Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Các hợp chất depsidone là nhóm hợp chất thứ cấp có nguồn gốc tự nhiên, phổ biến trong các loài địa y, thu hút sự quan tâm lớn trong hóa học hữu cơ và hóa dược nhờ sở hữu nhiều hoạt tính sinh học giá trị như kháng khuẩn, kháng nấm, chống oxy hóa, ức chế enzyme estrogen và ngăn cản quá trình phân bào. Những đặc tính này mở ra triển vọng ứng dụng các dẫn xuất depsidone trong nghiên cứu và phát triển thuốc điều trị ung thư, đặc biệt là ung thư vú và ung thư buồng trứng.

Quá trình khảo sát loài địa y Parmotrema sp. cho thấy protocetraric acid (tên khoa học: 4-formyl-3,8-dihydroxy-9-hydroxymethyl-1,6-dimethyl-11-oxo-11H-dibenzo[b,e][1,4]dioxepin-7-carboxylic acid) là một thành phần chính của loài này. Mặc dù sở hữu khung cấu trúc depsidone với nhiều nhóm chức hoạt động (nhóm carboxyl, aldehyde, phenolic hydroxyl và hydroxymethyl), các phản ứng điều chế dẫn xuất ester của protocetraric acid cho đến nay vẫn ít được nghiên cứu do nguồn cung tự nhiên còn hạn chế. Nhằm tìm kiếm các hợp chất mới có tiềm năng hoạt tính sinh học từ nguồn nguyên liệu sẵn có trong địa y Việt Nam, đề tài tập trung khảo sát phản ứng ester hóa trên khung phân tử này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  1. Ly trích và tinh chế nguyên liệu protocetraric acid từ loài địa y Parmotrema sp.
  2. Khảo sát phản ứng ester hóa giữa protocetraric acid với một số carboxylic acid đơn chức bao gồm: benzoic acid, gyrophoric acid, trans-cinnamic acid và các dẫn xuất của trans-cinnamic acid (trans-4-methylcinnamic acid, (E)-$\alpha$-methylcinnamic acid, trans-4-methoxycinnamic acid, trans-4-nitrocinnamic acid) dưới xúc tác acid Lewis ($AlCl_3$).
  3. Cô lập và tinh chế các sản phẩm tạo thành bằng phương pháp sắc ký bản mỏng (TLC) và sắc ký cột cổ điển.
  4. Biện luận, xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất điều chế được thông qua các phương pháp phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR: $^1H$-NMR, $^{13}C$-NMR, HSQC, HMBC) và đề xuất cơ chế cho các phản ứng chuyển hóa bất thường ghi nhận được.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hợp chất protocetraric acid tinh khiết được phân lập từ địa y Parmotrema sp. và các tác chất carboxylic acid mạch thơm/dẫn xuất cinnamic acid; xúc tác $AlCl_3$; dung môi dimethyl sulfoxide (DMSO).
  • Phạm vi nghiên cứu: Phản ứng biến tính hóa học quy mô phòng thí nghiệm tại Bộ môn Hóa Hữu cơ, Khoa Hóa học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh; đo và phân tích dữ liệu phổ tại Phòng Phân tích Trung tâm, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh trong năm 2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của đề tài tập trung vào hóa học các hợp chất depsidone – phân nhóm phenolic đặc trưng cấu tạo từ hai phân tử phenol liên kết với nhau qua một cầu nối ester và một cầu nối ether. Các dẫn xuất depsidone tiêu biểu được đề cập bao gồm physodic acid, corynesidone, stictic acid, và triacetylvittatolic acid. Văn bản tổng kết các hướng biến tính nhóm chức đã được thực hiện trước đây trên depsidone:

  • Phản ứng ester hóa nhóm -COOH bằng các tác chất alkyl hóa như diazomethane ($CH_2N_2$) trong ether hoặc iodomethane ($CH_3I$) trong môi trường kiềm (Culberson, Hirayama, Chomcheon).
  • Phản ứng tổng hợp toàn phần protocetraric acid qua 13 giai đoạn từ methyl 2,4-dihydroxy-3,6-dimethylbenzoate (Tony Sala và Melvyn V. Sargent, 1981).
  • Các phản ứng trên nhóm chức của protocetraric acid: hydro hóa xúc tác $Pd/C$ tạo hydroprotocetraric acid (Asahina và Tukamoto, 1933); phản ứng tạo dẫn xuất phenylhydrazone, thiosemicarbazone, benzimidazole tại nhóm formyl (Josef Klosa, 1952); phản ứng ester hóa tại nhóm alcol bậc một C-8' (dẫn xuất monopropionyl của Klosa 1952, monomalonyl của Keogh 1977); phản ứng ether hóa alcol bậc một với các alcol đơn chức (Asahina, Tanase, Klosa, Trần Thị Quỳnh Hoa).

