LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Ngôn ngữ luôn là giá trị cốt lõi của mọi quốc gia. Trong tất cả các phương tiện mà con người dùng để giao tiếp thì ngôn ngữ là phương tiện duy nhất thoả mãn được tất cả nhu cầu của con người. Bởi vậy, ngôn ngữ có vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sông.
Trong thế giới bao la, mỗi một giây, một phút trôi qua đều có người đang nói, đang viết, hoặc đang đọc cái gì đó. Cuộc sống của chúng ta phụ thuộc rất nhiều vào việc sử dụng ngôn ngữ nhanh chóng và hiệu quả. Sở dĩ ngôn ngữ trở thành công cụ giao tiếp vạn năng của con người vì nó hành trình cùng con người, từ lúc con người xuất hiện cho tới tận ngày nay. Phương tiện giao tiếp ấy được bổ xung và hoàn thiện dần theo lịch sử tiến hoá của nhân loại, theo những trào lưu và xu hướng tiếp xúc văn hoá có từ cô xưa đến tận ngày nay.
“Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu âm thanh đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của các thành viên trong một cộng đồng người; ngôn ngữ đồng thời cũng là phương tiện phát triển tư duy. Truyền đạt truyền thong văn hoá — lịch sử từ thé hệ này sang thế hệ khác.” Hiện nay, quá trình hội nhập và sự giao lưu văn hóa diễn ra mạnh mẽ, tác động không nhỏ đến việc sử dụng ngôn ngữ, tiếng nói. Nếu như ngôn ngữ thê hiện được đúng như vai trò của nó cho nhân loại và luôn được xác định “là ý thức thực tại, và cũng như ý thức ngôn ngữ chỉ sinh ra do nhu cầu, do cần thiết phải giao dịch với người khác”! thì bạo ngôn lại là cách con người dùng để tác động tiêu cực và hạ thấp giá trị của người khác và xã hội, là cách con người dùng để mưu toan xâm hại và xúc phạm người khác, đồng thời làm lệch lạc đi hình ảnh của bản thân. Thế giới đang ở trong thời đại công nghệ 4.0, khoa học công nghệ phát triển và trở thành một phan thiết yêu của cuộc sống, trong đó mang xã hội trở thành một công cụ phô biến dé kết nối cộng đồng.
Trong bối cảnh đó, bạo ngôn không chỉ xảy ra ở xã hội thực mà nó còn xảy ra thường xuyên trên các nền tảng mạng xã hội. Theo kết quả khảo sát ý kiến của UNICEF? vào tháng 04/2019, một phan ba thanh thiếu niên ở 30 quốc gia cho biết họ đã từng là nạn nhân bị bắt nạt trên mạng, trong đó một phần năm cho biết đã từng bỏ học vì bị bắt nạt trên mạng và bạo lực. Năm 2019, ở Việt Nam có khoảng 455 trang mạng xã hội đã được cấp phép* và con số ngày đang không ngừng tăng lên. Facebook, Instagram, Twitter, Youtube,.
là x ! Mác và Anghen khang định trong cuốn “Hệ tư tưởng Đức”.com/topic/UNICEF, truy cập ngày 25/12/2019.org/vietnam/vi/thông-cáo-báo-chí/kết-quả-khảo-sát-ý-kiến-của-unicef-hơn-một-phằần-ba- thanh-thiếu-niên-ở-hơn-30-quốc-gia, truy cập 25/12/2019.vn/20190805/mangxh/index.html, Vân Anh, truy cấp ngày 25/03/2020. 2 các trang mạng xã hội được sử dụng phô biến và cũng là nền tang thường xuyên xảy ra bạo lực ngôn từ trực tuyến. Theo báo cáo DCI do hãng Microsoft công bố, Việt Nam năm trong top 5 quốc gia có mức độ văn minh thấp nhất. Cũng theo khảo sát trên của UNICEF, 21% thanh thiếu niên Việt Nam tham gia khảo sát cho biết họ là nạn nhân của bắt nạt trên mạng và hầu hết (75%) đều không biết về đường dây nóng hoặc các dịch vụ có thể giúp họ nếu bị bắt nạt hoặc bị bạo lực trên mạng.
