Chương 1 - Tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội khu vực nghiên cứu; - Chương 2 - Đối tượng, mục tiêu và phương pháp nghiên cứu; - Chương 3 - Kết quả nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của nước biển dâng do biến đổi khí hậu đến xâm nhập mặn sông Gianh, tỉnh Quảng Bình. TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Tỉnh Quảng Bình là một tỉnh nằm ven biển Bắc Trung Bộ, có diện tích tự nhiên 8.
Tỉnh có giới hạn bởi các tọa độ địa lý phần đất liền: - Điểm cực Bắc: 18º05ʹ12ʹʹ vĩ độ Bắc; - Điểm cực Nam: 17º05ʹ02ʹʹ vĩ độ Bắc; - Điểm cực Đông: 106º59ʹ37ʹʹ kinh độ Đông; - Điểm cực Tây: 105º3ʹ55ʹʹ kinh độ Đông. Tỉnh có bờ biển dài 116,04 km ở phía Đông và có chung biên giới với Lào 201,87 km ở phía Tây, phía Bắc tiếp giáp tỉnh Hà Tĩnh với chiều dài địa giới 136,5 km, phía Nam giáp tỉnh Quảng Trị với chiều dài địa giới 78,8km. Qua địa bàn Quảng Bình có Quốc lộ 1A và đƣờng Hồ Chí Minh, đƣờng sắt Bắc Nam, quốc lộ 12, tỉnh lộ 20 và 16 chạy từ Đông sang Tây. Tỉnh có cửa khẩu Quốc tế Cha Lo là cửa khẩu lớn nhất và một số cửa khẩu phụ khác nối liền với Nƣớc CHDCND Lào.
Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Bình 4 z 1. Đặc điểm địa hình Đặc điểm chung của địa hình Quảng Bình là hẹp, nơi hẹp nhất (tại Đồng Hới) theo chiều Đông - Tây chỉ xấp xỉ 50 km, dốc dần không đều từ phía Tây sang phía Đông, nhƣng sự phân bậc Tây - Đông không mang tính giảm dần. Vùng đồng bằng, vùng cửa sông có nơi chỉ cao hơn mặt nƣớc biển 2-3m, trong khi đó dải cồn cát ven biển lại cao hơn, thậm chí cao tới 40 - 50m. Cùng với sự phân hoá địa hình theo hƣớng Tây - Đông, địa hình theo hƣớng Tây - Nam cũng phân dị rõ rệt.
Các dạng địa hình thấp dần đi từ Bắc xuống Nam có hƣớng á vĩ tuyến. Bắc Quảng Bình là dãy Hoành Sơn - Đèo Ngang, vùng núi Minh Hoá cao 2000m, xuống đến Quảng Ninh núi cao nhất chỉ có 1. Sông Gianh là hệ quả đặc trƣng của đứt gãy Rào Nậy tạo nên bồn thu nƣớc lớn nhất. Về cấu trúc, 85% tổng diện tích tự nhiên Quảng Bình là vùng rừng núi và gò đồi, còn lại là vùng gò đồi và đồng bằng.
Địa hình Quảng Bình đƣợc chia thành 4 vùng rõ rệt: - Vùng núi: có tổng diện tích 5.236,16 km2 chiếm 65% diện tích tự nhiên, đƣợc chia thành 3 loại: vùng núi cao, vùng núi trung bình và vùng núi thấp. - Vùng đồi gò đồi , có diện tích 1.677,95km2, chiếm 19,7% tổng diện tích đất tự nhiên. Vùng gò đồi có độ cao từ 50m đến 250 m, độ dốc trung bình từ 30 trở lên. Vùng gò đồi Quảng Bình nằm trong địa giới 87 xã kéo dài theo chiều dọc của tỉnh.
Địa hình vùng gò đồi hẹp và dốc, dòng chảy các sông đều chạy theo hƣớng cắt ngang địa hình, nhiều dãy núi vƣơn ra tận bờ biển nên địa hình vùng gò đồi phức tạp và bị chia cắt tƣơng đối mạnh. Do đặc điểm bị chia cắt nên vùng gò đồi Quảng Bình tuy có kết dải nhƣng không thuần nhất. Trong từng tiểu vùng đồng thời tồn tại cả khu vực bồi tích và bào mòn. Các tính chất hoá lý của đất chênh lệch nhau rất xa.