Phương pháp thực nghiệm và kỹ thuật phân tích được sử dụng:

  • Phương pháp tổng hợp hóa học: Phản ứng ester hóa trực tiếp giữa protocetraric acid (0,0267 mmol) và lượng dư carboxylic acid (1,23 mmol, tỷ lệ mol 1:46; riêng gyrophoric acid dùng tỷ lệ 1:1) trong dung môi DMSO (1–2 mL) với xúc tác acid Lewis $AlCl_3$ (0,0825–1,1 mg), đun khuấy từ ở khoảng nhiệt độ 70–120°C trong thời gian từ 0,25 đến 6 giờ.
  • Phương pháp tách và tinh chế: Chiết lỏng - lỏng nhiều lần với dung môi ethyl acetate để loại triệt để dung môi DMSO; theo dõi tiến trình phản ứng và kiểm tra độ tinh khiết bằng sắc ký lớp mỏng silica gel Merck $60F_{254}$; tinh chế sản phẩm thô bằng sắc ký cột silica gel cổ điển với hệ pha động gồm n-hexane : ethyl acetate : acetone : acetic acid (tỷ lệ 10 : 1 : 0,2).
  • Phương pháp xác định cấu trúc: Đo phổ cộng hưởng từ hạt nhân trên máy Bruker Ultrashield 500 Plus (tần số 500 MHz cho phổ $^1H$-NMR và 125 MHz cho phổ $^{13}C$-NMR), sử dụng các dung môi deuterated như $DMSO-d_6$ và $Acetone-d_6$. Kết hợp các kỹ thuật phổ 1D ($^1H$, $^{13}C$) và phổ 2D tương quan dị hạch (HMBC, HSQC) để xác định vị trí liên kết và cấu trúc lập thể của các sản phẩm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học về định nghĩa, phân loại depsidone và tổng hợp các nghiên cứu về hoạt tính sinh học của nhóm hợp chất này (kháng khuẩn, kháng nấm, kháng tia UV, chống oxy hóa, ức chế enzyme aromatase và gây độc tế bào ung thư). Chương này đi sâu vào hợp chất trung tâm là protocetraric acid:

  • Tổng hợp dữ liệu hoạt tính sinh học của protocetraric acid so sánh với dẫn xuất tự nhiên fumarprotocetraric acid: protocetraric acid ức chế 6 dòng nấm (Aspergillus fumigatus, Candida albicans, Cryptococcus var. difluens, Fusarium oxysporum, Mucor mucedo, Paecilomyces variotii) và 6 dòng vi khuẩn, nhưng không ức chế 3 dòng tế bào ung thư thực nghiệm (Ehrlich carcinoma, Ehrlich sarcoma, Yoshida sarcoma); trong khi fumarprotocetraric acid có hoạt tính kháng 7 chủng vi khuẩn và 2 chủng nấm. Dẫn xuất 9'-O-methylprotocetraric acid từ địa y Cladonia convoluta cho thấy $IC_{50} > 100\ \mu g/mL$ trên một số dòng tế bào ung thư.
  • Tổng kết chi tiết các công trình chuyển hóa hóa học trong lịch sử trên protocetraric acid (khử hóa, ngưng tụ tạo dị vòng, ether hóa, ester hóa) và sơ đồ quy trình tổng hợp toàn phần 13 bước của Sala và Sargent.

Chương 2: Thực nghiệm

Chương 2 mô tả chi tiết nguồn gốc hóa chất (trans-cinnamic acid 99%, trans-4-methylcinnamic acid 99%, trans-4-methoxycinnamic acid 99%, trans-4-nitrocinnamic acid 97%, $AlCl_3\cdot6H_2O$ 97%, các dung môi tinh chế đạt độ sôi chuẩn) và trang thiết bị nghiên cứu.

