phần Mở đầu và Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu, chƣơng này đề cập những nghiên cứu trong nƣớc và nƣớc ngoài liên quan đến BĐKH và xâm nhập mặn ở ĐBSCL, tỉnh Kiên Giang. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu và số liệu, chƣơng này trình bày số liệu và phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc sử dụng trong nghiên cứu của luận văn. Chƣơng 3: Kết quả và thảo luận, chƣơng này nhằm đánh giá ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu đến dòng chảy mùa cạn và diễn biến xâm nhập mặn tỉnh Kiên Giang. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan tỉnh Kiên Giang 1. Đặc điểm địa lý tự nhiên 1. Vị trí địa lý Kiên Giang nằm trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long, có đặc thù riêng biệt vừa có đồng bằng, có núi, có biển và có đảo. Tổng diện tích tự nhiên là 6.346,13 km2, bằng 1,90% diện tích cả nƣớc và 15,78% diện tích vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Chiều dài lớn nhất theo hƣớng Đông Nam - Tây Bắc khoảng 120 km, chiều rộng lớn nhất theo hƣớng Đông - Đông Tây khoảng 60 km.Kiên Giang nằm trong khoảng tọa độ địa lý: từ 101030’ đến 105032’ kinh độ Đông và từ 9023’ đến 10032’ vĩ độ Bắc. Bản đồ tỉnh Kiên Giang - Phía Đông Bắc giáp các tỉnh: An Giang, Cần Thơ và Hậu Giang. - Phía Nam giáp các tỉnh: Cà Mau và tỉnh Bạc Liêu. 6 z - Phía Tây Nam giáp vịnh Thái Lan.
- Phía Bắc giáp Campuchia với đƣờng biên giới dài 56,8 km. - Phần đất liền của Kiên Giang có chiều dài bờ biển hơn 200 km với hơn 100 cửa sông, kênh rạch thoát nƣớc ra biển. Ranh giới biển của Kiên Giang giáp với các nƣớc Campuchia, Thái Lan và Malayxia. Kiên Giang có 13 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 1 thành phố Rạch Giá, 1 thị xã Hà Tiên và 11 huyện (huyện Kiên Lƣơng, Hòn Đất, Tân Hiệp, Châu Thành, Giồng Riềng, Gò Quao, An Biên, An Vịnh, Vĩnh Thuận, Phú Quốc, Kiên Hải), trong đó có 2 huyện đảo: Phú Quốc và Kiên Hải với 140 hòn đảo lớn nhỏ nằm xa đất liền.
Vị trí địa lý của tỉnh Kiên Giang đƣợc thể hiện trong Hình 1. Địa hình, địa mạo Kiên Giang có địa hình đa dạng bao gồm bờ biển dài, nhiều sông núi và hải đảo. Diện tích tự nhiên của tỉnh là 634.613 ha với phần đất liền khoảng 573.075 ha và hải đảo là 61. Địa hình phần đất liền tƣơng đối bằng phẳng có hƣớng thấp dần từ Đông Bắc (độ cao trung bình 0,8 – 1,2 m) xuống Tây Nam (độ cao trung bình 0,2 – 0,4 m).
Đặc điểm địa hình này cùng với chế độ thủy triều biển Tây chi phối rất lớn đến khả năng tiêu úng vào mùa mƣa và diễn biến mặn của khu vực vào các tháng mùa khô. Có thể chia tỉnh Kiên Giang thành 4 vùng địa hình, địa mạo khác nhau: a. Vùng Tứ giác Long Xuyên Vùng Tứ giác Long Xuyên có diện tích tự nhiên khoảng 244.230 ha bao gồm các đơn vị hành chính: thị xã Hà Tiên, các huyện Hòn Đất, Kiên Lƣơng và một phần huyện Tân Hiệp, Châu Thành. Vùng Tứ giác Long Xuyên tiếp giáp với biên giới Campuchia và vịnh Thái Lan.