- Vùng đồng bằng có tổng diện tích 866,90 km2 chiếm 10,95% diện tích đất tự nhiên. Nhìn chung dải đồng bằng Quảng Bình hẹp, nơi rộng nhất 26 km bề ngang, nơi hẹp nhất khoảng 10 km. Các đồng bằng liền dải chủ yếu là: đồng bằng Lệ Thuỷ, Quảng Ninh 248 km2, đồng bằng Quảng Trạch 161 km2. 5 z - Vùng ven biển chủ yếu là dải cát nội đồng hình lƣỡi liềm hay hình rẽ quạt có tổng diện tích 358,40 km2 chiếm 4% tổng diện tích đất tự nhiên, độ cao từ 3 - 4 mét đến 50 mét, phân bố suốt chiều dài bờ biển của tỉnh.
Vùng cát ven biển có chiều rộng và chiều cao tăng dần từ Bắc vào Nam, ở phía Bắc dải cát hẹp và thấp, có chiều rộng từ 300m đến 400m độ cao từ 5m đến 10m, càng về phía Nam dải cát càng mở rộng (từ 1 - 6km), có độ cao 17 - 20m, có đỉnh đạt đến độ cao 50m. Địa hình mặt dải cát rất phức tạp. Có thể phân chia thành 3 vùng chính: - Vùng phía Bắc tỉnh, giới hạn từ Mũi Dốc đến sông Gianh, là vùng kém phát triển, bề rộng dải cát từ 600 đến 1.500m, độ cao phổ biến 5m. Địa hình đơn giản, hình sống trâu, dốc về 2 phía.
- Vùng từ sông Gianh đến Lý Hoà. Bề rộng dải cát khoảng từ 600 đến 1.000m, độ cao phổ biến +10m, địa hình dạng sống trâu. - Vùng từ cửa Lý Hoà đến Nhật Lệ. Độ rộng tăng dần từ 1.800m, độ cao phổ biến tăng từ 10 - 20m.
Địa hình, địa mạo khá phức tạp với nhiều đồi cát cao và dài, mái dốc từ 50 - 600. - Vùng từ cửa Nhật Lệ đến giáp Vĩnh Linh, bề rộng 4 - 6 km, độ cao 30-40m có đỉnh cao 50m, nhiều dải cát dài nối liền nhau xen lẫn nhiều khối cát cao và bồn trũng. Địa hình phức tạp và thƣờng xuyên biến động do tác động ngoại lực của thời tiết khí hậu. Sự xuất hiện hệ thống cồn cát ven biển là yếu tố địa hình bất lợi nhiều mặt.
Dƣới tác động của gió, hiện tƣợng cát bay, cát chảy đã làm cho các cồn cát tiến dần về phía lục địa, thu hẹp đồng bằng ven biển vốn dĩ đã nhỏ bé lại càng nhỏ bé hơn, làm tăng tình trạng úng lụt vùng cửa sông, nhất là cửa sông Nhật Lệ. Đặc điểm khí hậu Quảng Bình Đặc điểm chung của khí hậu Quảng Bình là nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hƣởng sâu sắc của chế độ hoàn lƣu khí quyển nhiệt đới nhƣ dải hội tụ nhiệt đới, áp cao cận nhiệt đới, vừa chịu ảnh hƣởng của khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và 6 z miền Nam, một mùa chịu đăc trƣng nhiệt đới phía Nam và một mùa chịu đặc trƣng rét đậm phía Bắc. Do địa hình hẹp, bị chia cắt mạnh, núi gần sát với biển và ở vĩ độ thấp nên diễn biến khí hậu phức tạp, vừa có tính lục địa, vừa ảnh hƣởng của khí hậu biển, phản ánh sự giao tranh của khí hậu cả hai chiều Nam - Bắc, Đông - Tây. Các yếu tố khí hậu mang tính phân cực lớn.
Mỗi năm khí hậu chia làm 2 kỳ rõ rệt: mùa nắng nóng và mùa mƣa rét, đối lập với một chu kỳ hạn hán gay gắt là một chu kỳ ẩm độ rất cao. Mùa mƣa đi kèm với rét và bão, lụt. Mùa nắng đi liền với gió tây khô nóng (gió Lào) và hạn hán. Chế độ nhiệt Trị số nhiệt trung bình tăng dần từ Bắc vào Nam, từ điểm đầu là Tuyên Hoá (2306) đến điểm cuối là Lệ Thuỷ (2404) chênh nhau khoảng 10C trong cùng một thời điểm.
Mùa nóng bắt đầu từ tháng IV đến tháng X kéo dài khoảng 170 ngày. Mùa nóng Quảng Bình có nền nhiệt rất cao, nhiệt độ trung bình 290C. Biên độ nhiệt độ trong năm thƣờng 100C ở khu vực đồng bằng và 80C ở khu vực miền núi. Nhiệt độ mặt đất luôn cao hơn nhiệt độ không khí trung bình 2 - 30C.