Chương này trình bày chi tiết quy trình thực nghiệm cho 7 hệ phản ứng ester hóa với các carboxylic acid khác nhau, đồng thời tổng hợp các thông số khảo sát (thể tích DMSO, lượng xúc tác $AlCl_3$, nhiệt độ và thời gian) trong bảng điều kiện thực nghiệm:

Hệ phản ứng Carboxylic acid phản ứng Tỷ lệ mol (depsidone : acid) Lượng $AlCl_3$ (mg) Nhiệt độ (°C) Thời gian (h)
1a Benzoic acid 1 : 46 1,1 120 0,25
1b Benzoic acid 1 : 46 1,1 120 0,5
2a trans-Cinnamic acid 1 : 46 0,0825 90 3,0
2b trans-Cinnamic acid 1 : 46 0,55 100 1,0
2c trans-Cinnamic acid 1 : 46 0,0825 70 6,0
3 trans-4-Methylcinnamic acid 1 : 46 0,0825 90 3,0
4a trans-4-Methoxycinnamic acid 1 : 46 0,0825 80 3,0
4b trans-4-Methoxycinnamic acid 1 : 46 0,55 100 1,0
5 (E)-$\alpha$-Methylcinnamic acid 1 : 46 0,0825 80 5,0
6 trans-4-Nitrocinnamic acid 1 : 46 0,0825 80 6,0
7 Gyrophoric acid 1 : 1 0,0825 80 6,0

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương 3 là phần trọng tâm của khóa luận, trình bày chi tiết quá trình cô lập, tính chất cảm quan, độ tan, dữ liệu phổ NMR và biện luận cấu trúc cho từng sản phẩm thu được:

  1. Phản ứng với benzoic acid: Cô lập được 2 sản phẩm:

    • Pr.B2: Bột màu trắng, tan trong acetone, methanol, DMSO. Phổ $^1H$-NMR xuất hiện các tín hiệu của gốc benzoyl tại C-8' (5 proton thơm) và nhóm oxymethylene H-8' bị dịch chuyển về vùng từ trường thấp ($\delta_H\ 5,60\text{ ppm}$) so với protocetraric acid gốc. Kết hợp phổ $^{13}C$-NMR khẳng định Pr.B2 là dẫn xuất ester hóa tại vị trí hydroxyl bậc một (C-8') của protocetraric acid.
    • Pr.B1: Bột màu trắng; phổ NMR cho thấy sự dịch chuyển của nhóm methylene C-8' về phía trường thấp trên phổ $^{13}C$-NMR và trường cao trên phổ $^1H$-NMR. Tác giả kết luận Pr.B1 là sản phẩm dehydrate nội phân tử tại nhóm hydroxymethylene C-8' của protocetraric acid; hàm lượng Pr.B1 tăng lên khi tăng nhiệt độ phản ứng.
  2. Phản ứng với trans-cinnamic acid: Cô lập được sản phẩm Pm.C2 cùng hợp chất C3.

    • Phân tích phổ $^1H$-NMR của Pm.C2 cho thấy nhóm methyl H-9' dịch chuyển về vùng từ trường rất thấp, trong khi nhóm methylene H-8' lại dịch chuyển về trường cao hơn so với dẫn xuất ester thông thường của protocetraric acid.
    • Sản phẩm phụ C3 có dữ liệu phổ hoàn toàn trùng khớp với parmosidone A (một meta-depsidone).
    • Tác giả đề xuất cơ chế chuyển vị dưới tác dụng của acid Lewis $AlCl_3$: protocetraric acid (para-depsidone) chuyển hóa thành parmosidone A (meta-depsidone) qua 2 giai đoạn nối tiếp: (i) thủy phân liên kết ester của vòng depsidone, và (ii) phản ứng thế ái nhân nucleophile nội phân tử đóng vòng vào vị trí C-2 của nhân thơm A (được hoạt hóa nhờ hai nhóm rút electron mạnh là -COOR tại C-1 và -CHO tại C-3). Sản phẩm Pm.C2 chính là ester của parmosidone A với trans-cinnamic acid, được củng cố bằng tương quan HMBC giữa H-8' với C-2', C-3', C-4' và H-9' với C-1', C-5', C-6'.
  3. Phản ứng với trans-4-methylcinnamic acid: Cô lập được sản phẩm Pm.CM2 (chất bột trắng). Dữ liệu $^1H$-NMR và $^{13}C$-NMR tương đồng với Pm.C2, đồng thời xuất hiện thêm 1 nhóm methyl thơm tại $\delta_H\ 2,35\text{ ppm}$ (3H, s), 2 proton olefin tại $\delta_H\ 6,55\text{ ppm}$ ($d, J=16\text{ Hz}$) và 4 proton vòng thơm tại $\delta_H\ 7,24\text{ ppm}$ và $7,58\text{ ppm}$, chứng minh cấu trúc ester của trans-4-methylcinnamic acid với khung chuyển vị parmosidone A.

