Tổng quan nghiên cứu

Trong hệ thống tư pháp hình sự, bảo vệ quyền sở hữu tài sản và trật tự an toàn xã hội là một trong những nhiệm vụ trọng tâm được ghi nhận xuyên suốt từ Bộ luật Hình sự năm 1999 đến Bộ luật Hình sự năm 2015. Tội cưỡng đoạt tài sản là loại tội phạm xâm phạm quyền sở hữu mang tính chất nguy hiểm cao do kết hợp hành vi uy hiếp tinh thần người khác nhằm tước đoạt tài sản. Khi tội phạm này được thực hiện dưới hình thức đồng phạm, tính chất nguy hiểm cho xã hội gia tăng đáng kể bởi sự liên kết về ý chí, sự phân công vai trò và khả năng gây thiệt hại trên diện rộng.

Tại địa bàn tỉnh Thanh Hóa, trong giai đoạn 5 năm từ năm 2012 đến năm 2016, Tòa án nhân dân hai cấp đã đưa ra xét xử sơ thẩm và phúc thẩm tổng cộng 10.080 vụ án hình sự với 19.610 bị cáo. Trong đó, nhóm tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt chiếm 3.280 vụ với 3.480 bị cáo. Riêng tội cưỡng đoạt tài sản ghi nhận 132 vụ án với 259 bị cáo. Đáng chú ý, các vụ án có tổ chức và có sự tham gia của nhiều người chiếm tới 61 vụ (đạt tỷ lệ 46,21% tổng số vụ cưỡng đoạt tài sản) với 185 bị cáo đồng phạm (chiếm tỷ lệ 72,27% tổng số bị cáo bị truy cứu về tội danh này).

Mục tiêu nghiên cứu tập trung làm sáng tỏ cơ sở lý luận về đồng phạm trong tội cưỡng đoạt tài sản, đánh giá toàn diện thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn 2012-2016, từ đó chỉ ra những vướng mắc, bất cập trong áp dụng pháp luật và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả định tội danh, lượng hình trong bối cảnh thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hai trụ cột lý thuyết pháp lý hình sự nền tảng: lý thuyết về chế định đồng phạm và lý thuyết về cấu thành tội phạm xâm phạm quyền sở hữu.

Theo quy định tại Điều 20 Bộ luật Hình sự năm 1999 (tương ứng với Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015), đồng phạm được xác định là trường hợp có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Lý thuyết đồng phạm phân hóa vai trò của các chủ thể tham gia thành 4 nhóm chính: người thực hành, người tổ chức, người xúi giục và người giúp sức. Đồng thời, cấu trúc đồng phạm được phân loại theo mức độ liên kết thành đồng phạm giản đơn, đồng phạm phức tạp và phạm tội có tổ chức.

Song song đó, cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản theo Điều 135 Bộ luật Hình sự năm 1999 (Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015) và khái niệm tài sản theo Điều 105, Điều 158 Bộ luật Dân sự xác lập rằng tội danh này có cấu thành hình thức. Khách thể của tội phạm bao gồm cả quan hệ sở hữu tài sản và quan hệ nhân thân (ở mức độ uy hiếp tinh thần). Về mặt khách quan, hành vi phạm tội biểu hiện qua thủ đoạn đe dọa sẽ dùng vũ lực trong tương lai hoặc thủ đoạn khác gây sức ép tâm lý nhằm buộc người quản lý tài sản phải chuyển giao tài sản. Mặt chủ quan đòi hỏi lỗi cố ý trực tiếp với mục đích chiếm đoạt có trước khi hành vi được thực hiện.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng tổng thể 132 vụ án sơ thẩm và phúc thẩm về tội cưỡng đoạt tài sản, bao gồm toàn bộ 61 vụ án có đồng phạm với 185 bị cáo được thụ lý, xét xử tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh và các Tòa án nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa từ ngày 01/01/2012 đến ngày 31/12/2016. Phương pháp chọn mẫu là phương pháp khảo sát toàn bộ (tổng điều tra dữ liệu thực tiễn xét xử) trong phạm vi không gian và thời gian xác định, bảo đảm không bỏ sót vụ án nhằm đạt độ tin cậy tuyệt đối về mặt dữ liệu.

