Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn Trong chương cơ sở lí luận và thực tiễn này, đề án sẽ trình bày khái quát về các lí thuyết áp dụng, những vấn đề thực tiễn mà có liên quan đến đề tài. 11 Lý thuyết về phương ngữ xã hội, biến thể ngôn ngữ, ngôn ngữ chuẩn và lệch chuẩn, cộng đồng giao tiếp, tiếng lóng, vấn đề lựa chọn ngôn ngữ trong giao tiếp, thái độ ngôn ngữ; Sơ lược về mạng xã hội cũng như khái niệm và những đặc điểm khái quát của ngôn ngữ mạng. Chương 2: Đặc điểm của biến thể ngôn ngữ mạng được sinh viên Trường Đại học Phú Yên sử dụng trên các trang mạng xã hội Phân tích những đặc điểm của biến thể ngôn ngữ mạng, đó là những thay đổi từ ngữ âm, từ vựng đến ngữ pháp. Đối với những biến đổi về ngữ âm, chúng tôi sẽ tập trung miêu tả sự biến đổi ở từng vị trí âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối và thanh điệu.
Ở phạm trù từ vựng, đề án sẽ miêu tả các hình thức biến thể từ ngữ như: viết tắt, từ địa phương, chêm xen ngoại ngữ, tiếng lóng,. Còn ở đặc điểm ngữ pháp, đề án chủ yếu trình bày cách sử dụng dấu câu, câu và các kiểu câu,. Chương 3: Mối liên hệ giữa ngôn ngữ mạng với cộng đồng – xã hội Chương này gồm 2 phần: Phần thứ nhất, chúng tôi sẽ trình bày khái quát tình tình sử dụng mạng xã hội (Facebook và Tiktok) và ngôn ngữ mạng của sinh viên Trường Đại học Phú Yên. Cụ thể là trình bày những đặc trưng riêng đã tạo nên thói quen, phong cách sử dụng ngôn ngữ mạng của sinh viên Phú Yên.
Từ đó, góp phần tô đậm sắc màu những biến thể ngôn ngữ mạng được sử dụng trên các trang mạng xã hội ở Việt Nam. Phần thứ hai, chúng tôi phân tích những ảnh hưởng của ngôn ngữ mạng với cộng đồng – xã hội và những ảnh hưởng của cộng đồng – xã hội với ngôn ngữ mạng. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Những lí thuyết liên quan Chúng tôi tiếp cận ngôn ngữ mạng từ hướng nghiên cứu chính đó là Ngôn ngữ học xã hội.
Hướng nghiên cứu của đề tài là xem ngôn ngữ mạng như là một phương ngữ xã hội, cụ thể là phương ngữ tuổi tác. Đề tài này sẽ nghiên cứu, tiếp cận ngôn ngữ mạng từ khung lí luận về phương ngữ xã hội. Khái niệm phương ngữ xã hội Chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ là chức năng giao tiếp. Ngôn ngữ được chúng ta sử dụng trong giao tiếp chủ yếu thể hiện dưới dạng phương ngữ.
Trong công trình Phương ngữ học tiếng Việt, Hoàng Thị Châu đã đề cập: “Dù anh nói tiếng địa phương, dù là nói giọng Huế, giọng Nghệ, giọng Quảng, anh đi đâu cũng có thể giao tiếp bằng phương ngữ của mình” [11, tr. Vì vậy, đối tượng nghiên cứu của Phương ngữ học (thuộc Ngôn ngữ học cấu trúc) là phương ngữ, đồng thời phương ngữ cũng là đối tượng nghiên cứu của Ngôn ngữ học xã hội (ra đời vào những năm 60 của thế kỉ XX – thời kì hậu cấu trúc). Tuy cùng chung đối tượng nghiên cứu nhưng hướng nghiên cứu và tiếp cận phương ngữ của Phương ngữ học và Ngôn ngữ học xã hội thì lại khác nhau. Với Phương ngữ học quan tâm đến phương ngữ địa lí, vấn đề phân vùng phương ngữ và xác định số lượng phương ngữ.