Số ngày nắng trong năm có khi kéo đến 200 ngày. Nhiệt độ trung bình ngày nắng 25 0C - 270C, đối những ngày nắng cao (trên dƣới 30 ngày/ năm) nhiệt độ có thể lên tới 350C. Mùa lạnh có nhiệt độ trung bình ngày dƣới 200C kéo dài trong khoảng thời gian từ đầu tháng XI đến đầu tháng III năm sau. Thời gian rét đậm khoảng 60 ngày.
Đặc biệt, vào mùa lạnh có khảng 10 - 15 ngày rét đậm dƣới 100C. Trong khoảng 10 năm gần đây (1990 - 2000), thời gian rét rút xuống còn dƣới 60 ngày/năm. Mùa lạnh Quảng Bình chịu ảnh hƣởng mạnh mẽ khối không khí lạnh phía Bắc nhƣng nhiệt độ trung bình vẫn cao hơn các tỉnh phía bắc đèo Ngang. Chế độ mưa Quảng Bình có lƣợng mƣa lớn, trung bình 2.000mm/năm, nhƣng phân bố không đều.
7 z Mùa mƣa ở đồng bằng bắt đầu từ tháng VIII và kéo dài từ 4 đến 6 tháng, vùng núi mùa mƣa đến sớm hơn đồng bằng từ 2 đến 3 tháng. Ba tháng có lƣợng mƣa lớn nhất là tháng IX, X, XI với tổng lƣợng mƣa bằng 60% tổng lƣợng mƣa cả năm. Ba tháng có lƣợng mƣa nhỏ nhất là tháng II, III, IV, với tổng lƣợng mƣa chỉ có 130 đến 200mm, có tháng hầu nhƣ không có mƣa. Biểu trình mƣa có 2 cực đại.
Cực đại thứ nhất rơi vào tháng X với tổng lƣợng mƣa từ 600 đến 800mm (chiếm 30% tổng lƣợng mƣa cả năm). Cực đại phụ rơi vào tháng 5 hoặc tháng 6 với lƣợng mƣa 100mm (mƣa tiểu mãn). Cực tiểu rơi vào tháng III. Độ chênh lệch mƣa giữa các tháng rất cao.
Tháng mƣa cao nhất lên tới 668mm (tháng X - Lệ Thuỷ), trong khi có tháng không mƣa hoặc mƣa rất ít, dƣới 37mm (tháng II - Tuyên Hoá). Chế độ gió Mùa lạnh chịu ảnh hƣởng của gió mùa Đông - Bắc dƣới tác động của các đợt áp thấp từ phía Đông - Bắc về phía Tây - Nam. Gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng IX đến tháng III năm sau. Mùa nóng chịu ảnh hƣởng chủ yếu của gió Tây-Nam kéo dài từ tháng IV đến tháng VIII.
Những năm gần đây biên độ gió Tây-Nam không ổn định. Bình quân hàng năm có khoảng 30 đến 35 ngày có gió Tây-Nam. Mùa gió Tây-Nam là mùa gió đối nghịch tính chất với mùa gió từ vịnh Ben Gan qua lục địa Thái Lan và Lào trút mƣa phía tây dãy Trƣờng Sơn và hấp nhiệt đông Trƣờng Sơn đổ về duyên hải Bắc Trung Bộ nên bức xạ nhiệt rất lớn. Sông ngòi Quảng Bình Do lãnh thổ Quảng Bình hẹp về bề ngang, độ dốc lớn nên sông ngòi thƣờng ngắn, dốc, có hiện tƣợng đào lòng mạnh chảy theo hƣớng từ Tây sang Đông.
Thủy chế cũng theo 2 mùa rõ rệt, tƣơng ứng với mùa mƣa và mùa khô. Trong mùa mƣa, ở vùng đồi núi, sông suối có khả năng tập trung nƣớc rất nhanh, nhƣng lũ không kéo dài do khả năng thoát nƣớc tốt. Quảng Bình có mạng lƣới thuỷ văn khá dày, có tiềm năng lớn về thuỷ điện, thuỷ lợi, thuỷ sản và giao thông vận tải. 8 z Mật độ sông suối Quảng Bình đạt khoảng 0,6 - 1,85 km/km2 (Mật độ sông ngòi trung bình toàn quốc là 0,82 km/km2).
Mạng lƣới sông suối phân bố không đều, mật độ sông suối có xu hƣớng giảm dần từ Tây sang Đông.