CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Khái niệm về phương tiện truyền thông xã hội (Social media) Trong vài năm gần đây, việc sử dụng phương tiện truyền thông xã hội (social media) đã trở thành một hoạt động giải trí ngày càng phô biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Trong tiến trình hội nhập của Việt Nam ra thế giới đã tạo điều kiện cho công nghệ thông tin, truyền thông trong nước phát triển mạnh mẽ. Các cá nhân truy cập vào trang web truyền thông xã hội để tham gia vào nhiều loại hình giải trí và hoạt động xã hội khác nhau bao gồm thư giãn, giải trí, chia sẻ thông tin, tương tác xã hội, tìm kiếm ý tưởng. Theo Kaplan & Haenlein (2010) thì phương tiện truyền thông (social media) là một nhóm các ứng dụng trên Internet được xây dựng dựa trên nền tảng tư tưởng và công nghệ của Web 2.0 và cho phép tạo, trao đối nội dung do người dùng tạo ra.
14 Nghiên cứu khoa học GVHD: Ths. Ngé Thi Sa Ly Theo Wartberg và cộng sự (2020), phương tiện truyền thông xã hội (Social media)là một thuật ngữ bao gồm các trang phương tiện truyền thông xã hội (Social media) và nền tảng nhắn tin. Tuy nhiên, theo Carr và Hayes (2015) đưa ra một cuộc thảo luận và phân tích tuyệt vời về truyền thông xã hội đã cho rằng : “Truyền thông xã hội là các kênh dựa trên Internet cho phép người dùng tương tác có cơ hội vả tự trình bày có chọn lọc, theo thời gian thực hoặc không đồng bộ, với cả đối tượng rộng và hẹp, những người thu được giá trị từ nội dung do người dùng tạo và nhận thức về tương tác với những người khác”. Bên cạnh đó, McCay-Peet và Quan-Haase (2017: 17) cũng tông quan về các cuộc thảo luận học thuật và đưa ra định nghĩa này: “Truyền thông xã hội là các dịch vụ dựa trên web cho phép các cá nhân, cộng đồng và tô chức cộng tác, kết nối, tương tác và xây dựng cộng đồng bằng cách cho phép họ đồng sáng tạo, sửa đổi, chia sẻ và tương tác với nội dung do người dùng tạo ra”.
Qua các khái niệm trên về phương tiện truyền thông, ta có thê hiểu: “ Phương tiện truyền thông xã hội (Social media) là các ứng dụng hoặc chương trình được xây dựng dựa trên nên tang Internet, nhằm tao diéu kién cho viéc tao méi hodc chia sé théng tin, ý tưởng, lợi ích nghề nghiệp và các nội dung khác thông qua các thiết bị công nghệ và mạng máy tính”. Với sự phát triển của công nghệ Internet di động và sự phô biến của điện thoại thông minh thì phương tiện truyền thông xã hội (Social media) đã trở thành một phần quan trọng trong việc học tập và cuộc sống hàng ngày của sinh viên đại học.2 Khái niệm về học tap hop tac (Collaborative Learning) Theo Kagan (1989) hoc tap hop tac (Collaborative Learning) 1a mét chién hoc giảng dạy lấy sinh viên làm trung tâm, được giảng viên tạo điều kiện, trong đó một nhóm nhỏ sinh viên chịu trách nhiệm về việc học của chính mình và việc học của tất cả các thành viên trong nhóm. Học sinh tương tác với nhau trong cùng một nhóm dé tiép thu và thực hành các yếu tố của một chủ đề nhằm giải quyết một vấn đề, hoàn thành một nhiệm vụ hoặc đạt được một mục tiêu. Còn với Alavi va céng sy (1995) thi hoc tap hop tac (Collaborative Learning) la một hoạt động bao gồm một quá trình trong đó một nhóm sinh viên hợp tác với nhau để đạt được một số nhiệm vụ giải quyết van dé trong một môi trường tương tác hơn.