Phương pháp phân tích kết hợp giữa thống kê hình sự định lượng và phân tích án văn định tính. Lý do lựa chọn kết hợp phương pháp này là nhằm vừa lượng hóa được biến động của tội phạm qua từng năm, vừa mổ xẻ chi tiết từng bản án điển hình để nhận diện sự sai lệch giữa lý luận lập pháp và thực tiễn áp dụng pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử. Ngoài ra, tác giả áp dụng phương pháp so sánh đối chiếu quy phạm giữa Bộ luật Hình sự năm 1999 và Bộ luật Hình sự năm 2015 để tìm ra các khoảng trống pháp lý cần hoàn thiện.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu thực tiễn xét xử trong 5 năm tại Thanh Hóa đưa ra 3 phát hiện nổi bật:

Thứ nhất, mức độ liên kết phạm tội ngày càng mang tính chất tập thể rõ nét. Tỷ lệ vụ án có đồng phạm chiếm 46,21% (61/132 vụ), nhưng số lượng bị cáo đồng phạm chiếm tới 72,27% (185/256 bị cáo). Năm 2013 ghi nhận tỷ lệ cao nhất với 51,61% số vụ và 76,5% số bị cáo thuộc diện đồng phạm. Điều này phản ánh xu hướng tội phạm cưỡng đoạt tài sản chuyển dịch mạnh từ hành vi đơn lẻ sang hoạt động nhóm, có sự câu kết chặt chẽ.

Thứ hai, cơ cấu vai trò đồng phạm gắn liền với hoạt động của các băng nhóm xã hội phức tạp. Khảo sát toàn tỉnh ghi nhận khoảng 51 băng nhóm với gần 500 đối tượng hoạt động theo kiểu "tín dụng đen", cho vay nặng lãi, đòi nợ thuê và bảo kê. Trong các vụ án đồng phạm, vai trò người thực hành chiếm 100% các vụ, người giúp sức chiếm tỷ lệ đáng kể, và có tới hơn 11,5% số vụ án xuất hiện sự phân công rõ ràng giữa người khởi xướng, người chuẩn bị công cụ và người trực tiếp đe dọa.

Thứ ba, việc áp dụng chế tài hình sự đối với 185 bị cáo đồng phạm thể hiện tính phân hóa rõ rệt nhưng còn tiềm ẩn bất cập. Thống kê chế tài cho thấy: 53 bị cáo được hưởng án treo (chiếm 28,65%); 61 bị cáo chịu mức phạt tù từ 3 năm trở xuống (chiếm 32,97%); 61 bị cáo chịu mức tù từ trên 3 năm đến 7 năm (chiếm 32,97%); 7 bị cáo chịu mức án từ trên 7 năm đến 15 năm (chiếm 3,78%); và 3 bị cáo nhận mức án từ trên 15 năm đến 20 năm (chiếm 1,62%). Nhóm tội phạm ít nghiêm trọng và nghiêm trọng chiếm tới 95,7% tổng số bị cáo.

Thảo luận kết quả

Các bảng thống kê và biểu đồ cơ cấu hình phạt phản ánh bức tranh thực tế về tình hình tội phạm cưỡng đoạt tài sản có tổ chức tại Thanh Hóa. Xu hướng tội phạm biến động phức tạp do tác động của quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng tại các khu kinh tế ven biển, huyện giáp ranh như thành phố Thanh Hóa, Sầm Sơn, Bỉm Sơn, Tĩnh Gia.

