CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NHẬN THỨC MỨC ĐỘ NGHIÊM TRỌNG CỦA BẠO LỰC MẠNG 1. Các nghiên cứu nước ngoài Những năm trở lại đây vấn đề bạo lực mạng bắt đầu được nhiều nhà tâm lý học trên thế giới quan tâm nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu trước đây đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau đối với khái niệm Bạo lực mạng (cyberbullying).
Người đầu tiên đặt ra khái niệm này là Bill Belsey (2005), một nhà giáo dục người Canada, khi ông mô tả nó trên website của mình rằng “Bạo lực mạng (cyberbullying) là việc sử dụng các phương tiện truyền thông và liên lạc như thư điện tử, điện thoại di động, tin nhắn văn bản và các trang web để thực hiện những hành vi thù địch có chủ đích được lặp đi lặp lại bởi cá nhân hoặc nhóm nhằm mục đích gây hại cho người khác”. Willard (2005) định nghĩa Bạo lực mạng là hành vi gửi hoặc đăng tải những nội dung có hại hoặc tàn bạo bằng những thiết bị truyền thông. Bauman (2007) và cộng sự cho rằng “Bạo lực mạng là bạo lực bằng lời nói hoặc quan hệ thực hiện bằng cách sử dụng phương tiện truyền thông điện tử hoặc thiết bị công nghệ không dây, là sự gây hấn xảy ra thông qua các thiết bị công nghệ hiện đại, đặc biệt là điện thoại di động và mạng internet; gửi, đăng tải những tin nhắn hoặc hình ảnh có hại hoặc ác ý bằng cách sử dụng mạng internet hoặc các phương tiện kết nối kĩ thuật số để xúc phạm hay đe dọa ai đó; bạo lực thông qua các công cụ liên lạc điện tử như email, điện thoại, tin nhắn hay các trang web; là việc sử dụng công nghệ truyền thông hiện đại để gửi xúc phạm hoặc đe dọa tin nhắn trực tiếp cho nạn nhân hoặc gián tiếp cho người khác, để chuyển thông tin liên lạc bí mật hoặc hình ảnh của nạn nhân cho người khác xem một cách công khai, là tình huống mà một ai đó có chủ đích, quấy rầy lặp đi lặp lại, lấy ra làm trò đùa, đối xử tàn tệ với một người khác trên phương tiện truyền thông xã hội, qua tin nhắn hay những con đường trực tuyến khác” Trong những định nghĩa khác, theo Johnson (2011), bạo lực mạng có thể được hiểu là các hành vi thù địch hoặc gây hấn được thực hiện thông qua công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) (ví dụ: ứng dụng Internet, di động điện thoại) nhằm gây hại hoặc gây khó chịu cho người khác. Hay Gullotta và các cộng sự (2014) đã định nghĩa bạo lực mạng là hành vi gây hấn lặp đi lặp lại được thực hiện thông qua các thiết bị điện tử với ý định làm tổn hại đến người khác, được thực hiện bởi cá nhân hoặc nhóm một cách riêng tư bằng các tin nhắn hoặc hình ảnh, video được gửi trực tiếp đến nạn nhân hoặc công khai cho mọi người cùng xem trên các mạng xã hội.
Cũng bàn về khái niệm, nhà Tâm lý học Michael Nuccitelli, Psy.D cho rằng “Bạo lực mạng là một thuật ngữ dùng để xác định những cuộc công kích bằng lời nói hoặc thể chất được lặp đi lặp lại liên tục, nhiều lần của một hoặc nhiều người đối với Downloaded by bong bong (bongbong1@gmail.com) lOMoARcPSD|39475011 10 một hoặc nhiều người khác. Có hình thức như bạo lực thông thường, bạo lực mạng nhằm phỉ báng, đe dọa gây ám ảnh đối với người bị hại”. Theo Sammer Himduja và Justin W.Patchin và quyển sách Bullying Beyond the Schoolyard Preventing and Responoing to Cyberbullying, “Bạo lực mạng là việc sẽ xảy ra khi có ba yếu tố giao nhau: Công nghệ, thanh thiếu niên và những rắc rối (lời nói gây tổn thương, đe dọa đăng những hình ảnh nhạy cảm khiến nạn nhân xấu hổ…)”. Theo Delia Caroll campfield tác giả của công trình “Cyber bullying and victimization: Psychosocial characteristics of Bullies, Victims, and Bully/ Victims”, “bạo lực mạng đe dọa, hành hạ người khác trong không gian mạng bằng nhiều hình thức công nghệ như E–mail, tin nhắn, chat.
