CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ MÔI TRƯỜNG TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. TỔNG QUAN VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG MÔI TRƯỜNG 1. Môi trường Môi trường là khái niệm rất rộng, có nhiều định nghĩa khác nhau về môi trường. Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội.
Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người Theo Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam [Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường, 2014], môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật. Để thống nhất về mặt nhận thức khái niệm môi trường, đề tài sử dụng khái niệm môi trường trong “Luật bảo vệ môi trường” được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 23-06-2014, theo đó môi trường được định nghĩa như sau: “ Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật. Quản lý hoạt động môi trường 1. Quản lý nhà nước về hoạt động môi trường Môi trường là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội, có vai trò thiết yếu đối với con người và là thước đo cho sự phát triển bền vững.
Các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc điều hành và kiểm soát hoạt động môi trường trong một quốc gia. Quản lý nhà nước về hoạt động môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội. 15 Theo [Điều 139, Luật Bảo vệ môi trường], nội dung công tác quản lý nhà nước về hoạt động môi trường của Việt Nam bao gồm: - Ban hành và tổ chức việc thực hiện các văn bản pháp quy về bảo vệ môi trường, ban hành hệ thống tiêu chuẩn môi trường. - Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách bảo vệ môi trường, kế hoạch phòng chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường.
- Xây dựng, quản lý các công trình bảo vệ môi trường, các công trình có liên quan đến bảo vệ môi trường. - Tổ chức, xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc, định kỳ đánh giá hiện trạng môi trường, dự báo diễn biến môi trường. - Thẩm định các báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án và các cơ sở sản xuất kinh doanh. - Cấp và thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường.
- Giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường, giải quyết các khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về bảo vệ môi trường, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. - Đào tạo cán bộ về khoa học và quản lý môi trường. - Tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. - Thiết lập quan hệ quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Bên cạnh đó, quản lý nhà nước về hoạt động môi trường còn sử dụng một số công cụ kinh tế khác như: Thuế và phí môi trường, ký quỹ môi trường, trợ cấp môi trường. nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong hoạt động của tổ chức kinh tế, tạo ra các tác động tới hành vi ứng xử của nhà sản xuất nhằm hướng đến có lợi cho môi trường. Sử dụng hiệu quả các công cụ kinh tế trên có tác dụng điều chỉnh một cách tự giác hành vi bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp, khuyến khích việc nghiên cứu, triển khai kỹ thuật công nghệ mới có lợi cho bảo vệ môi trường, gia 16 tăng nguồn thu cho công tác bảo vệ môi trường và cho ngân sách nhà nước, duy trì và đảm bảo môi trường của các quốc gia ngày một tốt hơn. Quản lý hoạt động môi trường trong doanh nghiệp Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều có ảnh hưởng, tác động tích cực và tiêu cực đến môi trường và ngược lại môi trường cũng góp phần tạo nên những thuận lợi hay khó khăn trong việc sản xuất.
Trong quá trình sản xuất, kinh doanh các doanh nghiệp ngày càng chịu áp lực gia tăng từ phía cơ quan pháp luật, khách hàng, người lao động, ngân hàng… các doanh nghiệp phải thực hiện có trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường. Khách hàng, người tiêu dùng yêu cầu được tiêu dùng những sản phẩm “sạch” được sản xuất bởi các công nghệ thân thiện môi trường, người lao động yêu cầu được làm việc trong môi trường an toàn, vệ sinh hơn…Họ tạo ra các áp lực buộc các cơ quan pháp luật phải ban hành, kiểm soát nghiêm ngặt việc thực hiện quy định về môi trường, nhằm hạn chế những tác động tiêu cực do sản phẩm hay hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp gây ra với cộng đồng và môi trường. Những áp lực đó, buộc các doanh nghiệp phải quản lý hoạt động môi trường tại đơn vị. Việc quản lý hiệu quả hoạt động môi trường tại đơn vị sẽ giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro môi trường và gia tăng lợi nhuận trong tương lai.
Quản lý hoạt động môi trường trong các doanh nghiệp tập trung vào các vấn đề sau: Thứ nhất, tuân thủ yêu cầu của luật bảo vệ môi trường và các quy định về môi trường. Hiện nay, Hệ thống pháp luật quy định về bảo vệ môi trường đã điều chỉnh tương đối đầy đủ hoạt động môi trường trong doanh nghiệp. Các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đã quy định từ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, quyền và nghĩa vụ cơ bản của mỗi tổ chức, cá nhân trong khai thác, sử dụng và bảo vệ môi trường. Quản lý hoạt động môi trường trong doanh nghiệp hướng đến tuân thủ nghĩa vụ pháp lý của chủ thể trong việc bảo vệ môi trường.