Học tập hợp tác (Collaborative Learning) với sự hỗ trợ của phương tiện truyền thông xã hội 15 Nghiên cứu khoa học GVHD: Ths. Ngé Thi Sa Ly (Social media) khuyến khích học tập và chia sẻ kiến thức giữa các sinh viên (Al-rahmi, Othman, & Yusuf, 2015) vì các công cụ truyền thông xã hội có thê hỗ trợ rất nhiều cho các hoạt động hợp tác như vậy.Johnson and Roger T.Johnson (2016) cho rằng học tập hợp tác (Collaborative Learning) bao gồm sinh viên làm việc cùng nhau trong một giai đoạn lớp học đến vài tuần, để đạt được mục tiêu học tập và cùng nhau hoàn thành các nhiệm vụ và bài tập duoc giao. Qua các khái niệm trên về học tập hợp tác, ta có thể hiểu: “Học tập hợp tác (Collaborative Learning) là một hoạt động bao gồm một quá trình trong đó một nhóm sinh viên hợp tác với nhau để giải quyết một số nhiệm vụ giải quyết vấn đề trong một môi trường tương tác `”. Nó dựa trên mô hình mà kiến thức được tạo ra trong một cộng đồng nơi những người tham gia tích cực cộng tác bằng cách chia sẻ kinh nghiệm trong một môi trường chung.
Quá trình xây dựng ý nghĩa, học tập và phát triển tri thức đòi hỏi sự tham gia tích cực của các đối tượng và cá nhân trong bối cảnh xã hội.3 Khái niệm về đe dọa trực tuyến (Cyberbullying) Mặc dù hầu hết các hành động và kết nối trực tuyến được phản ánh là tích cực, nhưng có một mối quan tâm tiêu cực: việc tiếp xúc với đe dọa trực tuyên (Cyberbullying) (Tokunaga, 2010). Đe dọa trực tuyén (Cyberbullying) trong giáo dục được mô tả là việc sử dụng Internet hoặc các phương tiện truyền thông khác để lạm dụng, xúc phạm hoặc đe dọa người khác nhiều lần hoặc theo thời gian, những người yếu hơn và không thể tự bảo vé minh (Ahmed, Hussain, Ahmed, Ahmed, & Tabassum, 2012; Juvonen & Gross, 2008; Olweus, 1993). Theo Smith va Juvonen & Gross (2008) thi de doa truc tuyén (Cyberbullying) bao gồm hack vào máy chủ, đăng thông tin cá nhân về người khác, quấy rồi trực tuyến hoặc một số hành động hung hăng, có chủ ý được thực hiện bởi một nhóm hoặc cá nhân đối với đồng nghiệp hoặc người lớn của họ bằng cách sử dụng các thiết bị liên lạc điện tử. Còn theo Raskauskas & Stoltz, (2007) những kẻ đe dọa trực tuyến (Cyberbullying) có xu hướng thường xuyên tham gia vào hành vi chế nhạo, trêu chọc, quấy rỗi va de doa bằng cách sử dụng tin nhắn tức thời, email và các trang mạng xã hội.
Các nhà nghiên cứu nhận thấy nạn nhân hoặc đe dọa trực tuyến (Cyberbullying) là một trong những mối quan tâm chính trong vân đề này. Phát hiện của họ cho thây sinh viên cởi mở với việc 16 Nghiên cứu khoa học GVHD: Ths. Ngé Thi Sa Ly sử dụng học thuật các công cụ mạng xã hội và hoc tap hợp tac (Collaborative Learning) nhưng đe dọa trực tuyến (Cyberbullying) tạo ra rao cản trong quá trình nảy.1 Lý thuyết về sự tin cây của phương tiện truyền thông xã hội Phương tiện truyền thông xã hội (Social media) cho phép mọi người tham gia vào các hoạt động trực tuyến, phá bỏ rào cản đối với người dùng trực tuyến để tạo và chia sẻ thông tin ở bất kỳ đâu vào bất kỳ lúc nào. Tuy nhiên, sự bùng nỗ của nội dung do người dùng tạo và đặt ra những thách thức mới cho người dùng trực tuyến trong việc tìm kiếm thông tin liên quan, hay nói cách khác, làm trầm trọng thêm van dé qua tải thông tin.
