Chương 1: Khái quát chung về diện và hàng thừa kế Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam về diện và hàng thừa kế Chương 3: Thực trạng giải quyết tranh chấp về xác định diện và hàng thừa kế tại Tòa án nhân dân - Một vài ý kiến hoàn thiện các quy định diện và hàng thừa kế theo Bộ luật Dân sự năm 2005. Chương Í KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐIỆN VÀ HÀNG THỪA KE Ngay từ buổi sơ khai của xã hội loài người, cùng với quan hệ sở hữu, quan hệ thừa kế đã manh nha xuất hiện như một tất yếu khách quan và có mối liên hệ ràng buộc với nhau. Thừa kế di sản là sự chuyển dịch tài sản và quyền sở hữu tài sản của cá nhân người đã chết cho cá nhân, tổ chức có quyền hưởng thừa kế. Vậy thừa kế là một trong những phương thức xác lập quyền sở hữu tài sản.
Phương thức đó được đặc trưng bằng các mối liên hệ giữa người dé lại di san và người hưởng di sản. Trong mối quan hệ này, người dé lại di sản là người có tài sản và là chủ sO hữu của tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất khi họ còn sống. Vì thế khi chết đi, để khối di sản đó được sử dụng đúng như ý chí của người để lại di sản hoặc đảm bảo bổn phận của họ với gia đình của minh thì di san có thể được định đoạt theo hai hình thức: Thừa kế theo di chúc hoặc thừa kế theo pháp luật. Pháp luật thừa kế ở nước ta luôn tôn trọng quyền tự do định đoạt tài san của người lập di chúc và chỉ định người thừa kế.
Nếu thừa kế theo di chúc là sự chuyển dịch tài sản theo ý chí của người để lại di sản khi người đó còn sống chỉ định trong di chúc (có thể là cá nhân, tổ chức) thì thừa kế theo pháp luật chỉ là cá nhân được pháp luật quy định trong số những người có mối quan hệ với người để lại di sản. Vậy những trường hợp nào được pháp luật quy định thuộc diện hưởng thừa kế của người để lại di sản? 1. Khái niệm diện thừa kế theo pháp luật Một trong những vấn đề chính yếu của thừa kế theo pháp luật là việc xác định phạm vi những người có quyền thừa kế theo pháp luật. Tính đến thời điểm hiện nay, pháp luật thừa kế của nước ta chưa từng có quy định thế nào là diện thừa kế.
Tuy nhiên, căn cứ vào những người thừa kế trong các hàng thừa kế, việc xác định diện thừa kế theo pháp luật cũng được làm rộ vì diện thừa kế theo pháp luật chỉ được đặt ra trong trình tự thừa kế theo pháp luật. Về diện thừa kế, qua các chế độ xã hội khác nhau nhưng cùng có một điểm chung ia do quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và quan hệ hôn nhân chi phối. Mặt khác, phạm vi những người có quyền hưởng di sản thừa kế theo pháp luật còn phụ thuộc vào quan diém lập pháp qua các thời kỳ lịch sử của một quốc gia nhất định. Căn cứ vào quan điểm lập pháp và do quan điểm lập pháp chi phối mà phạm vi những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật được quy định ở diện rộng, hẹp khác nhau.
Ở nước ta, trước năm 1945, dưới chế độ thực dân, phong kiến với ý thức bao vệ chế độ tư hữu tài sản nhằm duy trì sự bóc lột của mình, giai cấp thống trị dé cao quyền tư hữu và xem đó là quyền thiêng liêng, luôn được quan tâm nhằm duy trì gia đình nội tộc, do dé quan hệ huyết thống luôn được để cao và quan trọng nhất trong việc xác định những người có quyền thừa kế theo pháp luật. Những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật được xác định trên quan hệ huyết thống và nuôi dưỡng được coi trọng như một đức tin để bảo vệ tài sản của cha mẹ để lại theo quan niệm cha truyền, con nối. | Dưới chế độ dân chủ, nhân dân ở nước ta kể từ năm 1945 đến nay, diện thừa kế ngày càng được mở rộng xét theo quan hệ huyết thống. Pháp luật thừa kế của Nhà nước ta đã xoá bỏ những tàn tích của chế độ phong kiến trong việc xác dịnh diện thừa kế theo pháp luật.
Quan hệ bình đẳng giữa vợ và chồng, giữa các con trong gia đình đã được pháp luật quy định nhằm loại bỏ tư tưởng gia trưởng, tư tưởng trọng nam, khinh nữ, bảo vệ quyền thừa kế của người vợ góa và người con gái đã kết hôn, người vợ góa dù đã kết hôn với người khác vẫn thuộc diện thừa kế theo pháp luật của chồng đã chết. Đây là một quy định có tính cách mạng, nó không những làm thay đổi quan hệ trong xã hội mà còn thay đổi tận gốc tư tưởng “xuất giá tòng phu”, đồng thời bảo vệ trực tiếp quyền thừa kế của người vợ góa, mà trước đó người vợ góa đã kết hôn không thể có được quyển này. Các nguyên tắc cơ bản trong việc xác định diện thừa kế theo pháp luật được dựa trên cơ sở Hiến định. Điều 9 Hiến pháp năm 1946 quy định: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”.
