CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ KHU PHỐ CỔ HÀ NỘI VÀ THỰC TRẠNG XÂY CHEN TRONG KHU PHỐ CỔ HÀ NỘI 1. Phố cổ Hà Nội 1. Lịch sử hình thành và phát triển Năm 1010, Lý Thái Tổ quyết định dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La, miền đất “trung tâm trời đất” có thế “rồng cuộn, hổ ngồi” (Chiếu dời đô) và đổi tên là thành Thăng Long. Năm 1010 đã đi vào lịch sử với mốc son chói lọi với sự kiện trọng đại: Thăng Long trở thành kinh đô của nước Đại Việt, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá lớn nhất của cả nước.
Kinh đô Thăng Long được xây dựng thành hai khu riêng biệt: Khu thành và khu thị. Khu thành gồm có Đại nội, Cấm thành, Hoàng thành. Đây là nơi ở, làm việc của vua chúa hoàng tộc và được canh phòng cẩn mật. Khu thị bao gồm xóm làng nông nghiệp, phố phường công thương nghiệp và hệ thống bến chợ.
Vòng thành thứ ba bao bọc khu thành và khu thị là thành Đại La. Bên ngoài Hoàng thành, khu dân cư phố phường phát triển và được quy hoạch lại gồm hai huyện Quảng Đức, Vĩnh Xương, gồm 36 phường có cả nông dân, thợ thủ công, thương nhân, với những phố chợ buôn bán, các phường thủ công: Nghi Tàm dệt vải, Yên Thái làm giấy, Hàng Đào nhuộm điều. Năm 1802, Gia Long lên ngôi, đóng đô ở Phú Xuân, Thăng Long vẫn là thủ phủ của Bắc Thành. Năm 1831, Minh Mạng lập tỉnh Hà Nội với tỉnh lỵ là phủ Hoài Đức (thành Thăng Long cũ), do đó Thăng Long được gọi là Hà Nội.
11 Luận văn thạc sĩ kiến trúc Bộ mặt Hà Nội đầu thế kỉ XX đã có nhiều thay đổi. Các cơ sở hạ tầng được hoàn thành, trước hết là mạng lưới giao thông đường bộ, đường sắt, cầu cống, trong đó có cầu Long Biên qua sông Hồng. Bộ mặt kinh tế của Hà nội cũng có nhiều thay đổi. Hầu hết các xí nghiệp công ty lớn của tư sản Pháp đều đặt trụ sở tại Hà Nội.
Tầng lớp tư sản người Việt được hình thành ở Hà Nội, tầng lớp tiểu tư sản ngày một thêm đông.3) Khu phố cổ Hà Nội, thường được gọi là ”Hà Nội 36 phố phường”, hình thành từ đầu thế kỉ XV, giới hạn bởi phía Bắc là phố Hàng Đậu, phía Nam là các phố Hàng Bông, Hàng Gai, Cầu Gỗ và Hàng Thùng, phía Đông là phố Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải và phía Tây là phố Phùng Hưng. Đây là một quần thể kiến trúc độc đáo với những mái ngói rêu phong cổ kính, những ngôi nhà nhỏ hình ống xen kẽ, hòa quyện vào nhau tạo nên không gian kiến trúc cổ đa dạng, sinh động. Đặc điểm chung của các phổ cổ Hà Nội là nhiều tên phố bắt đầu bằng từ “Hàng”, tiếp đó là một từ chỉ nghề nghiệp nào đó như Hàng Đào, Hàng Mã, Hàng Thiếc. Khác với các phố cổ khác trên thế giới, phố cổ Hà Nội hiện nay là nơi diễn ra đồng thời nhiều hoạt động của đời sống xã hội.
Nơi đây còn có tên gọi khác là “Kẻ Chợ”. Là một nơi có thị, có bến có 36 phường buôn bán và thợ thủ công, có chợ ô ven đô có các làng nghề chuyên canh và chế biến nông sản. Hiện nay, một số phố vẫn còn giữ được sản phẩm truyền thống như phố Hàng Mã, Hàng Tre, Hàng Thiếc, phố Thuốc Bắc,. Khu Phố cổ Hà nội có sắc thái đặc trưng của một khu dân cư sản xuất chủ yếu là nghề thủ công truyền thống.
