Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC 1. PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC VỚI TƯ CÁCH LÀ HÌNH THÁI Ý THỨC XÃ HỘI 1. Quan niệm về pháp luật Trong xã hội Cộng sản nguyên thủy chưa có pháp luật, phương tiện điều chỉnh các quan hệ giữa người và người khi đó là các quy tắc xã hội như: đạo đức, tập quán, tôn giáo. Các quy tắc xã hội trong xã hội Cộng sản nguyên thủy có những đặc điểm: Thể hiện ý chí chung của các thành viên trong xã hội, bảo vệ lợi ích cho tất cả thành viên trong xã hội.
Là quy tắc xử sự chung của cả cộng đồng, là khuôn mẫu của hành vi. Được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, dựa trên tinh thần hợp tác giúp đỡ lẫn nhau, mặc dù trong xã hội cộng sản nguyên thủy cũng đã tồn tại sự cưỡng chế nhưng không phải do một bộ máy quyền lực đặc biệt tổ chức mà do cả cộng đồng tổ chức nên. Những tập quán và tín điều tôn giáo lúc bấy giờ là những quy tắc xử sự rất phù hợp để điều chỉnh các quan hệ xã hội, bởi vì nó phản ánh đúng trình độ phát triển kinh tế - xã hội của chế độ cộng sản nguyên thủy, phù hợp với tính chất khép kín của tổ chức thị tộc, bào tộc, bộ lạc. Khi chế độ tư hữu xuất hiện và xã hội phân chia thành giai cấp, những quy tắc xã hội đó trở nên không còn phù hợp.
Trong điều kiện xã hội mới xuất hiện chế độ tư hữu, xã hội phân chia thành các giai cấp đối kháng, tính chất khép kín trong xã hội bị phá vỡ, các quy tắc phản ánh ý chí và bảo vệ lợi ích chung không còn phù hợp. Trong điều kiện lịch sử mới xã hội đòi hỏi phải có những quy tắc xã hội mới để thiết lập cho xã hội một “trật tự”, loại quy tắc mới này phải thể hiện được ý chí của giai cấp thống trị và đáp ứng nhu cầu đó pháp luật đã ra đời. Giai đoạn đầu giai cấp thống trị tìm cách vận dụng những tập quán có nội dung phù hợp với lợi ích của giai cấp mình, biến đổi chúng và bằng con đường nhà nước nâng chúng lên thành các quy phạm pháp luật. Bên cạnh đó các nhà nước đã nhanh chóng ban hành các văn bản pháp luật.
Bởi lẽ, nếu chỉ dùng các tập quán đã chuyển hoá để điều chỉnh các quan hệ xã hội thì sẽ có rất nhiều các quan hệ xã hội mới phát sinh trong xã hội không được điều chỉnh, vì vậy để đáp ứng nhu cầu này hoạt động xây dựng pháp luật của các nhà nước đã ra đời. Hoạt động này lúc đầu còn đơn giản, nhiều 6 khi chỉ là các quyết định của các cơ quan tư pháp, hành chính, sau dần trở nên hoàn thiện cùng với sự phát triển và hoàn thiện của bộ máy nhà nước. Như vậy pháp luật được hình thành bằng hai con đường: thứ nhất, nhà nước thừa nhận các quy phạm xã hội - phong tục, tập quán chuyển chúng thành pháp luật; thứ hai, bằng hoạt động xây dựng pháp luật định ra những quy phạm mới. Bản chất của pháp luật trước hết thể hiện ở tính giai cấp của nó, không có “pháp luật tự nhiên” hay pháp luật không có tính giai cấp.
Tính giai cấp của pháp luật biểu hiện ở chỗ, pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị, nội dung của ý chí đó đựơc quy định bởi điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp thống trị. Nhờ nắm trong tay quyền lực nhà nước, giai cấp thống trị đã thông qua nhà nước để thể hiện ý chí của giai cấp mình một cách tập trung thống nhất, hợp pháp hoá ý chí của nhà nước, được nhà nước bảo hộ thực hiện bằng sức mạnh của nhà nước. Tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện ở mục đích điều chỉnh của pháp luật. Mục đích của pháp luật trước hết nhằm điều chỉnh quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội.
Vì vậy, pháp luật là nhân tố để điều chỉnh về mặt giai cấp các quan hệ xã hội nhằm hướng các quan hệ xã hội phát triển theo một trật tự phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, bảo vệ củng cố địa vị của giai cấp thống trị. Với ý nghĩa đó, pháp luật chính là công cụ để thực hiện sự thống trị giai cấp. Mặt khác bản chất của pháp luật còn thể hiện thông qua tính xã hội của pháp luật. Tính xã hội của pháp luật thể hiện thực tiễn pháp luật là kết quả của sự “chọn lọc tự nhiên” trong xã hội.