  4. Phản ứng với trans-4-methoxycinnamic acid: Phân lập được 3 hợp chất:

    • Pm.C4M1: Ester của trans-4-methoxycinnamic acid với parmosidone A (nhóm methyl H-9' xuất hiện tại $\delta_H\ 2,66\text{ ppm}$).
    • Pr.C4M1: Ester của trans-4-methoxycinnamic acid trực tiếp trên protocetraric acid (2 nhóm methyl tại $\delta_H\ 2,45\text{ ppm}$). Cả hai hợp chất đều có tín hiệu đặc trưng của gốc acid: nhóm methoxy tại $\delta_H\ 3,73\text{ ppm}$ (3H, s), 2 proton olefin tại $\delta_H\ 6,54\text{ ppm}$ ($d, J=16\text{ Hz}$), và 4 proton thơm dạng hệ $AA'BB'$ tại $\delta_H\ 6,91\text{ ppm}$ ($d, J=9\text{ Hz}$) và $7,63\text{ ppm}$ ($d, J=9\text{ Hz}$).
    • Pr.C4M2: Hợp chất có cấu trúc tạo vòng phức tạp. Phổ $^1H$-NMR cho thấy sự dịch chuyển của H-8' về vùng trường cao ($\delta_H\ 3,51\text{ ppm}$) và sự biến mất của nối đôi olefin trans ($C-7''=C-8''$), thay vào đó là các proton bão hòa tại $\delta_H\ 5,09\text{ ppm}$ (H-7'', $d, J=8\text{ Hz}$) và $\delta_H\ 3,05\text{ ppm}$ (H-8'', m). Phổ HMBC xác nhận tương quan của H-7'' và H-8' với C-2', minh chứng cho sự hình thành vòng 6 cạnh pyranose giữa nhân B và nhân C. Tác giả đề xuất cơ chế: dưới xúc tác $AlCl_3$, vị trí C-8' và 2'-OH của nhân thơm B chuyển hóa thành trung gian ortho-quinone methide, sau đó đóng vòng Diels-Alder nội phân tử với liên kết đôi của gốc trans-4-methoxycinnamoyl.
  5. Phản ứng với (E)-$\alpha$-methylcinnamic acid: Thu được sản phẩm Pr.C$\alpha$ (bột màu trắng). Phổ $^1H$-NMR và $^{13}C$-NMR ghi nhận tín hiệu của 1 nhóm methyl olefin tại $\delta_H\ 2,01\text{ ppm}$ (3H, s), 1 proton olefin tại $\delta_H\ 7,54\text{ ppm}$ ($1H, d, J=1\text{ Hz}$), nhóm oxymethylene H-8' dịch chuyển về $\delta_H\ 5,60\text{ ppm}$, xác định đây là sản phẩm ester hóa tại C-8' của protocetraric acid với (E)-$\alpha$-methylcinnamic acid.

  6. Phản ứng với gyrophoric acid: Thu được sản phẩm Pm.GXR1. Dữ liệu phổ $^1H$-NMR, $^{13}C$-NMR, HSQC và HMBC của hợp chất này tương đồng với khung parmosidone D, điểm khác biệt duy nhất là sự hiện diện của proton thơm H-1'' thay thế cho nhóm carboxyl ester tại C-1''. Tác giả đề xuất cơ chế tạo thành: gyrophoric acid dưới ảnh hưởng của nhiệt độ và acid Lewis $AlCl_3$ bị decarboxyl hóa giải phóng orcinol; sau đó phân tử orcinol vừa tạo thành tham gia phản ứng Friedel-Crafts alkyl hóa vào vị trí C-8' của phân tử parmosidone A (vốn được chuyển vị từ protocetraric acid).

