Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về văn hóa doanh nghiệp trong kinh doanh khách sạn Chương 3: Thiết kế nghiên cứu đề tài Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và khuyến nghị 16 Chương 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE VAN HÓA DOANH NGHIỆP TRONG KINH DOANH KHÁCH SẠN 2. Một số khái niệm cơ bản 2. Khái niệm khách sạn Vào cuối thé ky XVII thuật ngữ “Hotel” — khách sạn có nguồn gốc từ tiếng Pháp đã bắt đầu được sử dụng, sau đó thuật ngữ này được sử dụng lan rộng ra các nước khác va cho đến nay thì thuật ngữ này gần như đã được phổ biến khắp toàn cầu.
Mỗi một quốc gia, mỗi một khu vực lại có sự khác biệt về phong cách phục vụ cũng như mức độ phát triển của ngành kinh doanh khách sạn, do vậy định nghĩa về khách sạn cũng có sự khác nhau. Ở Việt Nam, thuật ngữ “khách sạn” đã được định theo góc nhìn khái quát. Theo Nguyễn Văn Mạnh & Hoàng Thị Lan Hương (2004), “khách sạn” là cơ sở cung cấp các dịch vụ lưu trú (với đầy đủ tiện nghĩ), dịch vụ ăn uống, phục vụ vui chơi giải trí và các dịch vụ cần thiết khác cho khách lưu lại qua đêm và thường được xây dựng tại các điểm du lịch [10, Tr 43]. Theo Điều 48 Luật Du Lịch (2017) “ Khách san (hotel) là cơ sở lưu trú du lịch, có quy mô từ mười buồng ngủ trở lên, bảo đảm chất lượng về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dich vụ cần thiết phục vụ khách lưu trú ”.
Còn theo TCVN 4391:2015, Tiêu chuẩn Quốc gia về xếp hạng khách sạn thì thuật ngữ “khách sạn” cũng được định nghĩa một cách ngắn gọn “ Khách sạn là cơ sở lưu trú được xây dựng thành khối, đảm bảo chất lượng về cơ sở vật chất, trang thiết bị và dịch cần thiết phục vụ khách lưu trú và sử dụng dịch vụ”. Như vậy có thê khái quát, kinh doanh khách sạn là hoạt động kinh doanh trên CƠ SỞ cung cấp các dịch vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ bố sung cho khách hàng nhằm đáp ứng các nhu cầu ăn, nghỉ và giải trí của họ tại các điểm du lịch nhằm mục đích mang lại lợi nhuận. Khái niém văn hóa doanh nghiệp 2. Khái niệm văn hóa Văn hóa là một khái niệm có nhiều quan niệm khác nhau và mang ý nghĩa nội hàm rộng lớn nó liên quan tới mọi mặt của đời sông con người vì vậy có rât 17 nhiều cách tiếp cận và góc nhìn khác nhau về văn hóa.
Để từ đó cũng hình thành nên rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa nhưng dường như không có một định nghĩa nào có thé hàm chứa hết sự phong phú, đa dang và phức tạp của văn hóa. Ngay đầu những năm 50 của thé ky 20, hai nhà nhân loại học của Mỹ là Kroeber và Kluchohn đã từng thống kê các định nghĩa về văn hóa trong các công trình nghiên cứu khoa học nổi tiếng thì đã có tới 164 định nghĩa khác nhau (Kroeber và Kluchohn, 1952) và đến nay thì con số này tiếp tục tăng lên [36, Tr 223]. Theo định nghĩa của Hồ Chí Minh: “ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở, và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa [11, Tr 431].
Theo tác giả Nguyễn Cảnh Bình (2006) đã đưa ra một khái niệm về văn hóa như sau: “ Nền văn hóa của chúng ta giống như nước đối với cá. Nó duy trì sự sống cho chúng ta. Chúng ta sống và hít thở trong nó. Những gì mà nền văn hóa này rất coi trọng có thé là cấp độ của sự giàu sang, thì có thé lại không có nhiều ý nghĩa trong một nền văn hóa khác” [1, Tr 23].
Hay theo định nghĩa của Tran Ngoc Thêm (2007) “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [17, Tr 25]. Trên thế giới cũng có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa. Theo UNESCO (2001): “Văn hóa là tổng thé những nét riêng biệt tin thân và vật chat, trí tuệ và cảm xúc, quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng.
Văn hóa đem lại cho con người ta khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hóa ma con người tự thể hiện, ý thức được bản thân mình tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra dé 18 xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân” [22]. Có thê thấy dù tiếp cận ở góc độ nào thì các quan niệm khác nhau đó về văn hóa đều hàm ý những điểm chung nhất định: Văn hóa là một hệ thống mà mọi người đều chia sẻ về những thứ do con người tạo ra, các biểu tượng huyền thoại , các phong tục tập quán, giá trị đặc biệt là niềm tin và các quan niệm tạo thành các chuẩn mực chi phối hành vi, ứng xử của con người.
