Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỒNG PHẠM TRONG TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Nhận thức về đồng phạm và khái niệm đồng phạm trong tội cưỡng đoạt tài sản 1. Nhận thức về đồng phạm Thực tiễn công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm cho thấy một tội phạm có thể chỉ do một người thực hiện, nhưng cũng có thể do hai hoặc nhiều người cùng tham gia thực hiện. Khi những người phạm tội cùng chung hành động và cùng cố ý thực hiện một tội phạm cụ thể thì sự kiện đó gọi là đồng phạm.
Trong luật hình sự, đồng phạm là một hình thức phạm tội có những đặc điểm riêng biệt. Chính những đặc điểm riêng biệt này làm cho cơ sở, phạm vi và nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự trong đồng phạm có những yếu tố khác biệt so với trường hợp phạm tội do một người độc lập thực hiện nên cần có những quy định riêng về đồng phạm. Đồng phạm là trường hợp những người phạm tội có sự bàn bạc thống nhất trước khi thực hiện tội phạm hoặc mặc dù không có sự bàn bạc, thống nhất nhưng có sự tiếp nhận về mặt ý chí giữa những người phạm tội để nhằm thực hiện tội phạm [13, tr. Như vậy để xác định vụ án đồng phạm thì cần dựa vào các căn cứ khách quan và các căn cứ chủ quan.
Căn cứ khách quan gồm số lượng người tham gia trong vụ án phải từ hai người trở lên mà hành vi của họ có tính liên kết nhằm mục đích thực hiện tội phạm với hậu quả chung do vụ án đồng phạm gây ra. Số lượng người phải có từ hai người trở lên và những người này đều phải có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự. Tính liên kết về hành vi thể hiện các chủ thể phải cùng nhau thực hiện tội phạm. Hành vi của người đồng phạm này 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com liên kết chặt chẽ với hành vi của người đồng phạm kia và tất cả đều phải hướng về một tội phạm, phải tạo điều kiện, hỗ trợ cho nhau để thực hiện một tội phạm thuận lợi, tức là hành vi của người đồng phạm này là tiền đề cho hành vi của người đồng phạm kia.
Nguyên nhân dẫn đến hậu quả tác hại chung của tội phạm là do hành vi của tất cả những người đồng phạm hợp nhất tạo ra. Hậu quả của tội phạm trong đồng phạm là hậu quả chung do toàn bộ những người đồng phạm gây ra. Hành vi của mỗi người đồng phạm đều là nguyên nhân gây ra hậu quả chung ấy. Điều này thể hiện mối quan hệ nhân quả trong vụ án đồng phạm.
Căn cứ chủ quan chính là yếu tổ lỗi. Toàn bộ những người đồng phạm đều phải có hình thức lỗi cố ý trong việc tham gia thực hiện tội phạm. Họ đều nhận thức rõ hành vi của mình và của những người đồng phạm khác là nguy hiểm cho xã hội. Mỗi người đồng phạm đều thấy trước hành vi của mình và hành vi của người đồng phạm khác trong vụ án đồng phạm là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hành vi của tất cả những người đồng phạm khác là nguyên nhân dẫn đến hậu quả và mong muốn hoặc có ý thức để mặc hậu quả xảy ra.
Đồng phạm có thể phân chia thành đồng phạm giản đơn, đồng phạm phức tạp và phạm tội có tổ chức. Đồng phạm đơn giản là hình thức đồng phạm không có sự thông mưu trước của những người cùng thực hiện tội phạm, tất cả những người đồng phạm đều có vai trò là người thực hành. Đồng phạm phức tạp là hình thức đồng phạm có sự phân công vai trò của những người cùng tham gia thực hiện tội phạm, trong đó ngoài một hoặc một số người có vai trò là người thực hành, còn có sự tham gia của những người đồng phạm khác như người tổ chức, người xúi giục hoặc người giúp sức. Ở hình thức đồng phạm phức tạp chỉ có một hoặc một số người đồng phạm (người đồng thực hành) thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm.
Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cùng thực hiện tội phạm. Như vậy trong đồng phạm có tổ chức, giữa những người cùng thực hiện tội phạm phải có sự câu kết chặt chẽ với nhau, có sự phân công vai trò, nhiệm vụ cụ thể, có sự tính toán và chuẩn bị kỹ càng, chu đáo trong việc cùng tham gia thực hiện tội phạm. Khái niệm đồng phạm trong tội cưỡng đoạt tài sản Bộ luật dân sự Việt Nam tại Điều 105 ghi nhận “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản.
Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai” [38]. Tài sản là đối tượng tác động của tội cưỡng đoạt tài sản phải thỏa mãn ba đặc trưng cơ bản sau đây: a) Tài sản phải được thể hiện dưới dạng vật chất, có giá trị và giá trị sử dụng; b) Tài sản phải có chủ sở hữu cụ thể với các quy định có tính chất pháp lý thể hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản; và c)Tài sản phải có khả năng chuyển hóa được giữa các chủ sở hữu với nhau [18, tr. Trên cơ sở đặc điểm tài sản là đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản, để đưa ra khái niệm tội cưỡng đoạt tài sản cần nghiên cứu, phân tích và làm rõ một số khái niệm và đặc điểm của hành vi chiếm đoạt. Khái niệm "quản lý" có thể hiểu là "trông coi, giữ gìn và theo dõi việc gì" [80, tr.1363], "chủ tài sản" được hiểu bao gồm chủ sở hữu tài sản hoặc người được giao quản lý tài sản đó (thông qua giao dịch dân sự hoặc theo quy định của pháp luật được giao nhiệm vụ quản lý tài sản).
Theo đó, cụm từ "chiếm đoạt tài sản" là hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lý của chủ tài sản thành tài sản của mình [68, tr.366]; hoặc "hành vi cố ý chuyển biến một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình hoặc của một nhóm người hoặc cho người khác mà mình quan tâm" [3, tr 230]. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hành vi chiếm đoạt tài sản bao hàm trong nó các yếu tố khách quan và chủ quan. Về mặt khách quan, hành vi chiếm đoạt là hành vi làm cho chủ tài sản (người là chủ sở hữu tài sản hoặc người có quyền quản lý tài sản) mất hẳn khả năng thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình và tạo cho người chiếm đoạt có thể thực hiện được việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt trái pháp luật tài sản đó. Như vậy, chiếm đoạt xét về mặt thực tế là quá trình vừa làm cho chủ tài sản mất tài sản vừa tạo cho người chiếm đoạt có tài sản đó, quá trình này xét về mặt pháp lý không làm cho chủ sở hữu mất quyền sở hữu của mình mà chỉ làm mất khả năng thực tế thực hiện các quyền cụ thể của quyền sở hữu.
Bên cạnh đó, tài sản là đối tượng tác động của hành vi chiếm đoạt đòi hỏi phải có đặc điểm là vẫn còn nằm trong sự chiếm hữu, sự quản lý, kiểm soát của chủ tài sản. Nếu tài sản đã thoát ly khỏi sự chiếm hữu, sự quản lý, kiểm soát của chủ tài sản (bị thất lạc) thì không còn là đối tượng của hành vi chiếm đoạt. Chỉ khi tài sản còn đang do chủ tài sản chiếm hữu thì mới có thể có hành vi chiếm đoạt, cũng như mới có hành vi làm mất khả năng chiếm hữu của chủ tài sản. Về mặt chủ quan, chiếm đoạt là hành vi được người phạm tội thực hiện có mục đích nên ở đây, lỗi của người có hành vi chiếm đoạt là lỗi cố ý trực tiếp.
Người thực hiện hành vi chiếm đoạt biết tài sản chiếm đoạt là tài sản đang có người quản lý nhưng vẫn mong muốn biến tài sản đó thành tài sản của mình. Những trường hợp lầm tưởng là tài sản của mình hoặc tài sản không có người quản lý đều không phải là trường hợp có hành vi chiếm đoạt. Theo Từ điển tiếng Việt "cưỡng đoạt" được định nghĩa là "chiếm đoạt bằng lối cưỡng bức"; "cưỡng bức" là "dùng vũ lực hoặc thủ đoạn dồn người khác vào thế bắt buộc phải làm, dù không muốn cũng không được" [19, tr. Nội hàm của hành vi cưỡng đoạt tài sản trong khoa học luật hình sự về cơ bản đã được thống nhất dù có các cách thể hiện khác nhau.
"Tội cưỡng đoạt tài 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sản là việc người phạm tội với mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn uy hiếp tinh thần của chủ sở hữu người quản lý tài sản hoặc người khác có liên quan" [18, tr. "Cưỡng đoạt tài sản là tìm mọi cách làm cho người có tài sản hoặc người có trách nhiệm về tài sản sợ hãi phải giao tài sản cho người phạm tội” Như vậy, hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác mà người phạm tội thực hiện là nhằm chiếm đoạt tài sản. Nếu hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhưng không nhằm chiếm đoạt tài sản thì không phải là tội cưỡng đoạt tài sản, mà tùy từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi phạm các tội như: bức tử; cưỡng dâm hoặc cưỡng dâm trẻ em; cưỡng ép hôn nhân,. "Tội cưỡng đoạt tài sản là hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản" [68, tr.
Từ những phân tích trên, trên phương diện khoa học luật hình sự Việt Nam, khái niệm đang nghiên cứu được định nghĩa như sau: Tội cưỡng đoạt tài sản là hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác gây tác động mạnh đến ý chí của chủ sở hữu, người quản lý tài sản hoặc người khác có liên quan nhằm chiếm đoạt tài sản, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý và được ghi nhận trong Bộ luật hình sự.