Chương 4: Kết luận và đề xuất

Chương 4 tóm tắt các phát hiện thực nghiệm cốt lõi của khóa luận và đề ra 5 hướng nghiên cứu tiếp theo để mở rộng kết quả.


Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã đạt được các kết quả thực nghiệm cụ thể:

  • Thực hiện thành công phản ứng ester hóa protocetraric acid với nhiều carboxylic acid đơn chức khác nhau sử dụng xúc tác acid Lewis $AlCl_3$ trong dung môi DMSO.
  • Tổng hợp và phân lập thành công các dẫn xuất mới, bao gồm các ester thông thường trên khung protocetraric acid (Pr.B2, Pr.C4M1, Pr.C$\alpha$), sản phẩm tách nước (Pr.B1), các ester gắn trên khung chuyển vị parmosidone A (Pm.C2, Pm.CM2, Pm.C4M1), sản phẩm đóng vòng dị vòng pyranose qua trung gian ortho-quinone methide (Pr.C4M2), và sản phẩm alkyl hóa Friedel-Crafts ghép khung orcinol (Pm.GXR1).
  • Phát hiện và giải thích bản chất hiện tượng chuyển vị từ khung para-depsidone (protocetraric acid) sang khung meta-depsidone (parmosidone A) dưới xúc tác acid Lewis thông qua quá trình thủy phân - thế ái nhân nội phân tử.
  • Tất cả các hợp chất phân lập được đều được định danh và xác định cấu trúc đầy đủ bằng hệ thống phổ 1D-NMR ($^1H$, $^{13}C$) và 2D-NMR (HMBC, HSQC). Toàn bộ các dẫn xuất điều chế được trong khóa luận đều là những hợp chất mới chưa từng được công bố trong các tài liệu trước đó.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài (như tác giả đã chỉ rõ trong văn bản):

  • Chưa khảo sát toàn diện và tối ưu hóa hoàn toàn các điều kiện thực nghiệm để nâng cao hiệu suất chuyển hóa của từng phản ứng ester hóa.
  • Chưa ứng dụng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) để định lượng chính xác hiệu suất phản ứng trong hỗn hợp thô trước khi phân lập.
  • Điều kiện phản ứng và cơ chế chi tiết chi phối sự chuyển vị từ protocetraric acid sang parmosidone A chưa được khảo sát sâu về mặt động học và nhiệt động lực học.
  • Chưa tiến hành thử nghiệm hoạt tính sinh học (kháng khuẩn, kháng nấm, kháng ung thư) đối với các dẫn xuất mới điều chế được.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả đề xuất:

  • Tối ưu hóa hiệu suất phản ứng ester hóa và kết hợp phân tích HPLC để định lượng hiệu suất phản ứng.
  • Mở rộng khảo sát phản ứng chuyển vị cấu trúc trên các hợp chất depsidone tự nhiên khác như stictic acid và corynesidone.
  • Khảo sát các phản ứng hoàn nguyên trên khung phân tử protocetraric acid.
  • Thực hiện thử nghiệm hoạt tính sinh học trên các dẫn xuất tổng hợp được để đánh giá tiềm năng dược lý.
  • Nghiên cứu sâu hơn về khả năng tạo vòng và phản ứng ghép đôi thông qua trung gian ortho-quinone methide từ protocetraric acid.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Hóa Hữu cơ, Hóa Dược và Hóa học các Hợp chất Thiên nhiên quan tâm đến hóa học địa y (lichen substances) và chuyển hóa hóa học khung depsidone.
  • Các nhà nghiên cứu tổng hợp hữu cơ tìm kiếm giải pháp ứng dụng xúc tác acid Lewis ($AlCl_3$) trong phản ứng ester hóa các hợp chất thiên nhiên đa chức phức tạp, phản ứng chuyển vị mở vòng - đóng vòng depsidone và phản ứng tạo trung gian ortho-quinone methide.
  • Phần đáng tham khảo nhất trong công trình là Chương 3 và hệ thống Phụ lục phổ NMR: cung cấp chi tiết quy trình biện luận phổ 1D và 2D NMR thực tế (các độ dịch chuyển hóa học $\delta$, độ phân tách spin $J$, tương quan không gian HMBC/HSQC), minh họa rõ nét cách giải quyết bài toán cấu trúc khi xảy ra phản ứng chuyển vị hoặc tạo dị vòng phức tạp.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguồn nguyên liệu protocetraric acid sử dụng trong khóa luận được lấy từ đâu?
Hợp chất protocetraric acid được nhóm tác giả trực tiếp ly trích và tinh chế từ mẫu địa y tự nhiên thuộc chi Parmotrema sp. thu nhận tại Việt Nam.

