Tổng quan nghiên cứu

Khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam khẳng định vai trò động lực tăng trưởng khi đóng góp từ 45% đến 47% GDP thực tế vào năm 2007, vượt trội so với mức 37% đến 39% của khu vực kinh tế nhà nước dù khối lượng vốn đầu tư công chiếm tỷ trọng áp đảo. Để thể chế hóa quyền tự do kinh doanh và đa dạng hóa mô hình đầu tư, Luật Doanh nghiệp 1999 lần đầu tiên ghi nhận mô hình công ty hợp danh với 4 điều khoản khung, sau đó được mở rộng lên 10 điều khoản trong Luật Doanh nghiệp 2005.

Tuy nhiên, bức tranh thực tiễn ghi nhận một nghịch lý lớn: tính đến đầu năm 2007, toàn quốc chỉ có 31 công ty hợp danh hoạt động trên tổng số 131.318 doanh nghiệp đăng ký, chiếm tỷ lệ khiêm tốn xấp xỉ 0,024%. Rào cản pháp lý thiếu đồng bộ, quy định cứng nhắc về trách nhiệm vô hạn và sự thiếu linh hoạt trong cấu trúc quản trị đã kìm hãm sự phát triển của mô hình này.

Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề bất cập giữa bản chất đối nhân truyền thống và các quy định pháp luật thực định tại Việt Nam giai đoạn 1999 - 2012. Mục tiêu trọng tâm là làm sáng tỏ bản chất pháp lý, so sánh quy chế công ty hợp danh của Việt Nam với các hệ thống pháp luật tiêu biểu như Pháp, Hoa Kỳ, Thái Lan; từ đó đánh giá thực trạng vận hành và đề xuất giải pháp lập pháp. Đóng góp của luận văn cung cấp luận cứ khoa học nhằm nâng cao tính khả thi của khung pháp lý, hướng tới mục tiêu gia tăng tỷ lệ lựa chọn mô hình công ty hợp danh trong các ngành dịch vụ chuyên nghiệp lên trên 2% đến 3% tổng số doanh nghiệp thành lập mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên 2 nền tảng lý thuyết cốt lõi trong luật thương mại: Lý thuyết công ty đối nhân (Intuitive personae) và Lý thuyết khế ước công ty (Contractarian theory). Lý thuyết đối nhân nhấn mạnh nguyên tắc Delectus Personae (sự lựa chọn tự nguyện dựa trên nhân thân) xuất phát từ luật La Mã cổ đại thế kỷ VI, xác lập rằng sự liên kết giữa các thành viên dựa trên uy tín cá nhân, đạo đức nghề nghiệp và tài sản cá nhân hơn là quy mô vốn góp.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm:

  • Công ty hợp danh: Doanh nghiệp có ít nhất 2 thành viên hợp danh cùng kinh doanh dưới một tên chung, mang bản chất đối nhân đặc thù.
  • Trách nhiệm vô hạn và liên đới: Nghĩa vụ tài sản của thành viên hợp danh không bị giới hạn trong phạm vi vốn cam kết mà mở rộng ra toàn bộ khối tài sản dân sự cá nhân đối với mọi khoản nợ của công ty.
  • Thành viên góp vốn: Chủ thể tham gia đóng góp tài sản, chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn đã góp và không trực tiếp điều hành kinh doanh.
  • Vốn phi vật chất: Uy tín thương hiệu cá nhân, kinh nghiệm hành nghề, chứng chỉ chuyên môn được định giá để tạo lập tài sản chung của doanh nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn kết hợp giữa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong nước (Hiến pháp 1992, Luật Doanh nghiệp 1999, 2005, 2009; Bộ luật Dân sự 2005; các Nghị định chuyên ngành như Nghị định số 105/2004/NĐ-CP, Nghị định số 129/2004/NĐ-CP) và nguồn luật nước ngoài (Bộ luật Thương mại Pháp 1807, Luật Hợp danh Thống nhất Hoa Kỳ UPA 1914/1992, Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan).

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ (census sampling) trên tập dữ liệu định lượng gồm 31 công ty hợp danh hoạt động tại Việt Nam giai đoạn 2000 - 2007 và chọn mẫu mục tiêu (purposive sampling) đối với hơn 50 văn bản pháp luật cùng các tiền lệ pháp lý liên quan. Luận văn kết hợp phương pháp so sánh luật học (comparative law) và phương pháp phân tích quy phạm pháp luật để bóc tách xung đột thể chế. Việc lựa chọn phương pháp phân tích so sánh đối chiếu giữa 3 hệ thống pháp luật điển hình (Civil Law, Common Law và pháp luật khu vực ASEAN) giúp nhận diện rõ các khiếm khuyết trong kỹ thuật lập pháp của Việt Nam khi nội luật hóa mô hình công ty đối nhân.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực trạng pháp luật và dữ liệu thực nghiệm đã xác định 4 phát hiện căn bản:

  1. Tỷ lệ thâm nhập thị trường của công ty hợp danh ở mức thấp kỷ lục: Với chỉ 31 doanh nghiệp trên tổng số 131.318 doanh nghiệp (tỷ lệ 0,024% năm 2007), mô hình này gần như bị các nhà đầu tư bỏ qua so với mô hình công ty TNHH (chiếm trên 55%) và công ty cổ phần (chiếm trên 35%).
  2. Xung đột nội tại về tư cách pháp nhân: Khoản 2 Điều 130 Luật Doanh nghiệp 2005 công nhận công ty hợp danh có tư cách pháp nhân, nhưng lại không đảm bảo nguyên tắc cốt lõi của pháp nhân là tính độc lập tuyệt đối về tài sản (khoản 1 Điều 84 Bộ luật Dân sự 2005), do tài sản công ty không tách bạch hoàn toàn với tài sản riêng của thành viên hợp danh.
  3. Hạn chế chủ thể thành lập: Pháp luật Việt Nam quy định 100% thành viên hợp danh phải là cá nhân. Trong khi đó, tại Pháp và Hoa Kỳ, pháp nhân hoàn toàn được quyền trở thành thành viên hợp danh, giúp mở rộng liên kết doanh nghiệp lên từ 40% đến 60% trong các liên danh đầu tư dịch vụ.
  4. Rào cản chứng chỉ hành nghề khắt khe: Quy định bắt buộc tất cả thành viên hợp danh phải có chứng chỉ hành nghề tại ít nhất 12 ngành nghề chuyên môn (như kiểm toán cần tối thiểu 3 chứng chỉ, kế toán cần 2 chứng chỉ, dịch vụ dược, thiết kế xây dựng) đã làm giảm 70% khả năng thu hút vốn từ các nhà đầu tư tài chính thuần túy.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn đến sự suy giảm động lực thành lập công ty hợp danh bắt nguồn từ việc Luật Doanh nghiệp 2005 đồng nhất 2 loại hình: công ty hợp danh phổ thông (General Partnership) và công ty hợp danh hữu hạn (Limited Partnership) vào cùng một khái niệm chung. Điều này khiến quy định bắt buộc phải có ít nhất 2 thành viên hợp danh áp dụng luôn cho cả công ty hợp danh có thành viên góp vốn, triệt tiêu tính linh hoạt vốn có của mô hình hợp vốn đơn giản.

+------------------------------------+------------------------------------+
| Tiêu chí pháp lý so sánh           | Pháp luật Việt Nam (Luật DN 2005)   | Pháp luật Hoa Kỳ (UPA/ULPA)        |
+------------------------------------+------------------------------------+
| 1. Tư cách pháp nhân               | Có tư cách pháp nhân               | Không có tư cách pháp nhân         |
| 2. Tư cách thành viên hợp danh     | Chỉ cá nhân (100% thể nhân)        | Cá nhân và Pháp nhân               |
| 3. Phân tách mô hình               | Gộp chung trong Điều 130           | Tách biệt: General & Limited       |
| 4. Trách nhiệm vô hạn              | Liên đới toàn bộ tài sản           | Liên đới toàn bộ tài sản           |
+------------------------------------+------------------------------------+

Dữ liệu thực trạng có thể được minh họa trực quan thông qua bảng so sánh đối chiếu giữa 3 hệ thống pháp luật (Việt Nam, Pháp, Hoa Kỳ) về 4 tiêu chí cốt lõi, kết hợp biểu đồ cột thể hiện tương quan chênh lệch giữa tỷ lệ 0,024% của công ty hợp danh so với các loại hình công ty khác. So sánh với Thái Lan, Điều 1077 Bộ luật Dân sự và Thương mại nước này chỉ yêu cầu tối thiểu 1 thành viên hợp danh kết hợp với 1 hoặc nhiều thành viên góp vốn, tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án hợp tác cần vốn lớn nhưng duy trì điều hành tập trung.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, 4 nhóm giải pháp cụ thể được đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về công ty hợp danh:

  • Tái cấu trúc phân loại mô hình công ty hợp danh: Tách bạch rõ ràng 2 mô hình gồm "Công ty hợp danh phổ thông" và "Công ty hợp danh hữu hạn" trong Luật Doanh nghiệp sửa đổi. Quy định mô hình hợp danh hữu hạn chỉ cần tối thiểu 1 thành viên hợp danh và 1 thành viên góp vốn, mục tiêu nâng số lượng thành lập mới lên 15% đến 20%/năm trong giai đoạn 2014 - 2020. Chủ thể thực hiện: Ban soạn thảo Luật Doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
  • Mở rộng tư cách thành viên hợp danh cho pháp nhân: Bổ sung quyền gia nhập của tổ chức, pháp nhân vào vị trí thành viên hợp danh tương tự kinh nghiệm pháp luật Pháp, giúp tăng từ 30% đến 40% quy mô vốn huy động cho các công ty kiểm toán, tư vấn luật và thiết kế xây dựng. Chủ thể thực hiện: Quốc hội, Bộ Tư pháp.
  • Hoàn thiện chế tài bảo vệ bên thứ ba và quản trị nội bộ: Bổ sung điều khoản xác lập trách nhiệm vô hạn đối với thành viên góp vốn nếu họ can thiệp vào hoạt động quản lý điều hành hoặc cho phép đưa tên cá nhân vào tên thương mại của công ty (theo kinh nghiệm Điều 1088 luật Thái Lan). Thời hạn ban hành văn bản hướng dẫn: Trước quý IV năm 2014. Chủ thể thực hiện: Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao.
  • Điều chỉnh quy định về chứng chỉ hành nghề: Sửa đổi quy định theo hướng chỉ yêu cầu người trực tiếp phụ trách chuyên môn hoặc người đại diện theo pháp luật có chứng chỉ hành nghề, không áp đặt lên 100% thành viên hợp danh, giúp cắt giảm 50% thời gian chuẩn bị hồ sơ đăng ký doanh nghiệp. Chủ thể thực hiện: Bộ Tài chính, Bộ Y tế, Bộ Xây dựng trong lộ trình 2013 - 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan lập pháp và cơ quan hoạch định chính sách (Quốc hội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tư pháp): Sử dụng nguồn tài liệu so sánh luật học chuyên sâu để phục vụ sửa đổi, hoàn thiện Luật Doanh nghiệp và các nghị định hướng dẫn thi hành.
  • Luật sư và chuyên viên tư vấn pháp lý doanh nghiệp: Vận dụng các luận giải về trách nhiệm liên đới, hạn chế quyền theo Điều 133 và cơ chế rút vốn để tư vấn soạn thảo điều lệ công ty, hợp đồng hợp danh an toàn cho khách hàng.
  • Doanh nhân và chuyên gia hành nghề tự do (Bác sĩ, Kiến trúc sư, Kiểm toán viên, Thẩm định viên): Đánh giá chính xác ưu điểm và rủi ro pháp lý giữa mô hình công ty hợp danh với công ty TNHH để đưa ra quyết định thành lập doanh nghiệp tối ưu.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật Kinh tế: Khai thác làm tài liệu tham khảo học thuật giá trị cao về luật doanh nghiệp, phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu đề tài và khóa luận tốt nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

Công ty hợp danh tại Việt Nam có tư cách pháp nhân hay không?

Theo khoản 2 Điều 130 Luật Doanh nghiệp 2005, công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, tính chất pháp nhân này mang tính tương đối vì tài sản của công ty chưa hoàn toàn tách bạch độc lập với tài sản cá nhân của các thành viên hợp danh.

Pháp nhân có được trở thành thành viên hợp danh tại Việt Nam không?

Theo điểm b khoản 1 Điều 130 Luật Doanh nghiệp 2005, thành viên hợp danh bắt buộc phải là cá nhân. Pháp nhân chỉ có thể tham gia vào công ty hợp danh với tư cách là thành viên góp vốn và chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi phần vốn đã cam kết góp.

Thành viên góp vốn có quyền tham gia quản lý điều hành công ty hợp danh không?

Thành viên góp vốn không có quyền tham gia quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty và không được nhân danh công ty thực hiện giao dịch. Nếu thành viên góp vốn can thiệp trái phép vào quản trị, họ có thể bị khai trừ hoặc phải chịu rủi ro pháp lý theo quy định nội bộ của Điều lệ công ty.

Công ty hợp danh có được phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu không?

Theo khoản 3 Điều 130 Luật Doanh nghiệp 2005, công ty hợp danh hoàn toàn không được quyền phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. Để tăng vốn, doanh nghiệp chỉ có thể tiếp nhận thêm thành viên mới, tăng phần vốn góp của thành viên hiện hữu hoặc huy động vốn vay thương mại.

Sau khi rút vốn, thành viên hợp danh có còn phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ cũ không?

Thành viên hợp danh sau khi rút vốn vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trước thời điểm đăng ký chấm dứt tư cách thành viên tại cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn luật định tối thiểu 2 năm.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về công ty đối nhân và lịch sử lập pháp công ty hợp danh từ Luật Doanh nghiệp 1999 đến Luật Doanh nghiệp 2005.
  • Nghiên cứu chỉ rõ thực trạng phát triển khiêm tốn của mô hình khi chỉ chiếm 0,024% tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam năm 2007 do những nút thắt thể chế.
  • Luận văn bóc tách sâu sắc sự bất cập trong quy định gộp chung 2 mô hình hợp danh và việc áp đặt tư cách pháp nhân chưa triệt để.
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp hoàn thiện quy chế thành viên, huy động vốn, chứng chỉ hành nghề và tách bạch mô hình hợp danh hữu hạn trong giai đoạn 2013 - 2020.
  • Đây là tài liệu tham khảo học thuật và thực tiễn thiết thực dành cho các cơ quan lập pháp, luật sư, chuyên gia pháp lý và nhà đầu tư; hãy đón đọc toàn văn công trình nghiên cứu để áp dụng hiệu quả các giải pháp quản trị rủi ro pháp lý doanh nghiệp.