Sự gia tăng của các hoạt động "đòi nợ thuê" là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới các vụ án cưỡng đoạt tài sản có đồng phạm. Điển hình như Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử vụ án đòi nợ 74 triệu đồng: các đối tượng chia làm nhiều đợt đến uy hiếp tinh thần, đe dọa ném gạch đập phá cửa hàng để ép buộc nạn nhân giao trước 30 triệu đồng và hẹn 10 ngày sau giao tiếp 20 triệu đồng. Tòa án đã phân hóa trách nhiệm và tuyên phạt kẻ chủ mưu 42 tháng tù, hai đối tượng đồng thực hành mỗi người 36 tháng tù.

Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy vẫn còn những hạn chế nhất định như việc xác định ranh giới giữa đe dọa vũ lực ngay tức khắc (tội cướp tài sản) và đe dọa sẽ dùng vũ lực trong tương lai (tội cưỡng đoạt tài sản) đôi khi còn lúng túng. Bên cạnh đó, việc phân định vai trò giữa người giúp sức đơn thuần và người đồng thực hành trong một số vụ án chưa thực sự rạch ròi, dẫn tới việc quyết định mức hình phạt chưa hoàn toàn tương xứng với mức độ tham gia của từng bị cáo.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện khung khổ pháp luật và nâng cao hiệu quả xét xử các vụ án đồng phạm cưỡng đoạt tài sản, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao cần sớm ban hành Nghị quyết hướng dẫn chi tiết việc áp dụng Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015, đặc biệt làm rõ các tiêu chí định lượng về "thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần", ranh giới giữa tội cướp tài sản và cưỡng đoạt tài sản, và nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự trong trường hợp phạm tội có tổ chức. Mục tiêu là chuẩn hóa 100% các tiêu chí định tội danh trên phạm vi toàn quốc trước năm 2018.

Thứ hai, nâng cao chất lượng xét xử và kỹ năng phân hóa vai trò đồng phạm cho đội ngũ Thẩm phán. Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa cần tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ chuyên sâu định kỳ hàng năm cho 100% Thẩm phán và Thư ký tòa án, tập trung vào kỹ năng đánh giá chứng cứ điện tử, chứng cứ gián tiếp trong các vụ án đòi nợ thuê, bảo kê qua mạng viễn thông. Mục tiêu giảm tỷ lệ các bản án bị hủy hoặc sửa do lỗi chủ quan xuống dưới 0,5% mỗi năm.

Thứ ba, tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Thanh Hóa. Thiết lập quy chế trao đổi thông tin định kỳ hàng quý, bảo đảm tỷ lệ xử lý tin báo, tố giác tội phạm liên quan đến cưỡng đoạt tài sản, tín dụng đen đạt trên 95% trong giai đoạn 2017-2020.

Thứ tư, Ủy ban nhân dân và Công an tỉnh Thanh Hóa cần đẩy mạnh công tác quản lý hành chính về trật tự xã hội, siết chặt kiểm tra 100% các cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ, cho vay tài chính tư nhân. Đồng thời, triển khai các đợt cao điểm tấn công, triệt phá các băng nhóm đòi nợ thuê núp bóng doanh nghiệp, phấn đấu kiềm chế và kéo giảm từ 15% đến 20% số vụ án cưỡng đoạt tài sản có tổ chức trong các năm tiếp theo.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang giá trị thực tiễn và lý luận cao, phù hợp với các nhóm độc giả sau:

  • Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên tại các cơ quan tiến hành tố tụng: Sử dụng làm tài liệu tham khảo thực tiễn trong công tác phân loại hành vi, định tội danh và cá thể hóa hình phạt đối với từng loại người đồng phạm trong các vụ án phức tạp.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Luật học: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị, hệ thống hóa toàn diện các căn cứ lý luận về đồng phạm và tội phạm xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tại hơn 60 cơ sở đào tạo luật trên cả nước.
  • Luật sư và người hành nghề luật: Hỗ trợ xây dựng chiến lược bào chữa hoặc bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho đương sự, làm rõ mức độ tham gia và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các thân chủ trong các vụ án đồng phạm.
  • Cơ quan Công an và cán bộ quản lý an ninh trật tự tại địa phương: Cung cấp góc nhìn thực tiễn về phương thức hoạt động của các băng nhóm tội phạm cưỡng đoạt tài sản, từ đó tham mưu các phương án phòng ngừa nghiệp vụ và giữ vững trật tự an toàn xã hội.