Các quy phạm pháp luật mặc dù do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, tuy nhiên chỉ những quy phạm nào phù hợp với thực tiễn mới được thực tiễn giữ lại thông qua nhà nước, đó là những quy phạm “hợp lý”, “khách quan” được số đông trong xã hội chấp nhận, phù hợp với lợi ích của đa số trong xã hội. Giá trị xã hội của pháp luật còn thể hiện ở chỗ, quy phạm pháp luật vừa là thước đo của hành vi con người, vừa là công cụ kiểm nghiệm các quá trình, các hiện tượng xã hội, là công cụ để nhận thức xã hội và điều chỉnh các quan hệ xã hội, hướng chú ý vận động, phát triển phù hợp với các quy luật khách quan. Như vậy, Pháp luật là hệ thống các quy phạm pháp luật (quy tắc hành vi) do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp nắm quyền lực chính trị và phải phù hợp với thực tế khách quan của đời sống kinh tế - xã hội, có tính chất bắt 7 buộc chung và được thực hiện lâu dài, nhằm điều chỉnh quan hệ xã hội, được Nhà nước đảm bảo thực hiện và bảo vệ [14, tr. Pháp luật có các chức năng cơ bản sau: Chức năng điều chỉnh: Chức năng này được thể hiện ở chỗ, nó chấn chỉnh và đưa các quan hệ xã hội vào một trật tự nhất định, loại bỏ những quan hệ không phù hợp với lợi ích và tiến bộ xã hội, kích thích sự hình thành và phát triển của các quan hệ xã hội phù hợp với nhu cầu, tiến bộ xã hội, bảo vệ các quan hệ này khỏi mọi sự xâm hại.
Nói cách khác, pháp luật vừa làm nhiệm vụ trật tự hóa các quan hệ xã hội, đưa chúng vào những phạm vi khuôn mẫu nhất định, vừa tạo điều kiện cho các quan hệ xã hội phát triển theo chiều hướng mong muốn. Chức năng điều chỉnh của pháp luật được thực hiện thông qua các hình thức quy định cho phép, ngăn cấm, khuyến khích, quy định quyền nghĩa vụ qua lại giữa các bên. Chức năng bảo vệ: Pháp luật bảo đảm cho mọi quan hệ pháp luật điều chỉnh tránh khỏi sự xâm phạm. Pháp luật quy định các hành vi vi phạm và các biện pháp xử lý; quy định thẩm quyền, trình tự xử lý và thực hiện các quyết định xử lý.
Đó là chức năng bảo vệ của pháp luật. Chức năng giáo dục: Chức năng này được thực hiện thông qua sự tác động của pháp luật vào ý thức và tâm lý con người. Trong quá trình tác động đó, pháp luật hình thành ở con người những tư tưởng tình cảm nhất định, giáo dục con người tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật. Quan niệm về đạo đức Trong lịch sử phát triển tư tưởng nhân loại đã có nhiều quan niệm khác nhau về đạo đức: Ở phương Tây, danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng La tinh là mor (moris) - có nghĩa là lề thói, tập tục; sau này được phát triển thành môralis - lề thói, đạo nghĩa.
Còn từ “luận lý” được xem như đồng nghĩa với “đạo đức”; Từ gốc tiếng Hy Lạp cổ, đạo đức là Êthicos cũng có nghĩa như mor: lề thói, tập tục. Đó là những chuẩn mực chung nhằm điều chỉnh hành vi con người sao cho tạo nên mối quan hệ hài hòa giữa con người với nhau và giữa mỗi người với xã hội. Ở phương Đông, Khổng Tử quan niệm đạo đức là đường đi lối lại, là quy luật. Đức được quan niệm là luân thường mà con người phải tuân theo.
Đạo đức được quan niệm là luân thường đạo lý, là quan niệm về tốt, xấu, đúng sai. Con người phải làm 8 theo cái đúng, cái tốt, tránh những cái sai. Kinh Dịch lại cho rằng, đạo là con đường, là quy luật. Đức là mức độ tập trung đạo ở con người, đức là năng lực của con người vận dụng cho đúng quy luật.
Theo đó, đạo đức chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà con người phải tuân theo. Như vậy, phương Tây và phương Đông khi nói đến đạo đức là nói đến những lề thói, tập tục và nguyên tắc sống, biểu hiện mối quan hệ người với người, con người với xã hội, với tự nhiên,… Những lề thói, nguyên tắc trên sẽ dần dần trở thành những quy tắc, chuẩn mực đạo đức. Theo từ điển Triết học định nghĩa “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, một chế định xã hội thực hiện chức năng điều chỉnh hành vi của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội không trừ lĩnh vực nào” [17, tr. Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh đời sống đạo đức xã hội, là hệ thống những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá hành vi của con người trong quan hệ với nhau, quan hệ với xã hội, với tự nhiên, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, truyền thống và dư luận xã hội [13, tr.
Qua những định nghĩa nêu trên, đạo đức có thể được xem xét như sau: Thứ nhất: Đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, phán ánh hiện thực đời sống đạo đức xã hội. Xã hội học trước Mác không thể giải quyết một cách khoa học vấn đề nguồn gốc và thực chất của đạo đức. Nó xuất phát từ “mệnh lệnh của thượng đế”, “ý niệm tuyệt đối, lý tính trừu tượng”, bản tính bất biến của loài người,… không xuất phát từ điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, từ quan niệm xã hội hiện thực xã hội để suy ra toàn bộ lĩnh vực tư tưởng trong đó có tư tưởng đạo đức. Theo Mác và Ăngghen, trước khi sáng lập các thứ lý luận và nguyên tắc bao gồm cả triết học và luân lí học, con người đã hoạt động, tức là đã sản xuất ra các tư liệu vật chất cần thiết cho đời sống.
Ý thức xã hội của con người là phản ánh tồn tại xã hội của con người.