Còn với Ngôn ngữ học xã hội lại cho rằng có bao nhiêu nhóm xã hội thì có bấy nhiêu phương ngữ xã hội. Ngôn ngữ học xã hội có hướng nghiên cứu về sự biến đổi của phương ngữ học xã hội dưới sự tác động của các nhân tố xã hội để từ đó tìm ra được các giá trị cũng như hiệu quả của phương ngữ xã hội đem đến trong giao tiếp của con người. Cũng có nhiều định nghĩa về Phương ngữ xã hội như Fasold (1990), Wardaugh (2006), Bùi Thế Khánh (2005), Nguyễn Văn Khang (2012), … Theo Fasold (1990), tác giả quan niệm Phương ngữ xã hội là những cách nói năng tiêu biểu của các nhóm cư dân thuộc cùng một tầng giai cấp xã hội, cùng một thế hệ, tuổi tác, đẳng cấp tôn giáo và cùng hoạt động trong một lĩnh vực kinh tế. 13 Với Wardaugh (2006), thì lại cho rằng Phương ngữ xã hội là những biến thể ngôn ngữ được dùng để biểu hiện sự khác nhau trong nói năng của các nhóm xã hội khác nhau.
Từ đó, có thể xác định được vị thế xã hội, nghề nghiệp, trình độ học vấn, giai cấp, tôn giáo, điều kiện kinh tế hoặc dân tộc, văn hóa của nhóm xã hội sử dụng phương ngữ xã hội đó. Hay trong công trình Phương ngữ xã hội và vấn đề phương ngữ xã hội ở Việt Nam (2005) của tác giả Bùi Khánh Thế cho rằng Phương ngữ xã hội là “kiểu thức nói năng” (chính là các đặc điểm xã hội trong cách nói năng bao gồm một loại nhân tố mà sự phân giới thường không ổn định, thay đổi theo sự biến động của hoàn cảnh xã hội) của các nhóm người khác nhau trong xã hội, khi xã hội có phân chia giai cấp, cùng nhau sinh sống và giao tiếp bằng một ngôn ngữ chung. Còn tác giả Nguyễn Văn Khang lại quan niệm trong công trình Ngôn ngữ học xã hội (2012) thì Phương ngữ xã hội là sản phẩm ngôn ngữ của các nhóm xã hội. Các nhân tố xã hội như giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, … có tác động trực tiếp và tạo nên các đặc điểm về ngôn ngữ trong quá trình sử dụng.
Phương ngữ xã hội chính là các biến thể ngôn ngữ theo nhóm xã hội trong sử dụng. Tóm lại, Phương ngữ xã hội ở đây chúng ta có thể hiểu đơn giản là các biến thể của ngôn ngữ về phát âm, cách nói năng, … được sử dụng trong một nhóm xã hội cụ thể. Chẳng hạn, trong xã hội có sự phân chia về nghề nghiệp, tuổi tác, giới tính, giai cấp, … thì chúng ta sẽ có tương ứng các phương ngữ nghề nghiệp, phương ngữ tuổi tác, phương ngữ giới, phương ngữ giai cấp, … Ngoài sử dụng các biến thể ngôn ngữ chung của cộng đồng thì ở các phương ngữ này sẽ sử dụng các biến thể ngôn ngữ mang đặc trưng, phong cách riêng biệt của mỗi xã hội. Trong đề án này, chúng tôi sẽ tiếp cận biến thể ngôn ngữ tuổi tác như là một phương ngữ xã hội của nhóm sinh viên Trường Đại học Phú Yên trong việc sử dụng tiếng Việt hiện nay.
Biến thể ngôn ngữ, ngôn ngữ chuẩn và lệch chuẩn Để hiểu biến thể ngôn ngữ là gì? Thì trước hết, chúng ta phải hiểu như thế nào là biến? “Biến (variable) là đại lượng có giá trị biến đổi trong quá trình được xét. Trong ngôn ngữ học, biến dược xem là một đại lượng có giá trị ngôn ngữ hay xã hội nào được đưa vào để xem xét, nghiên cứu với điều kiện đại lượng có giá trị này phục vụ cho mục đích nghiên cứu. Các nhân tố xã hội như giới tính, giai cấp, địa vị xã hội, giáo dục, nghề nghiệp, tuổi tác, … theo cách gọi quen thuộc chính là biến xã hội. “Biến xã hội là biến có giá trị biểu hiện bằng các nhân tô xã hội cần được xem xét khi nghiên cứu ngôn ngữ.
