đặt vấn đề của Lê Văn Phƣớc chƣa thật làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa việc tế Giao và chủ trƣơng của các vua triều Nguyễn, đặc biệt là các vua đầu triều, trong việc củng cố và khẳng định quyền lực cũng nhƣ tính chính thống của mình thông qua việc xây dựng đàn miếu và thực hiện các nghi lễ theo tƣ tƣởng Thiên mệnh một cách có chủ ý. Tác giả Lê Văn Phƣớc mới chỉ tập 13 trung phân tích mối quan hệ giữa nguồn gốc của lễ tế Giao (liên quan đến Nho giáo và tƣ tƣởng Thiên mệnh) và sự suy giảm vai trò của các vua cuối triều Nguyễn thời thuộc Pháp chứ chƣa có sự đánh giá tổng quan về mọi khía cạnh để cho thấy tính mục đích trong quá trình xây dựng và củng cố quyền lực một cách chủ động của các vua triều Nguyễn thông qua việc hoàn thiện các đàn miếu và nghi lễ đại tự. Mặt khác, tác giả Lê Văn Phƣớc đặc biệt ghi nhận sự ảnh hƣởng của tƣ tƣởng Nho giáo Trung Quốc dƣới thời Nguyễn nhìn từ hoạt động tế Giao nhƣng không nêu đƣợc sự tiếp thu tích cực, có chọn lọc của các vua Nguyễn. Điều này đã đƣợc tác giả luận án chú trọng phân tích và chứng minh trong nội dung luận án, từ đó tìm ra những đặc trƣng của triều đại này trong sự hình thành các đàn miếu đại tự ở Huế và thực hành nghi lễ.
Ngoài ra còn có một số bài viết trên các tập san chuyên đề nhƣ Sử Địa (Sài Gòn), Đại học (Huế) và một số công trình của các tác giả nhƣ “Bàn về tế Giao” của tác giả Chƣơng Dân [26], “Mấy lời bàn về sự thờ Trời tế Giao ở nƣớc Nam ta” của tác giả Nguyễn Cƣ [25], “Trai Cung” của tác giả Từ Lâm [63], “Lƣợc khảo về tế Nam Giao” của tác giả Tiên Đàm [32], “Lễ tế Giao” của Bửu Kế [57].v…Có thể thấy hầu hết các bài viết đều chỉ tập trung nói về đàn Nam Giao và lễ tế Giao chứ chƣa có công trình nào nghiên cứu riêng về các tông miếu triều Nguyễn hoặc đàn Xã Tắc. Mặt khác, những bài viết trên đây cũng chỉ cung cấp thông tin sơ lƣợc về đàn Nam Giao và lễ tế Giao, chƣa có những phân tích, đánh giá về vai trò và ý nghĩa của chúng đối với triều Nguyễn nhìn từ góc độ chính trị, xã hội và văn hóa. Tuy nhiên, các bài viết này cũng có một vài thông tin đáng chú ý ghi đƣợc vào thời điểm 1942 về Trai cung và những chứng tích còn sót lại nhƣ: dấu tích kiến trúc, thẻ bằng đá treo trên cây thông.2 Các công trình nghiên cứu từ năm 1975 đến nay Sau năm 1975- thời kỳ Việt Nam vừa thống nhất đất nƣớc, tình hình chính trị - xã hội còn chƣa ổn định, liên tục phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức. Đặc biệt là từ 1975-1995, Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn: khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế, bƣớc đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội (1975-1986), bắt đầu thực hiện đổi mới (1986-1990) và tiếp tục đổi mới, đƣa đất nƣớc ra khỏi tình trạng 14 khủng hoảng kinh tế - xã hội (1991-1995).