Địa hình có hƣớng dốc từ Tây Bắc sang Đông Nam, cao độ biến đổi từ 0,2 - 1,2 m, nơi cao nhất là dãi đất tiếp giáp Campuchia có độ cao 0,8 - 1,2 m, nơi thấp nhất là vùng từ phía Tây Rạch Giá - Hà Tiên có độ cao biến đổi từ 0,2 - 0,7 m. Ven biển Rạch Giá - Hà Tiên có rải rác các đồi núi thấp cặp với Quốc lộ 80 tạo nên 1 bờ viền ngăn nƣớc. Vùng Tây Sông Hậu Vùng Tây sông Hậu có diện tích tự nhiên khoảng 144.900 ha gồm các đơn vị hành chính: huyện Giồng Riềng, Gò Quao, một phần huyện Tân Hiệp, Châu Thành và thành phố Rạch Giá. Đặc điểm địa hình có hƣớng dốc dần từ Đông Bắc sang Tây Nam, độ cao biến đổi từ 0,2 - 0,8 m, nơi cao nhất là vùng phía Đông Tân Hiệp có độ cao từ 0,7 - 0,9m, nơi thấp nhất là ven sông Cái Lớn và Cái Bé có độ cao từ 0,2 - 0,4m.
Vùng bán đảo Cà Mau Diện tích tự nhiên khoảng 181.829 ha, gồm các huyện An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận và U Minh Thƣợng. Địa hình nghiêng dần về phía Tây, độ cao biến đổi từ 0,1 - 1,1 m, nơi cao nhất gần trung tâm VQG U Minh Thƣợng, nơi thấp nhất là vùng ven sông Cái Lớn có độ cao từ 0,1 - 0,4 m. Vùng này đƣợc giới hạn bởi sông Cái Lớn và tỉnh Cà Mau. Vùng đồi núi hải đảo Diện tích tự nhiên khoảng 63.174 ha, bao gồm 2 huyện Kiên Hải, Phú Quốc và một số đảo thuộc huyện Kiên Lƣơng.
Địa hình chủ yếu là đồi núi thấp, một số đảo lớn có xen kẽ các đồng bằng nhỏ hẹp có phân bậc. Độ dốc trung bình từ 15 – 200 m, có nơi trên 200 m, nơi cao nhất là 600 m, thấp nhất là 20 m. Đặc điểm của vùng này chủ yếu là những hòn đảo nhỏ nên địa hình ở đây mang đặc thù riêng của nó; ở phần giữa đảo thƣờng cao nhất và thoải đều dần 4 phía; riêng đảo Phú Quốc thì địa hình có phức tạp hơn và bị chia cắt bởi các sông, rạch; nơi có địa hình cao nhất là phía Bắc đảo và thấp dần về phía Nam đảo. Bản đồ địa hình tỉnh Kiên Giang 1.
Chế độ khí hậu 1. Nhiệt độ Nam Bộ nói chung và tỉnh Kiên Giang nói riêng có nền nhiệt độ cao nhất ở nƣớc ta, nhiệt độ trung bình năm tại Rạch Giá là 27,7oC. Biên độ năm của nhiệt độ vào khoảng 2 - 3,5oC, ở Kiên Giang không hình thành mùa nhiệt, tuy có chịu ảnh hƣởng phần nào của gió mùa đông bắc, nhƣng ngay cả tháng giêng là tháng có nhiệt độ thấp nhất trong năm cũng có nhiệt độ trung bình là 25,7oC. Trong năm, tháng 4 có nhiệt độ trung bình cao nhất tại Rạch Giá là 29,5oC.
Nhiệt độ trung bình tháng từ 1961-2016 tại trạm khí tƣợng (0C) Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Rạch Giá 25. Nhiệt độ trung bình các tháng trạm Rạch Giá 1. Mưa Là một tỉnh thuộc đồng bằng Nam Bộ, khí hậu ở Kiên Giang mang đầy đủ tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm đƣợc chia ra làm hai mùa rõ dệt: - Mùa mƣa từ tháng 5 đến tháng 11. - Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
Lƣợng mƣa phân bố không đều theo thời gian. Lƣợng mƣa giảm dần từ Đông sang Tây. Mùa mƣa, lƣợng mƣa chiếm từ 78% đến 98%, trug bình 92% tổng lƣợng mƣa trong năm. Các tháng mùa mƣa có lƣợng mƣa tháng trung bình từ 212 mm đến 389 mm.
