thông mưu trước. Phạm tội có tổ chức và đồng phạm có thông mưu trước là hai khái niệm không hoàn toàn đồng nhất. Nội hàm của khái niệm phạm tội có tổ chức chứa đựng những dấu hiệu của đồng phạm có thông mưu và một số yếu tố khác. Nếu xét về tính chất cấu kết cũng như mức độ nguy hiểm cho xã hội thì phạm tội có tổ chức có sự cấu kết chặt chẽ hơn và mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn hẳn.
Điều này cho thấy: phạm tội có tổ chức luôn là hình thức đồng phạm có thông mưu trước ở mức độ cao. Đồng phạm có tổ chức có những đặc điểm cơ bản sau đây [42, tr.