Trong bối cảnh ấy, việc nhìn nhận hoặc đánh giá về triều Nguyễn nói chung và các vấn đề văn hóa, xã hội dƣới triều Nguyễn cũng có những ảnh hƣởng nhất định. Căn cứ vào sự thay đổi về cơ bản trong cách nhìn nhận, đánh giá về triều Nguyễn sau thời kỳ đổi mới (1986), có thể tạm chia thời kỳ sau năm 1975 đến nay ra làm 2 giai đoạn. Giai đoạn từ năm 1975-1986 Ở giai đoạn này, mặc dù việc tế tự không bị chính thức cấm đoán, nhƣng với quan điểm coi triều Nguyễn là “thối nát”, “phản động” [76; tr. 31, 308, 311] và chủ trƣơng bài trừ mê tín dị đoan, nhiều hình thức sinh hoạt tín ngƣỡng bị đình trệ trong khoảng thời gian từ 1975-1985 mà "đỉnh cao là việc rỡ bỏ các am miếu thờ tự trong dân gian vùng Huế diễn ra vào năm 1985" [136; tr.Trƣớc tình hình đó, việc nghiên cứu về triều Nguyễn nói chung và về các đàn miếu hay nghi thức tế đại tự ở Huế giai đoạn này gần nhƣ không có gì tiến triển.
Giai đoạn từ năm 1986 đến nay Đây là giai đoạn có nhiều chuyển biến lớn về mặt chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực văn hóa. Điều này mở ra nhiều hƣớng phát triển cả về hoạt động thực tiễn lẫn hoạt động nghiên cứu, học thuật. Tháng 11 năm 1987, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết về đổi mới văn hóa, tuy nhiên, phải đến năm 1989 khi Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) ban hành Quy chế mở hội truyền thống, thiết lập một cơ sở pháp lý cho việc mở lại các lễ hội truyền thống, các lễ tế (nghi thức chủ yếu trong lễ hội) mới thực sự đƣợc phục hồi [15; tr.10-15] Năm 1990, việc làm vàng mã vốn bị cấm đoán đã đƣợc phục hồi trên cả nƣớc [24; tr. Năm 1992, Việt Nam tham gia chƣơng trình Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa do Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc phát động từ năm 1986.
Điều này phù hợp với chiến lƣợc phát triển văn hóa ở Việt Nam trong quá trình đổi mới, đem lại cơ hội cho việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của dân tộc, khôi phục lại các nếp sống, phong tục lành mạnh truyền thống [122; tr. Đồng thời, 15 nhiều chƣơng trình nghiên cứu, hội nghị, hội thảo đã đƣợc tổ chức nhằm đánh giá lại triều Nguyễn. Bắt đầu từ giai đoạn này, việc nghiên cứu về triều Nguyễn có phần đi vào chiều sâu nhƣng vẫn chƣa có một công trình đánh giá tổng thể về kiến trúc và nghi lễ tế đại tự của triều Nguyễn ở Huế. Có thể điểm lại một số kết quả nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đề tài chủ yếu thuộc những nhóm tài liệu sau đây: * Nhóm công trình nghiên cứu về triều Nguyễn và di sản kiến trúc đàn miếu ở Huế Năm 1994, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trƣờng đã chọn chủ đề Khảo cứu kinh tế và tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn, những vấn đề đặt ra trong thực tiễn đổi mới đất nước hiện nay làm đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nƣớc (mã số KX-ĐL: 94-16), do Đỗ Bang làm chủ nhiệm đề tài đã đánh dấu sự vào cuộc chính thức về mặt Nhà nƣớc trong việc nghiên cứu khách quan và toàn diện hơn về triều Nguyễn [12].
Cùng chung mối quan tâm về triều Nguyễn giai đoạn này còn có nhiều nhà nghiên cứu với những công trình quy mô khác nhau, trong đó có thể kể đến: Tín ngưỡng dân gian Huế của Trần Đại Vinh năm 1995 [134], Kinh thành Huế của Phan Thuận An năm 1999 [1], Phú Xuân - Huế từ đô thị cổ đến hiện đại (1999), bao gồm nhiều bài viết của các tác giả do UBND thành phố Huế tập hợp [119], Những vấn đề lịch sử về triều đại cuối cùng ở Việt Nam của nhiều tác giả do Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và Tạp chí Huế - Xưa & Nay xuất bản năm 2002 [73], Tuyển tập những bài nghiên cứu về triều Nguyễn của nhiều tác giả do Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trƣờng Thừa Thiên Huế phối hợp với Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế xuất bản năm 2002 [92]. Tuy nhiên, hầu hết các tài liệu này đều ít đề cập đến những đối tƣợng nghiên cứu của đề tài. Đáng lƣu ý có tác phẩm Dấu ấn Nguyễn trong văn hóa Phú Xuân của Phan Thanh Hải, xuất bản năm 2002 [43]. Đây là tập hợp nhiều bài khảo cứu về triều Nguyễn và văn hóa Huế, trong đó có những bài viết liên quan trực tiếp đến đề tài với nhiều thông tin có giá trị.Với kết quả khảo sát thực tế tại Trung Quốc, tác giả là ngƣời đầu tiên đƣa ra những nhận xét so sánh giữa đàn tế Trời thời Minh-Thanh ở Bắc Kinh và đàn tế của triều Nguyễn ở Huế.