Tại một số quốc gia trên thé giới, van dé bạo lực ngôn từ trên mạng xã hội cũng đã được quan tâm như Ấn Độ có Đạo luật Công nghệ thông tin năm 2000, Đức có Đạo luật Mạng xã hội năm 2017,.Còn ở Việt Nam, hiện nay, các văn bản quy phạm pháp luật quy định tương đối đầy đủ dé khuyến cáo và áp dụng chế tài đối với hành vi tung tin sai sự thật, ac ý, công kích, bia đặt, thể hiện bạo lực ngôn từ trên mạng xã hội. Tuy nhiên, trong quy định của pháp luật chưa thực sự đầy đủ và thống nhât, việc xử lý áp dụng chế tài còn có những hạn chế nhất định, cơ bản chỉ bị áp dụng chế tài xử phạt hành chính nên chưa đảm bảo tính răn đe và trừng phạt. Một khi mà chưa có vụ việc điển hình bị đưa ra ánh sáng và xử lý nghiêm khắc hơn thì hành vi vi phạm sẽ ngày càng nhiều hơn, xã hội giảm tinh đi tính trật tự và văn minh. Tinh thần thượng tôn pháp luật sẽ không đảm bảo.
Trước thực trạng cũng như yêu cầu đặt ra trong bối cảnh hiện nay, cần có nhiều giải pháp dé hạn chế hành vi bạo lực ngôn từ trên mạng xã hội, đặc biệt là giải pháp về pháp luật. Từ những lý do trên, nhóm nghiên cứu đã chọn van đề: “Bao le ngôn tiv trên mạng xã hội ở một số quốc gia trên thé giới và ảnh hưởng của nó tới đời sông tinh than của thanh niên Việt Nam” dé làm đề tài nghiên cứu khoa học trong Cuộc thi Sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2020. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 2. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 2.
Một số công trình nghiên cứu trong nước Qua khảo cứu, nhóm nghiên cứu nhận thay rang ở Việt Nam, các van dé như bao lực học đường, bao lực gia đình đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ xã hội học, tâm lý học, luật học,.Còn van đề bạo lực ngôn từ, đặc biệt là bạo lực ngôn từ trên mạng xã hội hiện nay có rất ít công trình nghiên cứu. Dưới góc độ tâm lý học, hiện nay có đề tài “Bao luc ngôn ngữ trong xã hội Việt Nam hiện nay” của tác giả Phạm Thị Thanh Đan (Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng), năm 2017. Lẫy cảm hứng từ câu chuyện của Khấu Hãi Ninh - Nhà diễn thuyết kiêm MC người Trung, tác giả đã tiến hành thực hiện đề tài trên. Trong bài nghiên Š Báo cáo chỉ số văn minh trên không gian mang do do Hãng Microsoft công bố nhân dịp ngày quốc tế an toàn Internet - Safer Internet Day năm 2020, Việt Nam nam trong top 5 quôc gia có mức độ văn minh thâp nhât (khảo sát tại 25 quôc gia).
3 cứu, tác giả đã phân tích nguyên nhân dẫn đến bạo lực ngôn ngữ và hậu quả; phân tích và nhận định hiện trạng bạo lực bằng lời nói, từ đó, đưa ra một số giải pháp hạn chế van dé bạo lực ngôn ngữ ở Việt Nam hiện nay. Về vẫn đề bạo lực ngôn từ trên mạng xã hội, dưới góc độ luật học, hiện nay có bài viết “Chống phát ngôn thù ghét, phi bang trên Internet ở Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu và những giá trị tham khảo cho Việt Nam” của tác giả Vũ Công Giao và Nguyễn Dinh Đức (Khoa Luật, Dai học Quốc gia Hà Nội) đăng trên An phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 17 (369), tháng 9/2018. Trong bài viết, tác giả đã đưa ra quan niệm phát ngôn thù ghét, phi bang theo luật nhân quyền quốc tế, từ đó đưa ra khái niệm phát ngôn thù ghét, phi bang trên Internet. Sau đó, trên cơ sở phân tích các quy định cua pháp luật Hoa Kì và Liên minh châu Âu về chống phát ngôn thù ghét, phỉ báng trên Internet, tắc giả đã rút ra một sé gia tri tham khao cho Viét Nam.