Do đó, lòng tin rất quan trọng trong việc giúp người dùng thu thập thông tin có liên quan và đáng tin cậy, và niềm tin vào phương tiện truyền thông xã hội (Social media) là một chủ đề nghiên cứu ngày cảng quan trọng và có ý nghĩa thực tiễn. Theo một nghiên cứu về quyên sách của Jiliang Tang và Huan Liu (2015), trong bối cảnh của phương tiện truyền thông xã hội, sự tin cậy cung cấp băng chứng về người mà chúng ta có thể tin tưởng để chia sẻ thông tin và người mà ta chấp nhận thông tin không cần xác minh thêm. Với sự tín tưởng, họ thực hiện con đường tắt bằng cách trực tiếp tìm kiếm thông tin từ người được ủy thác hoặc các thực thê đáng tin cậy, phục vụ mục đích hai lần: không bị choáng ngợp bởi quá nhiều thông tin và với thông tin đáng tin cậy do sự tin tưởng được đặt vào nhà cung cấp thông tin. Theo lý thuyết của BanduBa (2015) cho thấy rằng những người có khả năng tự hiệu quả cao hơn trên phương tiện truyền thông xã hội (Social media) có thể nhận thấy thông tin thu thập được từ phương tiện truyền thông xã hội (Social media) là đáng tin cậy, ngay cả trong với thông tin từ các nguồn ngoại tuyến được đánh giá là dang tin cậy hơn theo truyền thống.
Theo đó, mức độ tự tin trên phương tiện truyền thông xã hội (Social media) của một người, kiếm được thông qua kinh nghiệm trước đây có liên quan và sự quen thuộc tích lũy, được đề xuất để tác động đến đánh giá của họ về thông tin trên phương tiện truyền thông xã hội. Trong một nghiên cứu gần đây của (Warner-Søderholm và cộng sự, 2018), họ đề xuất rằng nhận thức của người dùng về sự tin tưởng khác nhau tủy thuộc vào giới tính, độ tuôi và thời gian dành cho phương tiện truyền thông xã hội (Social media) của họ. Việc xây dựng lòng tin được đo lường bằng năm khía cạnh: nhân từ, chính trực, năng 17 Nghiên cứu khoa học GVHD: Ths. Ngé Thi Sa Ly lực, nhận dạng và quan tâm.
Các phát hiện cho thấy rằng nhận thức của người dùng về tính toàn vẹn; mô tả các tư tưởng và đạo đức của một con người, khác nhau về giới tính, độ tuổi và tần suất sử dụng phương tiện truyền thông xã hội.2 Lý thuyết về sự thu hút của phương tiện truyên thông xã hội Trong thế kỷ mà chúng ta đang sống, được gọi là thời đại kỹ thuật số, máy tính, Internet và các loại máy móc gắn liền với chúng ta đã chiếm một tầm quan trọng tuyệt đối trong mọi hoạt động thuộc mọi khía cạnh của cuộc sống con người, và trong bức tranh này, phương tiện truyền thông xã hội (Social media) có súc hút rất quan trọng. Việc tiếp cận thông tin qua các thiết bị cầm tay và Internet dần dễ dàng hơn, rẻ hơn và nhanh hơn, sự mở rộng của phương tiện truyền thông lưới truyền thông là một trong những yếu tổ thúc đây các cá nhân sử dụng phương tiện truyền thông xã hội. Rõ ràng là tầm quan trọng của phương tiện truyền thông xã hội (Social media) trong cuộc sống của chúng ta đang tăng lên từng ngày, và phương tiện truyền thông xã hội (Social media) có thê tạo ra tác động của nó trên toàn cầu. Không có gì ngạc nhiên khi sức hút của phương tiện truyền thông xã hội (Social media) tác động đối với các cá nhân, đặc biệt là giới trẻ, là không thê tránh khỏi.
Trong những năm qua, phương tiện truyền thông xã hội (Social media) đã trở nên phổ biến rộng rãi và được giới trẻ đón nhận.