Câu hỏi thường gặp

Điểm khác biệt cốt lõi giữa tội cưỡng đoạt tài sản và tội cướp tài sản trong trường hợp đồng phạm là gì?
Điểm khác biệt căn bản nằm ở yếu tố thời gian và khả năng dùng vũ lực. Tội cướp tài sản biểu hiện qua hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc làm tê liệt ý chí kháng cự của nạn nhân. Ngược lại, tội cưỡng đoạt tài sản là hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực trong tương lai hoặc sử dụng thủ đoạn uy hiếp tinh thần, khiến nạn nhân vẫn còn khoảng thời gian để suy xét trước khi buộc phải giao nộp tài sản.

Hành vi thuê người đòi nợ bằng cách đe dọa, ném chất bẩn vào nhà có bị xử lý tội cưỡng đoạt tài sản có đồng phạm không?
Có. Trường hợp người thuê và nhóm người đòi nợ có sự thống nhất ý chí sử dụng thủ đoạn uy hiếp tinh thần, đe dọa hủy hoại tài sản hoặc tính mạng nhằm buộc người khác giao tiền thì cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản có đồng phạm. Người thuê đóng vai trò chủ mưu hoặc xúi giục, còn nhóm trực tiếp đe dọa đóng vai trò người thực hành theo Điều 135 Bộ luật Hình sự năm 1999 (Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015).

Người giúp sức trong vụ án cưỡng đoạt tài sản chịu trách nhiệm hình sự như thế nào?
Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm. Họ phải chịu trách nhiệm hình sự chung về toàn bộ vụ án nhưng được xem xét giảm nhẹ hình phạt tương ứng với mức độ tham gia thứ yếu, theo nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 20 và Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 1999 (Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015).

Tỷ lệ áp dụng án treo đối với các bị cáo đồng phạm cưỡng đoạt tài sản tại Thanh Hóa giai đoạn 2012-2016 là bao nhiêu?
Theo số liệu thống kê tại Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2012-2016, trong tổng số 185 bị cáo đồng phạm bị đưa ra xét xử, có 53 bị cáo được Tòa án cho hưởng án treo, chiếm tỷ lệ 28,65%. Các trường hợp này chủ yếu rơi vào nhóm người giúp sức có vai trò không đáng kể, phạm tội lần đầu và có nhiều tình tiết giảm nhẹ.

Bộ luật Hình sự năm 2015 có điểm gì mới nổi bật đối với tội cưỡng đoạt tài sản?
Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bãi bỏ tình tiết định khung "gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác" trong cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản tại Điều 170. Theo quy định mới, nếu hành vi đe dọa dẫn tới hậu quả gây thương tích thực tế, người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự độc lập về tội cố ý gây thương tích bên cạnh tội cưỡng đoạt tài sản.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về chế định đồng phạm trong tội cưỡng đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam.
  • Đánh giá toàn diện bức tranh thực tiễn xét xử 61 vụ án với 185 bị cáo đồng phạm tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2012-2016.
  • Nhận diện chính xác các nguyên nhân pháp lý và thực tiễn dẫn tới những khó khăn trong phân hóa trách nhiệm hình sự của loại tội phạm này.
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao chất lượng áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015.
  • Đặt nền tảng thực tiễn quan trọng phục vụ công tác nghiên cứu, đào tạo pháp luật và bảo đảm 100% các vụ án hình sự được xét xử đúng người, đúng tội, không oan sai.

Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cơ quan thực thi pháp luật quan tâm có thể khai thác chi tiết các số liệu và lập luận khoa học trong toàn văn công trình để ứng dụng trực tiếp vào công tác nghiên cứu và thực tiễn tố tụng hình sự.