Biến xã hội sẽ tác động vào biến ngôn ngữ làm cho có thể dân đến những biến động trong ngôn ngữ mà biếu hiện của nó là sự xuất hiện các biến thể. Có thể hiểu biến thể là những thể đã được biến đổi ít hay nhiều so với thể gốc. Tiếng Việt khi sử dụng với tư cách là một công cụ giao tiếp, thực chất là nó đang tồn tại dưới dạng các biến thể, có thể là các biến thể xã hội, các biến thể địa lí,. Biến thể ở đây có nhiều hình thức biểu hiện, từ cấp độ cao đến cấp độ thấp hơn.
Với cấp độ cao, biến thể có thể là ngôn ngữ, hay cũng có thể là phương ngữ hoặc cũng có thể là phong cách nói năng hoặc một thành phần ngữ pháp, thậm chí ở những cấp độ thấp chỉ là một từ, một âm vị cụ thể. Trong ngôn ngữ học xã hội, biến thể ngôn ngữ thể hiện ý nghĩa, cho nên nó cũng có khả năng phân biệt chức năng xã hội và là hình thức ngôn ngữ có sự phân bố xã hội. Với tư cách là đơn vị nghiên cứu của ngôn ngữ học xã hội, “biến thể ngôn ngữ (variety) có thể dược hiểu là các hình thức tồn tại và biến đổi của ngôn ngữ. Nói cách khác, đó là hình thức biểu hiện của ngôn ngữ được sử dụng phổ biến trong hoàn cảnh xã hội giống nhau với các đặc trưng xã hội giống nhau.
Trong đề án này, chúng tôi nghiên cứu về ngôn ngữ mạng của sinh viên Trường Đại học Phú Yên nói riêng và giới trẻ nói chung, chính là đang nghiên cứu về biến thể ngôn ngữ theo biến thể xã hội (phương ngữ tuổi tác) của sinh viên. Bàn đến biến thể ngôn ngữ không thể không nhắc đến khái niệm ngôn ngữ chuẩn và ngôn ngữ lệch chuẩn. Ngôn ngữ chuẩn và ngôn ngữ lệch chuẩn, từ trước đến nay được bàn nhiều 15 bởi giới nghiên cứu trong và ngoài nước, được quan tâm theo nhiều hướng khác nhau tùy vào hướng nghiên cứu của các tác giả. Trong đề án này, chúng tôi nghiên cứu về sự biến đổi giữa ngôn ngữ chuẩn của tiếng Việt với ngôn ngữ tiếng Việt trên mạng.
Cho nên, để có cái nhìn rõ nhất, chúng tôi tiếp cận khái niệm ngôn ngữ chuẩn và ngôn ngữ lệch chuẩn theo công trình 777 Khái niệm ngôn ngữ học của Nguyễn Thiện Giáp. Cho rằng “ngôn ngữ chuẩn ngôn (standart language) còn được gọi là ngôn ngữ văn chương. Nhiều người nhận thấy rằng, tiếng Việt chuẩn hình thành dẫn dẫn trên cơ sở phương ngữ Bắc Bộ với sự bổ sung thêm một số yếu tố của các phương ngữ khác. Như vậy, chuẩn tiếng Việt đã được xây dựng sao cho các yếu tố của tất cả các tầng bậc được lựa chọn từ một thói quen lời nói nào đó và được bổ sung một cách có hệ thống bằng các yếu tố từ các thói quen khác, chứ không dựa hẳn vào một phương ngữ hoặc tiếng nói của thủ đô như ở một số ngôn ngữ khác.
Chuẩn phát âm sẽ là cơ sở cho chuẩn ngữ pháp và chuẩn từ vựng, bởi vì chuẩn phát âm đã được chấp thuận thì các yếu tố từ vựng và ngữ pháp cũng được chuẩn hóa theo. Hệ thống chữ quốc ngữ được coi như bằng chứng về hệ thống ngữ âm chuẩn của tiếng Việt. 285] Trái với ngôn ngữ chuẩn là ngôn ngữ lệch chuẩn hay ngôn ngữ phi chuẩn.