Trong mùa mƣa, tuy có lƣợng mƣa lớn nhƣng cũng có thời kỳ mƣa ít hoặc không mƣa kéo dài từ 7 - 15 ngày gây hạn cho cây trồng trong tháng 6 hoặc tháng 7, mặt khác có năm, mùa mƣa đến sớm, nhƣng cũng có năm mùa mƣa đến muộn vào cuối tháng 5. Lƣợng mƣa trung bình tháng từ 1961-2016 tại các trạm (mm) Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm Rạch Giá 12.2 (Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu - IMHEN) 10 z Mùa khô, lƣợng mƣa chỉ từ 2% đến 22%, trung bình 8% tổng lƣợng mƣa trong năm. Các tháng mùa khô có lƣợng mƣa tháng trung bình từ 14 mm đến98 mm. Đánh giá chung Kiên Giang thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mƣa nhiều; có nền nhiệt cao, không phân hóa theo mùa.
Khí hậu ở Kiên Giang có những thuận lợi cơ bản mà các tỉnh khác ở phía bắc không có đƣợc nhƣ không có rét, không có bão đổ bộ trực tiếp, ánh sáng và nhiệt lƣợng dồi dào nên rất thuận lợi cho nhiều loại cây trồng và gia súc sinh trƣởng, phát triển quanh năm. Đặc điểm thủy văn 1. Mạng lưới sông suối Kiên Giang có một mạng lƣới thủy văn đa dạng và phong phú, chịu ảnh hƣởng trực tiếp hoặc gián tiếp của thủy triều biển Tây và chế độ dòng chảy trên sông Hậu. Tỉnh có hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày với tổng chiều dài hơn 2.054,93 km bao gồm sông rạch tự nhiên và kênh đào.
Sông rạch tự nhiên - Sông Cái Lớn: dài 44,8 km; sông này có hệ thống phụ lƣu nhƣ: Rạch ngã ba cái tầu, rạch nƣớc trong; rạch cái tƣ. Sông Cái Lớn cắt đứt dòng nƣớc ngọt từ sông Hậu về các huyện phía Nam nằm trong khu vực bán đảo Cà Mau; sông này có ý nghĩa giúp tiêu nƣớc trong mùa mƣa; không tƣới đƣợc vào mùa khô do nƣớc bị nhiễm mặn. - Sông Cái Bé: dài 58,2 km; sông này nhận nƣớc ngọt từ kinh Thác Lác và Thị Đội đổ về; đẩy lùi sự xâm nhập mặn của nƣớc mặn vào mùa khô. - Sông Giang Thành: bắt nguồn từ Campuchia và chảy đổ về vịnh Thái Lan ở Hà Tiên.
Vào mùa khô, sông này chịu ảnh hƣởng mạnh mẽ của thủy triều vũng vịnh Thái Lan gây ra sự nhiễm mặn, vào mùa mƣa con sông này có tác dụng tiêu nƣớc cho các cánh đồng trên thƣợng nguồn. Kênh đào Các kênh đào vùng TGLX nhƣ Vĩnh Tế, Tám Ngàn, Tri Tôn, Mỹ Thái - Mƣời Châu Phú, Ba Thê, Kiên Hảo, Rạch Giá - Long Xuyên, Kênh Tròn, Cái Sắn, đƣợc hình thành rất sớm nhằm phục vụ tƣới tiêu, giao thông thủy. Các đoạn kênh nằm trên địa phận tỉnh Kiên Giang đều có hƣớng chảy Đông Bắc - Tây Nam, bắt nguồn từ sông Hậu, chạy qua các tỉnh An Giang, Cần Thơ, rồi đổ vào kênh Rạch Giá - Hà Tiên, trƣớc khi đổ ra biển Tây. - Kênh Vĩnh Tế nằm ở phía bắc của vùng TGLX, nối từ sông Hậu tại Châu Đốc với biển Tây thông qua sông Giang Thành dài 67 km; đoạn từ Tịnh Biên đi Giang Thành đã đƣợc nạo vét và mở rộng.
Đây là một trong những tuyến thoát lũ và dẫn ngọt chủ yếu cho TGLX. Kênh Vĩnh Tế cũng là nguồn nƣớc mặt dùng trong sinh hoạt của ngƣời dân các xã biên giới thuộc huyện Giang Thành. - Kênh Trà Sƣ: Theo lời truyền dân gian, kênh này đƣợc đào trên cơ sở khai thông con rạch nhỏ có sẵn, vào những năm 1830-1850, để ngăn lũ núi, thau chua rửa phèn và dẫn nƣớc lũ phù sa phục vụ cho khai thác các cánh đồng còn hoang hóa thời bấy giờ thuộc khu vực Thới Sơn – Văn Giáo. Kênh có chiều dài 23km, rộng 10m và sâu trên 2m.