Ngoài ra, còn có một số bài báo đăng trên các website điện tử cũng đã nghiên cứu về van đề bạo lực ngôn từ trên mạng xã hội dưới góc nhìn xã hội học. Một số bài viết như sau: - Bài viết “Sự bùng no của những ngôn từ kém văn hóa trên mạng xã hội” của tác giả BT đăng trên web của Kênh truyền hình Công an Nhân dân (ANTV) ngày 01/4/2019. Tác giả đã tiến hành nghiên cứu thực tế và và phỏng vấn sâu một số các bạn trẻ, chuyên gia giáo dục, từ đó nêu lên thực trạng, hậu quả, nguyên nhân của van dé sử dung ngôn ngữ kém văn hóa trên mang xã hội, từ đó đưa ra một số kiến nghị giải pháp khắc phục vấn đề trên. - Bài viết “Bạo lực ngôn từ và ẩn ức xã hội ” của tác giả Đoàn Khắc Xuyên đăng trên báo Người Đô Thị ngày 30/10/2018.
Bài viết đã nêu lên thực trạng bạo lực ngôn từ trên mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay, đồng thời đưa ra một số nguyên nhân - An ức xã hội kết hợp với sự tự do trên các trang mạng xã hội và kiến nghị giải pháp khắc phục cho van đề bạo lực ngôn từ trên mạng xã hội ở Việt Nam. - Bài viết “YouTube bỏ loi, bao lực ngôn từ hợp thức hóa, ai sẽ nghĩ cho giới trẻ?” của tác giả Tiến Vũ đăng trên báo Tuổi trẻ online ngày 08/4/2019. Bài viết đã phân tích các chính sách của Youtube để dẫn tới việc hợp thực hóa bạo lực ngôn từ trên trang mạng xã hội này và cảnh báo những vấn đề có thé xảy ra khi bạo lực ngôn từ được hợp thức hóa trên Youtube. - Bài viết “7;ruyên thông xã hội đối với ồn định chính trị, xã hội ở Việt Nam” của tác giả Võ Văn Thưởng - ủy viên Bộ Chính trị, trưởng Ban Tuyên giáo trung ương, năm 2019.
Bài viết đã nêu ra thực trạng, những vấn dé tổn tại trong truyền thông xã hội và hình phạt đối với hành vi tung tin giả, nội dung xấu ở một số quốc gia trên thế giới (Thái Lan, Đức, Ai Cap, Philipines, Singapore ,.); nêu lên những cơ hội và thách 4 thức của Việt Nam trên mặt trận truyền thông xã hội, từ đó đưa ra 5 giải pháp nhận diện và quản lý truyền thông xã hội. - Bài viết “Mạng xã hội và trách nhiệm người ding” của tác giả QDND (Hoc viện Báo chí và tuyên truyền) năm 2019. Bài viết đã đưa ra thực trạng một số người sử dụng mang xã hội làm công cụ dé tấn công người khác, hay thực hiên mục đích cá nhân. Từ đó đưa ra nguyên nhân và kiến nghị các giải pháp để nâng cao chất lượng người dùng mạng xã hội.
- Bài viết “Bạo lực ngôn từ và trách nhiệm cá nhân” của tác giả Mạnh Thắng đăng trên báo Sức khỏe và Đời sống - Cơ quan ngôn luận của Bộ Y tế ngày 21/8/2017. Bài viết đã phân tích thực tiễn van đề bạo lực ngôn từ và thực trạng các quy định pháp luật, việc thực hiện pháp luật về bạo lực ngôn từ ở Việt Nam và đặc biệt nêu lên trách nhiệm của mỗi cá nhân, mỗi người dùng mạng xã hội trong việc hạn chế bạo lực ngôn từ.