Chương 1. Cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật phòng, chống tham nh ng của cơ quan thanh tra cấp huyện Luan van 8 Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật phòng, chống tham nh ng của thanh tra quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật ph ng, chống tham nh ng của thanh tra quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội Luan van 9 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG CỦA CƠ QUAN THANH TRA CẤP HUYỆN 1.
Pháp luật về ph ng, chống tham nh ng 1. Khái niệm pháp luật về ph ng, chống tham nh ng Tham nhũng Khái niệm về “tham nh ng” hiện nay vẫn còn rất nhiều quan điểm khác nhau. Có thể kể đến một số khái niệm cơ bản như sau: Theo từ điển Tiếng Việt thì “Tham nh ng là lợi dụng quyền hành để nh ng nhiễu nhân dân và lấy của” [19]. Đây là một khái niệm tương đối đơn giản về một vấn đề hoàn toàn không đơn giản.
Quan niệm này phát từ chính bản thân cụm từ “tham nh ng” gồm hai yếu tố: tham và nh ng. Tham là hám lợi, tư lợi, vụ lợi. Nh ng là lợi dụng quyền hành, chức trách được giao để nhiễu sách, nh ng nhiễu nhằm thoả mãn lòng tham [19, tr. Theo Điều 2, Công ư c 1999 của Hội đồng châu Âu, “Tham nh ng là hành vi đ i hỏi, đề nghị, đưa hoặc nhận hối lộ hoặc một lợi ích khác hoặc hứa hẹn hối lộ hoặc lợi ích khác, trực tiếp hoặc gián tiếp, làm sai lệch sự thực hiện đúng đắn của bất kỳ chức trách hoặc hành vi theo nghĩa vụ nào của người nhận hối lộ, lợi ích khác hoặc hứa hẹn hối lộ và lợi ích khác đó” [9].
Theo ngân hang thế gi i, tham nh ng là sự “lạm dụng quyền lực công cộng nhằm lợi ích cá nhân” [12]; còn theo Tổ chức Minh bạch Thế gi i đưa ra khái niệm “tham nh ng là hành vi của người lạm dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc cố ý làm trái pháp luật để phục vụ cho lợi ích cá nhân” [12]. Ban Tổng thư ký Liên Hợp Quốc cho rằng: “Tham nh ng bao hàm: Hành vi của nh ng người có chức, có quyền ăn cắp, tham ô và chiếm đoạt tài sản của Nhà nư c. Lạm dụng chức quyền để trục lợi bất hợp pháp thông Luan van 10 qua việc s dụng các quy chế chính thức một cách không chính thức. Sự mâu thuẫn, không cân đối gi a các lợi ích chính đáng do thực hiện nghĩa vụ xã hội v i nh ng món tư lợi riêng” [13].
Theo Luật Phòng, chống tham nh ng năm 2018: “Tham nh ng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi” [26]. Theo đó, “Người có chức vụ, quyền hạn” được hiểu là người do bổ nhiệm, do bầu c , do tuyển dụng, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó” [26]. Như vậy, khái niệm tham nh ng theo pháp luật hiện hành đã được mở rộng hơn, không chỉ là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức nhà nư c mà còn gồm cả hành vi của người có chức vụ, quyền hạn trong các tổ chức xã hội, doanh nghiệp ngoài nhà nư c, nh ng người không phải là cán bộ, công chức. Hay nói cách khác, hành vi tham nh ng là nh ng hành vi không chỉ của người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan, tổ chức thuộc khu vực nhà nư c mà còn là hành vi của người có nhiệm vụ, quyền hạn trong cả các tổ chức thuộc khu vực ngoài nhà nư c.
Phòng, chống tham nhũng Theo từ điển Tiếng Việt: “ph ng ngừa là ph ng trư c không để cho cái xấu, cái không hay nào đó xảy ra” [19, tr.1005]; “chống là hoạt động ngược lại, gây trở lực cho hành động của ai đó hoặc cho tác động của cái gì” [19, tr. Do đó, phòng, chống tham nh ng bao gồm hai hoạt động là "Phòng ngừa tham nh ng" và "Phát hiện, x lý tham nh ng" nhằm thực hiện mục tiêu ngăn chặn, đẩy lùi được tình trạng tham nh ng. Phòng ngừa tham nh ng là biện pháp để đề ph ng, ngăn ngừa sự phát sinh các hành vi tham nh ng. Tùy theo hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội mà Luan van 11 mỗi quốc gia có cách thức, biện pháp phòng ngừa khác nhau.
Trong đó có biện pháp được xem là quan trọng và được nhiều quốc gia tổ chức thực hiện, đó là tăng cường tính công khai, minh bạch đối v i hoạt động của Nhà nư c; minh bạch tài sản, thu nhập của công chức; kiểm soát chặt chẽ tài sản, thu nhập của nh ng người có chức vụ, quyền hạn; cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ tin học vào quản lý; thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt; nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức; thực hiện tốt quy tắc ứng x , quy tắc đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp; tăng cường công tác quản lý nhà nư c, quản lý kinh tế - xã hội trên các lĩnh vực. Việc thực hiện các biện pháp này là cần thiết để đề ph ng, ngăn ngừa các hành vi tham nh ng nảy sinh trên thực tế. Song song v i phòng ngừa tham nh ng là phát hiện và x lý tham nh ng. Phát hiện tham nh ng là quá trình tìm ra các hành vi tham nh ng được thực hiện bởi các chủ thể cụ thể.