2. Hiện tượng chuyển vị cấu trúc bất thường nào đã được phát hiện khi thực hiện phản ứng ester hóa protocetraric acid với trans-cinnamic acid dưới xúc tác $AlCl_3$?
Phản ứng không chỉ tạo ester thông thường mà còn phát hiện sự chuyển vị từ khung para-depsidone (protocetraric acid) sang khung meta-depsidone (parmosidone A, ký hiệu C3). Quá trình này diễn ra qua hai giai đoạn: thủy phân mở vòng liên kết ester depsidone ban đầu, sau đó nhóm hydroxyl phenol tấn công ái nhân (nucleophile) vào vị trí C-2 của nhân thơm A để đóng vòng mới dưới sự hỗ trợ của hai nhóm rút electron mạnh tại C-1 (-COOR) và C-3 (-CHO).

3. Hợp chất Pr.C4M2 được tạo thành qua cơ chế phản ứng đặc thù nào?
Dưới tác dụng của acid Lewis $AlCl_3$, vị trí nhóm hydroxymethyl C-8' và nhóm phenolic 2'-OH trên nhân B của protocetraric acid chuyển hóa nhanh thành trung gian kém bền ortho-quinone methide. Trung gian này sau đó tham gia phản ứng đóng vòng [4+2] kiểu Diels-Alder với liên kết đôi $C=C$ của tác chất trans-4-methoxycinnamic acid, tạo nên vòng 6 cạnh pyranose dung hợp giữa nhân thơm B và nhân thơm C.

4. Vai trò của gyrophoric acid trong phản ứng tạo ra hợp chất Pm.GXR1 là gì?
Trong phản ứng 7, gyrophoric acid đóng vai trò là tiền chất: dưới tác dụng của nhiệt độ (80°C) và xúc tác $AlCl_3$, gyrophoric acid bị phân cắt và decarboxyl hóa để sinh ra orcinol. Sau đó, phân tử orcinol mới sinh đóng vai trò tác nhân ái nhân tham gia phản ứng Friedel-Crafts alkyl hóa gắn trực tiếp vào phân tử parmosidone A tại vị trí C-8'.

5. Quy trình làm sạch và cô lập các sản phẩm ester trong nghiên cứu được tiến hành như thế nào?
Sau khi phản ứng kết thúc, hỗn hợp phản ứng được chiết lỏng - lỏng nhiều lần với dung môi ethyl acetate để loại bỏ hoàn toàn dung môi DMSO. Hỗn hợp thô sau khi đuổi dung môi được đem sắc ký cột silica gel cổ điển với hệ dung môi giải ly gồm n-hexane : ethyl acetate : acetone : acetic acid theo tỷ lệ thể tích 10 : 1 : 0,2.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ngô Thị Tuyết Nhung đã thực hiện thành công việc biến tính hóa học hợp chất protocetraric acid phân lập từ địa y Parmotrema sp. thành các dẫn xuất ester mới với nhiều loại carboxylic acid đơn chức dưới xúc tác acid Lewis $AlCl_3$. Nghiên cứu đã phát hiện và làm sáng tỏ cơ chế chuyển vị từ khung para-depsidone thành meta-depsidone (parmosidone A) cũng như phản ứng tạo dị vòng pyranose thông qua trung gian ortho-quinone methide. Toàn bộ các sản phẩm tạo thành đều được cô lập ở dạng tinh khiết và xác định cấu trúc rõ ràng bằng các phương pháp phổ cộng hưởng từ hạt nhân hiện đại, cung cấp dữ liệu thực nghiệm có giá trị cao cho lĩnh vực hóa học các hợp chất depsidone tự nhiên.