Sử dụng hình thức bắt nạt mới này, được gọi là bắt nạt trên mạng, quấy rối trực tuyến, hoặc bắt nạt Internet, kẻ bắt nạt hành hạ các nạn nhân của họ trong không gian mạng bằng nhiều hình thức:công nghệ như E-mail, tin nhắn tức thời, phòng chat, và các trang web. Văn bản qua điện thoại di động và camera điện thoại cũng đã trở thành phương tiện mới cho bắt nạt” (Campbell, 2005, Paulson, 2003, Peterson, 2002). Các định nghĩa về bạo lực mạng thường bao gồm 6 yếu tố chính: có chủ đích, gây tổn thương, lặp đi lặp lại, diễn ra trong thời gian dài, xung đột về quyền lực và mang tính khiêu khích, trêu chọc. Về cơ bản, bạo lực mạng cũng là một hình thức gây hấn được thực hiện thông qua các thiết bị điện tử.
Bạo lực mạng có những đặc điểm của bạo lực truyền thống và những đặc điểm đặc trưng của nó. Hiểu một cách chung nhất, bạo lực mạng là hành vi bắt nạt được thực hiện thông qua các thiết bị giao tiếp điện tử, do đó định nghĩa bạo lực mạng cần bao gồm những yếu tố cần thiết của việc bạo lực. Hành vi bạo lực mạng là hành vi có chủ ý, lặp đi lặp lại, gây hại cho đối tượng mà hành vi nhắm đến và được thực hiện thông qua máy tính, điện thoại hoặc các thiết bị điện tử khác. Ba đặc điểm đầu tiên là những đặc điểm của bạo lực mạng giống với bạo lực truyền thống; đặc điểm còn lại là đặc điểm chủ yếu cần có để phân biệt hai hình thức bạo lực này.
Việc phân chia hình thức của bạo lực mạng có thể giúp chúng ta dễ dàng hơn trong việc nhận diện chúng. Phân chia theo nội dung có 6 hình thức bạo lực mạng phổ biến được đưa ra bởi N. Willard (2005): Quấy rối (Harassment): Nó bao gồm các hành động như: gửi các thông điệp công kích, thô lỗ, và tin nhắn xúc phạm hay để bạo hành, lạm dụng; viết những bình luận, bức hình làm khó chịu hay gây xấu hổ trong các phòng trò chuyện trên mạng; gây khó chịu rõ ràng cho người chơi khác trên các trang mạng chơi game… Phỉ báng (Denigration): Đây là khi một người nào đó gửi các thông tin giả mạo, gây tổn hại và không đúng sự thật về người khác. Chia sẻ hình ảnh về một người nào Downloaded by bong bong (bongbong1@gmail.com) lOMoARcPSD|39475011 11 đó với mục đích chế giễu, lan truyền các tin đồn và lời thị phi không đúng sự thật.
Điều này có thể diễn ra trên bất cứ trang mạng hay ứng dụng nào. Chúng ta thường chứng kiến những người hay gửi các hình ảnh về người khác và đăng các bài viết lên mạng với mục đích bắt nạt. Gây đau khổ (Flaming): Điều này diễn ra khi một người nào đó cố tình sử dụng ngôn ngữ khắc nghiệt và công kích và tiến hành các cuộc chiến tranh luận trên mạng. Những kẻ đó làm điều này để mong thấy sự phản ứng và hưởng thụ khi việc làm này gây đau khổ cho người khác.