Đây là biện pháp quan trọng trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nh ng, thể hiện thái độ phản ứng của Nhà nư c đối v i hành vi tham nh ng. Do chủ thể tham nh ng thường là nh ng người có chức vụ, quyền hạn và một số trường hợp được ngụy trang bằng các thủ đoạn hết sức tinh vi, thậm chí c n được các công cụ quyền lực bảo vệ, che chắn, do đó việc phát hiện tham nh ng để x lý là rất khó khăn. Để phát hiện tham nh ng, các quốc gia trên thế gi i áp dụng nhiều cách thức, nhưng chủ yếu là việc thông quan cơ chế kiểm soát quyền lực của các nhánh quyền lực, trong đó, có nh ng công cụ phát hiện của Nhà nư c nhưng c ng có nh ng công cụ từ xã hội. Công cụ để phát hiện tham nh ng được nhiều quốc gia áp dụng thường là, thông qua hoạt động của các cơ quan chức năng, chuyên trách về phòng, chống tham nh ng như: Thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát.
Tham gia phát hiện tham nh ng c n có vai tr hết sức quan trọng của các cơ quan thông tấn, báo chí và việc tố cáo hành vi tham nh ng của công dân. Luan van 12 X lý hành vi tham nh ng là áp dụng các biện pháp trừng phạt của Nhà nư c đối v i người có hành vi tham nh ng. Việc x lý tham nh ng không chỉ có mục đích trừng trị người có hành vi tham nh ng mà c n có mục đích răn đe, giáo dục nh ng người khác để họ kiềm chế không thực hiện hành vi tham nh ng. Việc kết luận và x lý hành vi tham nh ng là trách nhiệm của các cơ quan chức năng được pháp luật quy định, theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ.
Tùy theo tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi tham nh ng mà các quốc gia quy định hình thức, biện pháp x lý người có hành vi tham nh ng khác nhau. Thông thường các nhà nư c thường áp dụng các biện pháp như: X lý kỷ luật, hành chính, kinh tế hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối v i nh ng người có hành vi tham nh ng, tùy theo mức độ vi phạm. Như vậy, có thể hiểu, phòng, chống tham nhũng là việc thực hiện các phương thức, biện pháp của các cơ quan có thẩm quyền để ngăn ngừa, hạn chế, đấu tranh chống chủ thể có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao nhiệm vụ, quyền hạn và lợi dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc nhiệm vụ được giao để vụ lợi [11]. Pháp luật về phòng, chống tham nhũng “Pháp luật là hệ thống các quy tắc x sự chung (quy phạm pháp luật) do nhà nư c ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, được nhà nư c bảo đảm thực hiện, kể cả bằng các biện pháp cưỡng chế, để điều chỉnh các quan hệ xã hội, duy trì xã hội trong một trật tự có lợi cho giai cấp thống trị” [30].
Để bảo đảm việc phòng, chống tham nh ng có hiệu quả và tuân theo một trật tự nhất định, Nhà nư c ban hành các quy định pháp luật nhằm phòng ngừa, phát hiện và x lý tham nh ng. Nhiệm vụ trọng tâm của pháp luật phòng, chống tham nh ng là xây dựng một cơ chế phòng ngừa tham nh ng Luan van 13 toàn diện và sâu rộng, qua đó góp phần xây dựng một cơ chế quản lý nhà nư c, quản lý xã hội công khai, minh bạch để “không thể tham nh ng”; đồng thời, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ cho việc ngăn chặn, phát hiện và x lý kịp thời các hành vi tham nh ng để “không dám tham nh ng”. Có thể hiểu, pháp luật về phòng, chống tham nhũng là tổng thể các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục, hình thức do pháp luật qu đ nh, nh m điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động phòng ngừa, phát hiện và l tham nhũng [11]. Đặc điểm pháp luật về ph ng, chống tham nh ng Thứ nhất, pháp luật về phòng, chống tham nh ng điều chỉnh nh ng quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động phòng ngừa, phát hiện, x lý tham nh ng bằng các phương pháp, cách thức điều chỉnh khác nhau, tùy theo tính chất, mức độ của các chủ thể có hành vi tham nh ng; đồng thời, quy định vai trò, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng, chống tham nh ng.
Thứ hai, các phương pháp điều chỉnh của pháp luật về phòng, chống tham nh ng mang tính quyền uy, phục tùng, buộc mọi chủ thể pháp luật phải tuân theo nhằm hạn chế, ngăn chặn, phòng ngừa, phát hiện, x lý hành vi tham nh ng để bảo vệ lợi ích của Nhà nư c, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.