CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA MẠNG XÃ HỘI TỚI Ý THỨC HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN 1. Lý luận về mạng xã hội, ảnh hưởng của mạng xã hội Tại Việt Nam, mạng xã hội được quy định tại khoản 22 Điều 3 Nghị định 72/2013/NĐ- CP về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng như sau: “Mạng xã hội (social network) là hệ thống thông tin cung cấp cho cộng đồng người sử dụng mạng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin với nhau, bao gồm dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tương tự khác. Từ khóa liên quan khác là “Dịch vụ mạng xã hội”, theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia, “Dịch vụ mạng xã hội (Social Networking Service - SNS) là dịch vụ nối kết các thành viên cùng sở thích trên Internet lại với nhau với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian. Những người tham gia vào dịch vụ mạng xã hội được gọi là cư dân mạng.
Dịch vụ mạng xã hội có những tính năng như chat, e-mail, phim ảnh, voice chat, chia sẻ file, blog và xã luận. Mạng đổi mới hoàn toàn cách cư dân mạng liên kết với nhau và trở thành một phần tất yếu của mỗi ngày cho hàng trăm triệu thành viên khắp thế giới. Các dịch vụ này có nhiều cách thức để các thành viên tìm kiếm bạn bè, đối tác như: theo group (ví dụ như tên trường hoặc tên thành phố), dựa trên thông tin cá nhân (như địa chỉ e-mail hoặc screen name), sở thích cá nhân (như thể thao, phim ảnh, sách báo, hoặc ca nhạc), lĩnh vực quan tâm (kinh doanh, mua bán). Theo mục đích sử dụng, dịch vụ mạng xã hội có thể được phân thành bốn loại: - Các dịch vụ mạng xã hội giao lưu được sử dụng chủ yếu để giao lưu với bạn bè hiện tại (ví dụ: Facebook, Instagram).
- Mạng xã hội trực tuyến là mạng máy tính phân tán, nơi người dùng giao tiếp với nhau thông qua các dịch vụ internet. - Dịch vụ mạng xã hội được sử dụng chủ yếu trong việc giao tiếp phi xã hội giữa các cá nhân (ví dụ: LinkedIn, một trang web định hướng nghề nghiệp và việc làm). - Các dịch vụ mạng xã hội điều hướng được sử dụng chủ yếu để giúp người dùng tìm thông tin hoặc tài nguyên cụ thể (ví dụ: Google) Khi tìm hiểu về định nghĩa mạng xã hội (social network) sẽ có những từ khóa liên quan khác có điểm tương đồng xuất hiện dễ gây nhầm lẫn, đặc biệt trong số đó là “phương tiện tiện truyền thông mạng xã hội (social media)”. Do đó để tránh gây chệch hướng và sai lệch thông tin, đối tượng trong quá trình nghiên cứu điều cần thiết là phải phân biệt rõ hai định nghĩa này.
Trong đó, Social Media là một chiến lược truyền thông được phát triển từ nền tảng Social Network. Điểm cốt lõi của Social Media nằm ở chức năng liên kết người dùng từ nhiều cộng đồng, nền tảng khác nhau. Trong khi đó, Social Network chỉ tập trung liên kết cộng đồng người dùng trong cùng một cộng đồng, nền tảng. Còn những người dùng từ các mạng xã hội khác nhau sẽ gặp rào cản đôi trong khâu kết nối.
Chẳng hạn một người dùng Facebook không thể liên hệ trực tiếp với người dùng Twitter qua Facebook được. Về khái niệm “ảnh hưởng”, có thể hiểu, ảnh hưởng là “sự tác động (của tự nhiên – xã hội) để lại kết quả trên các sự vật, hiện tượng hay con người”. Với cách hiểu về ảnh hưởng như vậy, có nhận định, ảnh hưởng của mạng xã hội là những tác động do mạng xã hội tạo ra và để lại kết quả nhất định (tích cực/tiêu cực) lên một đối tượng nào đó mà đối tượng cụ thể trong nghiên cứu này là ý thức học tập của sinh viên. Ảnh hưởng của mạng xã hội đến học tập và đời sống của sinh viên là những tác động của mạng xã hội gây nên sự biến đổi trong học tập và đời sống của sinh viên 1.
Lý luận về ý thức, ý thức học tập của sinh viên “Ý thức” là gì? Trong bài nghiên cứu, định nghĩa về “ý thức” được tìm hiểu dưới hai góc độ là tâm lý học và triết học. Cụ thể: Trong tâm lý học, ý thức được định nghĩa là hình thức phản ánh tâm lý cao nhất chỉ có ở con người. Ý thức là sự phản ánh bằng ngôn ngữ những gì con người đã tiếp thu trong quá trình quan hệ qua lại với thế giới khách quan. Ý thức trong triết học được định nghĩa như sau: Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng ý thức là sự phản ánh khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo.
Điều đó được khẳng định trong quan điểm của Karl Marx rằng “Ý thức chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi trong đó. Bản chất của ý thức gồm hai mặt. Mặt thứ nhất, ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Thể hiện rằng nội dung của ý thức do thế giới khách quan quy định.
Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan vì nó nằm trong bộ não con người. Ý thức là cái phản ánh thế giới khách quan nhưng nó là cái thuộc phạm vi chủ quan, là thực tại chủ quan. Ý thức không có tính vật chất, nó chỉ là hình ảnh tinh thần, gắn liền với hoạt động khái quát hóa, trừu tượng hóa, có định hướng, có lựa chọn. ý thức là sự phản ánh thế giới bởi bộ não con người Mặt thứ hai, ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế giới.