Nơi đây diễn ra đồng thời nhiều hoạt động trong đời sống hằng ngày của cư dân đô thị: sinh sống, bán hàng, sản xuất, lễ hội, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, tạo nên một sức sống mãnh liệt để khu Phố cổ tồn tại vĩnh viễn và phát triển không ngừng. [2] 12 Luận văn thạc sĩ kiến trúc Hình 1.1: Bản đồ Hà Nội đầu thế kỷ 19 (BQL Phố Cổ Hà Nội) 13 Luận văn thạc sĩ kiến trúc Hình 1.2: Bản đồ Hà Nội năm 1873 (BQL Phố Cổ Hà Nội) 14 Luận văn thạc sĩ kiến trúc Hình 1.3: Bản đồ Hà Nội năm 1986 (BQL Phố Cổ Hà Nội) 15 Luận văn thạc sĩ kiến trúc 1. Ranh giới khu phố cổ Hà Nội [3] Quyết định số 70BXD/KT-QH ngày 30/03/1995 của Bộ trưởng BXD phê duyệt Quy hoạch bảo vệ, tôn tạo và phát triển khu Phố Cổ Hà Nội - hiện là cơ sở pháp lý chính cho các hoạt động định hướng phát triển, quản lý quy hoạch, xây dựng, bảo tồn và tôn tạo khu vực. Ranh giới khu Phố cổ Hà nội có phạm vi được xác định như sau: Phía Bắc: Phố Hàng Đậu Phía Tây: Phố Phùng Hưng Phía Nam: Các phố Hàng Bông, Hàng Gai, Cầu Gỗ và Hàng Thùng.
Phía Đông: Các phố Trần Quang Khải và Trần Nhật Duật. Toàn bộ khu vực trên thuộc địa bàn quận Hoàn Kiếm, có 76 tuyến phố thuộc 10 phường, tổng diện tích quy hoạch khu phố cổ khoảng 100ha. Mười phường có phạm vi thuộc khu Phố cổ Hà nội là: + Phường Hàng Đào, + Phường Hàng Bạc, + Phường Hàng Buồm, + Phường Hàng Bồ, + Phường Hàng Bông, + Phường Hàng Gai, + Phường Hàng Mã, + Phường Đồng Xuân, + Phường Cửa Đông , + Phường Lý Thái Tổ. Phạm vị nghiên cứu quy hoạch được phân chia hai khu vực bảo vệ, tôn tạo đặc trưng như sau: + Khu bảo vệ, tôn tạo cấp I: Được giới hạn bởi các phố Hàng Chiếu, Hàng Đường, Hàng Ngang, Hàng Bạc, Hàng Mắm và Trần Nhật Duật (diện tích khoảng 19 ha).
+ Khu bảo vệ , tôn tạo cấp II: Bao gồm phần còn lại trong ranh giới khu Phố Cổ. 16 Luận văn thạc sĩ kiến trúc Hình 1.4: Ranh giới khu phố cổ Hà Nội (Internet) 17 Luận văn thạc sĩ kiến trúc 1. Các khái niệm xây chen Xây chen có thể hiểu là việc chèn một công trình mới hay một phần công trình mới và một khu vực có mật độ xây dựng cao hay có thể gọi là vùng xây chen thường là trong các khu đô thị, nơi các nhà và công trình được xây dựng liền kề với các nhà và công trình hiện hữu, giữa chúng không có (hoặc rất ít) các khoảng không thông thoáng do quỹ đất được tận dụng tối đa cho công năng của công trình. Vùng xây chen được xác định bởi quy mô xây dựng của công trình xây chen.