Theo tác giả, Thiên Đàn của Bắc Kinh nằm bên 16 trong kinh đô còn đàn Nam Giao của Huế nằm ở bên ngoài Kinh thành. Ở Bắc Kinh, Thái Miếu và đàn Xã Tắc nằm đối xứng với nhau ở bên trong Hoàng thành theo nguyên tắc “Tả tổ, hữu xã”. Còn ở Huế, tại vị trí tƣơng tự hoàn toàn là nơi thờ tổ, đàn Xã Tắc nằm ở bên ngoài Hoàng thành [43; tr. Tác giả mô tả Thiên Đàn Bắc Kinh - một trong 4 đàn tế (Thiên Đàn, Địa Đàn, Nhật Đàn, Nguyệt Đàn) thời Minh - Thanh ở Trung Quốc- đƣợc xây dựng ở phía đông nam, bên trong Kinh thành Bắc Kinh.
Đàn này có hai phần Nội Đàn và Ngoại Đàn với 3 kiến trúc chính: điện Kỳ Niên (nơi các hoàng đế cúng thần ngũ cốc), điện Hoàng Khung (nơi đặt bài vị của Ngọc Hoàng thƣợng đế) và đàn Viên Khâu (nơi tổ chức lễ tế Trời của hoàng đế). Khu vực Trai cung của Thiên Đàn là một tổng thể kiến trúc khép kín gồm hơn 60 gian, gian chính giữa đặt bức tƣợng vua Càn Long. Có lẽ đây là công trình khảo cứu đầu tiên có sự so sánh giữa đàn tế Trời triều Nguyễn ở Huế và đàn tế Trời triều Minh-Thanh ở Bắc Kinh. Những thông tin mà tác giả cung cấp cho thấy đàn tế Trời của triều Minh-Thanh quy mô hơn đàn tế của triều Nguyễn ở Việt Nam rất nhiều.
Dựa trên mô tả về đàn Nam Giao triều Nguyễn ở Huế với 3 tầng (một tầng tƣợng trƣng cho Trời, một tầng tƣợng trƣng cho Đất, một tầng tƣợng trƣng cho Con ngƣời), tác giả đã có lý khi cho rằng lối kiến trúc này “thể hiện mối quan hệ vừa có tính cách biệt tương đối, vừa thống nhất trong mối liên kết có tính tuyệt đối” [43; tr. Theo nhận xét của tác giả, ở Trung Quốc, tế Giao đƣợc tổ chức riêng rẽ, trong đó yếu tố Trời, Đất và các vị thần linh luôn đóng vai trò quan trọng và bao trùm lên tất cả: “Trên thực tế ở Trung Quốc, giai cấp thống trị luôn luôn tìm cách đẩy xa khoảng cách giữa thần linh và con người” [43; tr. Liên quan đến việc quy hoạch kiến trúc và mối tƣơng quan giữa vị trí các công trình với những yếu tố tự nhiên mang ý nghĩa triết lý phong thủy, tác phẩm Kinh thành Huế của Phan Thuận An là một tác phẩm cung cấp những thông tin đầy đủ nhất về quá trình hình thành Kinh thành Huế. Tác giả nhận xét: “.Với cách đưa kiến trúc Kinh thành vào giữa các thực thể địa lý ở ngoại cảnh thiên nhiên.