Mạo danh (Impersonation): Đây là khi một người nào đó đột nhập vào tài khoản email hoặc mạng xã hội của ai đó và sử dụng danh tính trên mạng (vừa đột nhập) để gửi hay đăng các tin khiêu dâm phóng đãng, hoặc các tài liệu (bài viết, hình ảnh, đoạn ghi âm, video clips…) đáng xấu hổ cho người khác. Nó cũng có thể là việc lập một trang/hồ sơ giả mạo trên các trang mạng xã hội, ứng dụng và những nơi trên mạng khác, điều này thực sự rất khó khăn để dẹp bỏ. Phát tán và lừa đảo (Outing and Trickery): Đây là khi một ai đó chia sẻ các thông tin cá nhân hoặc lừa đảo để lấy các thông tin bí mật rồi chuyển tiếp cho người khác. Chúng cũng có thể làm điều này với những hình ảnh và video riêng tư.
Rình rập trên mạng (Cyber stalking): Đây là hành động lặp đi lặp lại việc gửi các thông điệp, tin nhắn bao gồm: đe dọa làm tổn thương, các tin nhắn quấy rối và đe dọa, hoặc tham gia vào các hoạt động trực tuyến khác, làm cho một người lo sợ cho sự an toàn của bản thân. Những hành động này có thể là bất hợp pháp, phụ thuộc vào việc họ làm là gì. Tẩy chay, cô lập (Exclusion): Điều này là khi một ai đó cố ý loại bỏ một ai đó khỏi nhóm chẳng hạn như nhóm nhắn tin chung, những ứng dụng trên mạng, các trang mạng chơi game, và những hình thức tham gia trên mạng khác. Đây cũng là dạng bắt nạt trên mạng rất phổ biến.
Phân chia theo phương tiện dùng để bạo lực, Smith, Mahdavi, Carvalho, & Tippett (2006) nhận thấy tin nhắn văn bản, hình ảnh/video, cuộc gọi thực hiện bằng điện thoại, email, phòng chat và websites là những phương thức phổ biến để bạo lực mạng. Theo Luke Gilkerson trong nghiên cứu “Bullying Statistics: Fast Facts About Cyberbullying” bạo lực mạng xảy ra khi cá nhân người bắt nạt có những hành vi sau: Gossip: Gửi hoặc gửi tin đồn về một người nào đó để làm xấu đi danh tiếng, mối quan hệ của họ với bạn bè, gia đình và người quen. Downloaded by bong bong (bongbong1@gmail.com) lOMoARcPSD|39475011 12 Exclusion: Cố ý loại trừ ai đó ra khỏi một nhóm trực tuyến Nation: Chia sẻ email của ai đó hoặc tài khoản trực tuyến và gửi tin nhắn sẽ gây ra sự rắc rối hoặc gây tổn hại danh tiếng của người đó và ảnh hưởng đến cuộc sống hằng ngày của họ. Harassment: Nhiều lần đăng hoặc gửi tin nhắn thô lỗ, thậm chí hình ảnh nhạy cảm của người khác để xúc phạm đến họ.
Cybers talking: Đăng những tin nhắn với nội dung không hay (phỉ báng, chê bai…) hoặc có những nội dung đe dọa. Outing and trickery: Lừa dối ai đó tìm kiếm thông tin bí mật của họ sau đó dùng những thông tin này để đăng lên mạng nhằm bêu xấu, phỉ báng họ. Nghiên cứu về nhận thức mức độ nghiêm trọng của bạo lực mạng (Perceived Severity of Cyber-bullying), Lazarus and Folkman (1984) chỉ ra rằng nhận thức mức độ nghiêm trọng của bạo lực mạng là một khái niệm mới dùng để đo lường đánh giá của nạn nhân về một tình huống bạo lực mạng (tình huống căng thẳng). Greif và Michael J.
Furlong (2006) cho biết việc đánh giá một tình huống bạo lực mạng khác nhau tùy thuộc vào bối cảnh của tình huống (tin nhắn, kẻ bắt nạt, phương tiện bắt nạt, người chứng kiến) và những đặc điểm trong tính cách, tâm lý của nạn nhân. Mặc dù một số nghiên cứu đã khám phá nhận thức của nạn nhân về sự nghiêm trọng của bạo lực trên mạng so với bạo lực truyền thống, thước đo nhận thức của nạn nhân về mức độ nghiêm trọng của một vụ bạo lực trên mạng chưa được phát triển.