17 Thứ hai, gia tăng hiệu quả từ hoạt động môi trường mang lại. Các doanh nghiệp nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề môi trường trong doanh nghiệp, đã thấy được lợi ích mà hoạt động bảo vệ môi trường mang lại, quản lý hoạt động môi trường tại đơn vị là cơ sở để đưa ra các quyết định nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, thực hiện có trách nhiệm đối với xã hội, nâng cao hình ảnh của doanh nghiệp, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. KẾ TOÁN CHI PHÍ MÔI TRƯỜNG TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. Khái quát chung về kế toán chi phí môi trường trong doanh nghiệp 1.
Khái niệm, bản chất của kế toán chi phí môi trường trong doanh nghiệp Chi phí môi trường (CPMT) Có nhiều khái niệm khác nhau về CPMT. Theo quan điểm truyền thống, CPMT được hiểu là các chi phí phát sinh để đảm bảo rằng DN hoạt động một cách có trách nhiệm với môi trường, bao gồm các chi phí làm sạch, chi phí cho vấn đề môi trường khi kết thúc hoạt động, chi phí kiểm soát ô nhiễm, chi phí cho các tổn hại môi trường. Theo Sổ tay kế toán chi phí môi trường do Bộ môi trường Áo (Austria) công bố năm 1997: Chi phí môi trường là các chi phí phát sinh do các hoạt động môi trường trong doanh nghiệp nó không những bao gồm chi phí của các hoạt động bắt buộc và tự nguyện nhằm giảm thiểu, ngăn ngừa, xử lý chất thải và chất ô nhiễm cho môi trường mà còn là phần thiệt hại mà doanh nghiệp phải gánh chịu do không xây dựng được chính sách môi trường. Theo Ủy ban phát triển bền vững của Liên hợp quốc (UNDSD, 2001): “Chi phí môi trường có thể hiểu là các chi phí gắn với thiệt hại môi trường và bảo vệ môi trường của doanh nghiệp.
Chi phí này bao gồm các chi phí để ngăn ngừa, tiêu hủy, lập kế hoạch, kiểm soát, thay đổi hành động và khắc phục những thiệt hại có thể xảy ra ở công ty và ảnh hưởng tới chính phủ và mọi người”. Theo Bộ Môi trường Liên bang Đức, “CPMT là thuật ngữ được sử dụng để chỉ các loại chi phí khác nhau có liên quan tới quản lý môi trường, các biện pháp 18 bảo vệ môi trường và các tác động môi trường. Các chi phí này có nguồn gốc từ các yếu tố chi phí, các bộ phận và mục đích sử dụng khác nhau”. Mặc dù được định nghĩa nhiều cách khác nhau nhưng các khái niệm trên đều thừa nhận CPMT là chi phí phát sinh từ hoạt động bảo vệ môi trường do các tác động tới môi trường từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
CPMT có một số đặc điểm đáng chú ý sau: CPMT có nguồn gốc từ quá trình tương tác giữa doanh nghiệp với môi trường trong quá trình sản xuất kinh doanh vì thế nó tồn tại ở mọi khâu trong suốt chuỗi giá trị của doanh nghiệp. CPMT gắn với việc khắc phục và phòng ngừa các thiệt hại môi trường hiện tại và tương lai có thể xảy ra do tác động của sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tới môi trường do đó các chi phí này có tính ngẫu nhiên cao. CPMT bao gồm cả chi phí bắt buộc và tự nguyện. Nó có thể tăng hoặc giảm thông qua nỗ lực bảo vệ môi trường của doanh nghiệp.
Kế toán chi phí môi trường Theo ủy ban Bảo vệ môi trường của Mỹ (USEPA) [37], kế toán môi trường nói chung là một khái niệm bao trùm ba lĩnh vực khác nhau: Kế toán môi trường của quốc gia, kế toán tài chính môi trường và kế toán quản trị môi trường trong doanh nghiệp. Kế toán tài chính môi trường trong doanh nghiệp là quá trình kế toán và lập các khoản mục nợ phải trả môi trường, chi phí môi trường trên báo cáo tài chính dựa trên các nguyên tắc kế toán được thừa nhận. Kế toán quản trị môi trường trong doanh nghiệp là quá trình nhận diện, thu thập và phân tích thông tin cơ bản về môi trường trong nội bộ đơn vị. Kế toán quản trị môi trường có thể được thiết lập phù hợp theo yêu cầu của nhà quản lý của đơn vị.