Theo những nguyên tac chung được quy định trong Sắc lệnh số 97-SL ngày 22/5/1950, theo những hướng dẫn trong các Thông tư số 1742-BNC ngày 18/9/1956 của Bộ Tư pháp, Thông tư số 594-NCPL ngày 27/8/1968 của Toà án nhân dân Tối cao ghi nhận quyền bình đẳng của vợ, chồng trong gia đình, quyền bình đẳng giữa nam, nữ trong việc hưởng di san; các con của người để lại di sản không phân biệt giới tính, độ tuổi, có năng lực hành vi hay không có năng lực hành vi dan sự đều thuộc diện thừa kế theo pháp luật và ho được thừa kế tại hàng thừa kế thứ nhất, được hưởng phần di sản ngang nhau. Nếu pháp luật của chế độ phong kiến luôn coi trọng quan hệ huyết thống, quan he nuồi dưỡng và lấy đó làm căn cứ để quy định phạm vi những người thừa kế theo pháp luật, thì pháp luật thừa kế của chế độ dân chủ, nhân dân ở nước ta còn coi trọng quan hệ hôn nhân và theo đó diện thừa kế theo pháp luật còn bao gồm vợ, chồng của người để lại di san. Đặc biệt, kể từ khi Pháp lệnh Thừa kế ngày 30/8/1990 và Bộ luật Dân sự năm 1995 được ban hành, diện thừa kế theo pháp luật đã được mở rộng theo quan hệ huyết thống trực hệ và bàng hệ. Diện thừa kế theo pháp luật còn được mở rộng hơn nữa khi Bộ luật Dân sự năm 2005 được ban hành.
Căn cứ vào quy định các hàng thừa kế tại Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005, diện những người thừa kế theo pháp luật đã được mở rộng hơn so với quy định về diện thừa kế theo pháp luật được quy định tại Bộ luật Dân sự năm 1995. Bề trên có các cụ nội, ngoại; ông bà nội, ngoại; bố, me, chú, bác, cô, di, cậu ruột của người để lại di san; ngang bậc có vợ, chồng: anh, chị, em ruột của người để lại di san; bề dưới có các cháu, các chat và các cháu ruột mà người để lại di sản là chú, bác, cô, di, cậu ruột. Theo quy định tại Điều 635 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì người thừa kế theo pháp luật chỉ là cá nhân và phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai” g trước khi người để lại di sản chết. Về nguyên tắc, di sản phải được di chuyển cho người còn sống, do vậy người sinh ra mà không còn sống thì không thuộc diện thừa kế theo pháp luật.
Tuy nhiên, vấn đề xác định khái niệm sinh ra và còn sống trên thực tiễn phải dược quy dịnh rõ, bởi nó ảnh hưởng rất lớn dến kỷ phần thừa kế của những người khác. Hiện tại, Bộ luật Dân sự hiện hành chưa có quy định cụ thể về vấn đề trên nên hầu hết trên thực tế, khi giải quyết vấn đề này thì áp dụng Nghị Định 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính Phủ về đăng ký hộ tịch. Theo quy định tại Nghị Định 83 này thì đứa trẻ sinh ra và còn sống được 24 giờ rồi chết thì phải khai sinh và khai tử. Do vậy một đứa trẻ được xem như sinh ra và còn sống sau 24 giờ.
Ngoài ra, theo Khoản 3 Điều 14 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy dinh: “Năng lực pháp luật của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm đút khi người đó chết”. Tuy nhiên, người đã thành thai trước khi người để lại di sản chết và sinh ra còn sống thì thuộc diện thừa kế theo pháp luật. Để xác định phạm vi những người có quyền hưởng di sản thì phải căn cứ trên ba mối quan hệ: quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng. Những người này có mối quan hệ gần gũi, thân thuộc nhất đối với người để lại di sản.
Tuy nhiên, không phải tất cả những người này đều được quyền hưởng di sản của người chết để lại. Nếu những người trong phạm vi những người thừa kế di sản có hành vi vi phạm pháp luật theo Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì họ sẽ không có quyền hưởng di sản. Việc xác định diện thừa kế theo pháp luật là việc rất quan trọng bởi đó là cơ sở để xác định những người có quyền hưởng di sản thừa kế, người không có quyền hưởng di sản và đảm bảo quyền, lợi ích của các chủ thể khác trong mối quan hệ thừa kế. Mặt khác, việc xác định đúng những trường hợp thuộc diện thừa kế theo pháp luật sé ngăn chặn được những hành vi lừa dối, trái pháp luật nhằm chiếm đoạt tài sản của những người khác.
Pháp luật bao giờ cũng là sự phần ánh của một chế độ xã hội nên chế dinh thừa kế cũng mang tính chất lịch sử qua từng thời kỳ nhất định. Xuất phát từ đặc điểm này và như phần trên đã nhận định: Cách xác định diện thừa kế của nước ta qua từng thời kỳ khác nhau nhưng đều có đặc điểm chung là do cuan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng và quan hệ gia đình chi phối. Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội thì quan điểm lập pháp cũng không giống nhau nên những quy định về việc xác định diện thừa kế theo pháp luật cũng ở mức độ rộng, hẹp khác nhau.