Với những công trình xây chen có quy mô lớn như các cao ốc, trung tâm thương mại, tổ hợp công trình đa chức năng hay các chung cư, văn phòng thì vùng xây chen sẽ là một khu vực xung quanh với phạm vi ảnh hưởng, tác động tương đối lớn như các ô phố liền kề. Còn đối với những công trình có quy mô nhỏ như nhà liên kế, các biệt thự liên kế, công trình nhà ở thì phạm vi vùng xây chen chỉ là những công trình xung quanh đối tượng xây chen. Một trong những đặc điểm khác biệt của xây dựng công trình xây chen là ảnh hưởng bất lợi của chúng đối với nhà, công trình và môi trường lân cận liền kề trong quá trình thi công và khai thác sử dụng. Do vậy, chất lượng đối với các công trình xây chen không chỉ phải được đảm bảo cho bản thân công trình đang xây dựng mà còn phải quan tâm đặc biệt đến công tác dự báo xác định mức độ tác động của hoạt động xây dựng, khai thác của công trình tới độ ổn định của các công trình, môi trường liền kề; dự báo sự suy giảm về chất lượng của chúng nhằm đề xuất, triển khai các biện pháp hữu hiệu bảo vệ và giảm thiểu hư hỏng cho các nhà, công trình hiện hữu, liền kề.
Về mặt kiến trúc, những công trình xây chen sẽ tác động liên quan tới kiến trúc tổng thể, cảnh quan khu vực. Phạm vi đề tài này nghiên cứu về khu vực Phố cổ Hà Nội nên khái niệm xây chen sử dụng sẽ là những công trình xây mới có quy mô nhỏ như nhà ở, khách sạn mini, showroom hoặc các công trình cải tạo, xây mới một phần và những yếu tố tác động sẽ là những yếu tố 18 Luận văn thạc sĩ kiến trúc trong lĩnh vực quy hoạch, kiến trúc như kiến trúc công trình ảnh hưởng tới tổng thể mặt đứng tuyến phố, hình thái công trình ảnh hưởng tới hình thái chung của khu phố cổ. 1 – Công trình xây chen quy mô lớn 2 – Khu vực xây dựng mật độ cao xung quanh Hình 1.5: Mô hình công trình xây chen lớn và vùng xây chen xung quanh 1 – Công trình xây chen quy mô lớn 2 – Khu vực xây dựng mật độ cao xung quanh → - Hướng tác động, ảnh hưởng của công trình xây chen sang khu vực xung quanh Hình 1.6: Mặt bằng công trình xây chen lớn và vùng xây chen xung quanh 19 Luận văn thạc sĩ kiến trúc Hình 1.7: Công trình xây chen quy mô nhỏ Hình 1.8:Mặt bằng công trình xây chen quy mô nhỏ và công trình xung quanh chịu tác động. 20 Luận văn thạc sĩ kiến trúc 1.
Sự tất yếu và những vấn đề xây chen trong phố cổ Hà Nội. Sự tất yếu của hiện tượng xây chen Các khu nhà cổ, nhà cũ còn lại trong khu phố cổ đều đã ở trong tình trạng rất thiếu điều kiện về vệ sinh, môi trường và không đủ các tiện nghi sống cần thiết đáp ứng nhu cầu ở của người dân hiện nay. Môi trường sống, đặc biệt là khu lõi của các phố có tình trạng ô nhiễm khá cao vì nó thiếu ánh sáng, thiếu thông thoáng gió nên độ ẩm cao. Do đó, điều mà người dân mong muốn cũng như suy nghĩ ban đầu là phải nâng cao điều kiện sống, như tăng diện tích ở, giảm mật độ cư trú và xây dựng, nâng cao chất lượng hạ tầng.10) Tỷ lệ nhà cổ cần được bảo tồn chỉ chiếm xấp xỉ 10%, nhà cũ có nét đặc trưng và được xây trong khoảng thời gian từ 1901 tới 1945 chiếm khoảng 25%.
Nhà mới xây dựng có phép và không phép chiếm 15%. Nhà không có giá trị bảo tồn và tình trạng kết cấu còn sử dụng được chiếm khoảng 15%, nhà không có giá trị bảo tồn nhưng đang trong tình trạng xuống cấp nguy hiểm chiếm tới 35%.11) Do vậy, việc xây chen những ngôi nhà trong khu phố cổ là điều tất yếu và nó sẽ chiếm một tỷ lệ lớn. Xây mới, nhưng không phá vỡ cấu trúc không gian chung và hài hoà với những cái đã có, đó là hai điểm chính đòi hỏi đối với một ngôi nhà xây mới trong khu phố cổ. 21 Luận văn thạc sĩ kiến trúc Hình 1.9: Công trình xây chen với những vấn đề và thách thức 22 Luận văn thạc sĩ kiến trúc Hình 1.