Văn hóa được sinh ra và phát triển trong mối quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên xung quanh. Văn hóa có tính chất đặc thù của một khu vực cụ thể và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa và được tái tạo và phát triển theo tiến trình lịch sử trong sự tương tác giữa con người với môi trường. Khái niệm văn hóa doanh nghiệp Các nghiên cứu về VHDN được coi là bắt nguồn từ sự phát triển sâu hơn của các nghiên cứu về văn hóa tổ chức. Mặc dù mới bắt đầu được sử dụng rộng rãi từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX nhưng trên thực tế thuật ngữ “Văn hóa doanh nghiệp” (corporate culture) đã được các nhà quản tri, các nhà nghiên cứu sử dụng trong các bài phát biểu, các bài viết về xã hội học, về văn hóa nói chung hay văn hóa tổ chức nói riêng từ những năm đầu 1980.
Ý tưởng về một "môi trường doanh nghiệp” (organizational/corporate climate), nơi phan ánh các đặc trưng khác nhau của tô chức doanh nghiệp, là cách hiểu khá sơ khai của VHDN thậm chi đã có từ những năm 1970. Xuất phát từ chủ đề “văn hóa” có nhiều quan điểm và khái niệm khác nhau, nên cũng có nhiều khái niệm, định nghĩa khác nhau về VHDN. Khi đưa ra khái niệm về VHDN trên góc nhìn tổng quan mang tính khái quát: Deal và Kennedy (1988) cho rằng VHDN đơn giản là cách thức mà doanh nghiệp triển khai hoạt động kinh doanh của mình [27, Tr 56]. Là một trong những học giả đầu tiên đi sâu nghiên cứu về VHDN, Schneider (1988) cho rằng, VHDN là chất keo kết dính toàn bộ tổ chức lại với nhau băng cách cung cấp sự có kết và liên kết mach lạc giữa từng bộ phận nhỏ của doanh nghiệp.
Cũng theo ông, để các công ty đa quốc gia có thể kiêm soát, điêu phôi và thông nhât các bộ phận kinh doanh/ chi nhánh ở nhiêu nước 19 khác nhau thì các công ty này cần phải tìm hiểu sâu hơn về VHDN. Điều khó khăn là văn hóa của mỗi chi nhánh lại gan chat với văn hóa quốc gia của nước sở tại và văn hóa của các quốc gia lại khác nhau rất nhiều. Sự khác biệt này trên thực tế đã gây cản trở không ít cho việc điều hành hoạt động của các công ty đa quốc gia [50, Tr 231-246]. Cooke (1987), VHDN chính là hành vi của các thành viên mà họ tin rang cần phải phù hợp dé đáp ứng mong đợi trong tổ chức.
Do đó, dé một thành viên mới có thé làm việc hiệu quả, phát triển được trong doanh nghiệp thi thành viên đó phải tự điều chỉnh hành vi của mình sao cho hài hòa với “hành vi chung” được tô chức thừa nhận và các thành viên khác áp dụng [50, Tr 1299-1330]. Theo tác giả Dương Thị Liễu (2013), VHDN là toàn bộ các giá trị văn hóa như thói quen, chuẩn mực, giá trị, triết lý, mục tiêu, quan niệm, tập quán, truyền thống.được xây dựng trong suốt quá trình tổn tại và phát triển của doanh nghiệp, tạo nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp và được coi là truyền thống, bản sắc của mỗi doanh nghiệp [9, Tr 163]. Bên cạnh những khái niệm về VHDN mang tính khái quát và tong quan thì cũng có những khái niệm được đưa ra trong đó nhắn mạnh vào các yếu tố cau thành nên VHDN và sự tác động của những yếu tổ này tới tổ chức. Một số học giả, khi đưa ra khái niệm về VHDN đã nhắn mạnh đến ý nghĩa, tầm quan trong của các yếu tố, giá trị văn hóa vô hình trong doanh nghiệp.
Các yếu tô văn hóa vô hình trong doanh nghiệp có thể bao gồm: các giả định tinh thần, thái độ, thói quen, truyền thống, các triết lý, giá trị cốt lõi, quan niệm, niềm tin, kỳ vọng chung và thậm trí cả phương pháp tư duy, tôn tại phô biến trong doanh nghiệp; các yếu tố văn hóa vô hình này được toàn bộ các thành viên trong doanh nghiệp chia sẻ, thừa nhận và định hình thành những chuan mực hành vi ứng xử của họ và có xu hướng tự lưu truyền, thường là trong thời gian dài. Một số tác giả đưa ra quan niệm theo hướng này như: Theo Edgar Schein (2004): VHDN là tổng hợp những quan niệm chung mà các thành viên trong doanh nghiệp học được qua quá trình giải quyết các van đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường xung quanh [49, Tr 17]. Còn theo Ravasi & Schultz (2006): VHDN là tập hợp các giả định tinh thần được chia sẻ, cái sẽ định 20 hướng hoạt động của doanh nghiệp bằng cách xác định các phản ứng thích hợp của doanh nghiệp trong những tình huống kinh doanh khác nhau.