Tuy ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan nhưng không phải cứ thế giới khách quan tác động vào bộ óc người là tự nhiên trở thành ý thức. Ngược lại, ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo về thế giới, do nhu cầu cải biến giới tự nhiên của việc con người quyết định và được thực hiện thông qua hoạt động lao động. Bên cạnh đó, trong quá trình tiến hóa không ngừng, dần dần con người không chỉ ý thức về thế giới mà ở mức độ cao hơn con người có khả năng tự nhận thức về mình, tự xác định thái độ đối với bản thân, tự điều khiển, điều chỉnh hoàn thiện mình. “Ý thức học tập” của sinh viên? Trên cơ sở tổng hợp nhiều quan điểm khác nhau, có thể định nghĩa ý thức học tập là sự nhận thức về tầm quan trọng và giá trị của việc học tập.
Từ đó tạo ra một thái độ tích cực sẵn sàng học hỏi, khám phá, nghiên cứu và phát triển kiến thức cũng như kỹ năng. Ý thức học tập bao gồm khả năng tự tìm kiếm tri thức, nhận biết và hiểu rõ mục tiêu học tập cá nhân, có trách nhiệm và cống hiến để đạt được mục tiêu đó. Ý thức học tập cũng bao gồm khả năng phân tích và đánh giá thông tin, áp dụng kiến thức vào thực tế, khả năng thích nghi và học hỏi từ các trải nghiệm và thất bại. Đồng thời, ý thức học tập còn thể hiện thông qua sự phát triển các kỹ năng học tập như kỹ năng nghiên cứu, phân tích, suy luận, nhận biết và kiểm tra kiến thức, kỹ năng xã hội như giao tiếp, cộng tác và lãnh đạo.
Ngoài ra, theo từ điển Anh – Việt ý thức học tập (learning awareness) được định nghĩa ngắn gọn là khả năng tự giác trong quá trình đạt được sự hiểu biết, kiến thức, hành vi, kỹ năng, giá trị, thái độ và sở thích mới. Đối với sinh viên, ý thức học tập còn biểu hiện qua sự cam kết nỗ lực học tập, chú trọng và tập trung vào việc nắm bắt kiến thức, tham gia tích cực vào các hoạt động học tập, thúc đẩy sự tự rèn luyện và phát triển cá nhân, và đánh giá và phản hồi đúng đắn về bản thân. Trong quá trình học tập sinh viên cần có ý thức coi trọng tính kỷ luật, thực hiện các nhiệm vụ và bài tập đúng hạn, tích cực tham gia vào thảo luận và trao đổi với giảng viên và bạn cùng lớp; Biết cách tìm kiếm, tận dụng các nguồn tư liệu và tài liệu học tập, áp dụng các phương pháp và công cụ học tập hiệu quả. Lý thuyết về tác động của mạng xã hội tới ý thức học tập của sinh viên 1.
Lý thuyết lựa chọn hợp lý (Rationl choice theory) Lý thuyết về lựa chọn hợp lý là một đề xuất nảy sinh trong khoa học xã hội được áp dụng đặc biệt cho kinh tế học, nhưng đã được chuyển sang phân tích hành vi con người. Tiền đề cơ bản của lý thuyết lựa chọn hợp lý là các quyết định được thực hiện bởi các tác nhân cá nhân. Lý thuyết cũng giả định rằng các cá nhân có sẵn các lựa chọn thay thế lựa chọn sở thích. Các tùy chọn này được giả định là hoàn chỉnh và có tính bắc cầu.
Sự hoàn chỉnh đề cập đến việc cá nhân có thể nói họ thích lựa chọn nào hơn (tức là cá nhân thích A hơn B, B hơn A hoặc thờ ơ với cả hai). Ngoài ra, tính nhạy cảm là khi cá nhân yêu thích lựa chọn A hơn B và yêu thích lựa chọn B hơn C, dẫn đến kết luận rằng cá nhân yêu thích A hơn C. Sau đó, tác nhân hợp lý sẽ thực hiện phân tích lợi ích của riêng họ bằng cách sử dụng nhiều tiêu chí để thực hiện sự lựa chọn hành động tốt nhất do họ tự quyết định. Do đó, lý thuyết tập trung vào yếu tố quyết định sự lựa chọn cá nhân (cá nhân luận).
Lý thuyết lựa chọn hợp lý đã đề xuất rằng có hai kết quả của hai lựa chọn liên quan đến hành động của con người. Thứ nhất, khu vực khả thi sẽ được chọn trong tất cả các hành động có thể và liên quan. Thứ hai, sau khi phương án ưu tiên đã được chọn, khu vực khả thi đã được chọn sẽ được chọn dựa trên các hạn chế về tài chính, pháp lý, xã hội, thể chất hoặc tình cảm mà chủ thể đang phải đối mặt. Sau đó, lựa chọn sẽ được thực hiện dựa trên thứ tự ưu tiên.
Khái niệm về tính hợp lý được sử dụng trong lý thuyết lựa chọn hợp lý khác với cách sử dụng thông tục và triết học của từ này. Theo nghĩa này, hành vi “hợp lý” có thể đề cập đến “hợp lý”, “có thể dự đoán được” hoặc “một cách chu đáo, rõ ràng”.