Tổng quan luận án
Vấn đề biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu đang đe dọa trực tiếp đến tiến trình phát triển bền vững của nhiều quốc gia, trong đó Việt Nam là một trong những địa bàn chịu tác động nghiêm trọng nhất, đặc biệt tại các dải duyên hải đất thấp. Trung bình mỗi năm, thiên tai và thời tiết cực đoan ảnh hưởng đến khoảng một triệu người dân tại Việt Nam. Tác động của BĐKH không mang tính trung tính về giới mà gắn liền với cấu trúc xã hội hiện hữu: nó làm trầm trọng thêm tình trạng bất bình đẳng giới và gia tăng nguy cơ bạo lực đối với phụ nữ. Mặc dù phụ nữ tham gia tích cực vào các hoạt động ứng phó thiên tai, địa vị của họ trong gia đình và ngoài xã hội vẫn có xu hướng suy giảm do khả năng tiếp cận hạn chế đối với các nguồn lực sinh kế thiết yếu và sự chi phối của các định kiến về vai trò giới truyền thống.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ thực tiễn hoạch định chính sách và nghiên cứu học thuật ở Việt Nam: các chính sách ứng phó BĐKH (như Chương trình mục tiêu Quốc gia ứng phó với BĐKH giai đoạn 2008–2015 hay Luật Phòng chống thiên tai năm 2013) nhìn chung còn thiếu hụt quy trình lồng ghép giới một cách thực chất, thiếu nguồn lực ngân sách chuyên biệt và chưa có hệ thống số liệu thống kê phân tách theo giới tính. Đa phần các nghiên cứu trước đây chỉ tiếp cận phụ nữ như một nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, mang tính thụ động chịu rủi ro, mà bỏ qua vai trò của họ như những tác nhân tích cực có khả năng thích ứng và tham gia quản lý rủi ro thiên tai.
Mục tiêu chung của nghiên cứu là phân tích tác động của BĐKH đối với mối quan hệ giới tại xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, tập trung vào ba khía cạnh: sự thay đổi quan hệ giới trong hoạt động sản xuất nông nghiệp; sự biến đổi quan hệ giới trong hoạt động phi sản xuất tại gia đình; và mức độ tham gia cùng vai trò ra quyết định của phụ nữ trong các hoạt động ứng phó BĐKH ở cấp độ cộng đồng.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 5 nội dung:
- Tổng quan các nghiên cứu đã có liên quan đến chủ đề nghiên cứu;
- Xây dựng cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu cho đề tài;
- Phân tích sự ứng phó với những tác động của BĐKH của phụ nữ và nam giới trong công việc sản xuất nông nghiệp;
- Phân tích sự ứng phó với BĐKH trong một số hoạt động phi sản xuất trong gia đình và sự tham gia của phụ nữ vào các hoạt động ứng phó BĐKH cấp cộng đồng;
- Nêu lên các hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy bình đẳng giới thông qua các can thiệp giảm thiểu tác động của BĐKH.
Ba câu hỏi nghiên cứu của luận án bao gồm:
- Sự phân công lao động trong hoạt động sản xuất của phụ nữ và nam giới thay đổi như thế nào dưới tác động của BĐKH?
- Phụ nữ và nam giới đã và đang ứng phó như thế nào với các tác động của BĐKH ở địa phương trong các hoạt động phi sản xuất trong gia đình?
- Sự tham gia của phụ nữ và nam giới trong các hoạt động ứng phó với BĐKH ở cấp cộng đồng diễn ra như thế nào?
Bốn giả thuyết nghiên cứu được kiểm chứng gồm:
- Phụ nữ và nam giới có trải nghiệm khác nhau trong hoạt động sản xuất nông nghiệp dưới tác động của BĐKH do quan niệm xã hội về phân công lao động cho phụ nữ và nam giới và sự bất bình đẳng hiện hữu trong cộng đồng. Phụ nữ có vai trò quan trọng trong hoạt động trồng trọt và chăn nuôi vì vậy là nhóm dễ bị thiệt thòi hơn so với nam giới khi bị tác động của BĐKH.
- BĐKH có khả năng làm tăng khối lượng công việc phụ nữ nhiều hơn nam giới. Do tác động của mối quan hệ bất bình đẳng giới hiện hữu, phụ nữ thường gặp nhiều khó khăn hơn so với nam giới vì họ được mong đợi đảm nhiệm công việc nội trợ và các hoạt động tái sản xuất khác trong gia đình.
- Phụ nữ phải dành nhiều thời gian hơn trong các hoạt động ứng phó với BĐKH trong khi không có sự thay đổi của nam giới trong các công việc nhà của gia đình và điều này ảnh hưởng đến sự tham gia các hoạt động ứng phó nói chung của phụ nữ trong các hoạt động dự án liên quan đến BĐKH ở cộng đồng.
- Trong quá trình ứng phó và đưa ra các quyết định ứng phó, tỉ lệ đại diện của phụ nữ trong các cơ chế ra quyết định ở cộng đồng còn thấp, điều này là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng việc đảm bảo đưa tiếng nói và kinh nghiệm của phụ nữ tham gia vào việc xây dựng và thực hiện các ứng phó với BĐKH và dễ làm sâu sắc thêm mối quan hệ bất bình đẳng giới.
Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề giới trong bối cảnh của biến đổi khí hậu (nghiên cứu trường hợp tại xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định).
Khách thể nghiên cứu: Phụ nữ và nam giới chịu tác động của BĐKH tại địa phương; chính quyền địa phương cấp xã Giao Xuân và huyện Giao Thủy; các ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh thuộc tỉnh Nam Định.
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Đây là xã ven biển thuộc vùng đệm của Vườn quốc gia Xuân Thủy, có gần 60% dân số tham gia nuôi trồng và khai thác thủy hải sản, có tuyến đê quốc gia dài 2,8 km ngăn cách khu dân cư với bãi triều rừng ngập mặn.
- Thời gian: Nghiên cứu thực hiện từ tháng 6 năm 2011 đến tháng 2 năm 2016; giai đoạn thu thập số liệu tập trung diễn ra từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 5 năm 2015.
- Nội dung: Tập trung vào mối quan hệ giới trong các hoạt động sinh kế sản xuất nông nghiệp, các hoạt động phi sản xuất trong gia đình và sự tham gia của phụ nữ vào quá trình ra quyết định ở cộng đồng nhằm ứng phó với BĐKH.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các quan điểm lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm từ quốc tế đến Việt Nam:
Về mối liên hệ giữa giới, môi trường và an ninh con người: Braidotti và cộng sự (1993) điểm lại phái nữ quyền sinh thái, phê phán việc đồng nhất cơ thể phụ nữ với tự nhiên làm củng cố bất bình đẳng xã hội. Sherry Ortner (1974, 1996) nghiên cứu nguyên nhân văn hóa dẫn đến địa vị phụ thuộc của phụ nữ gắn với yếu tố sinh học và môi trường tự nhiên. Irena Dankelman (2008, 2012) cùng Dankelman và Davidson (1998) phân tích khung an ninh con người (an ninh tồn tại, an ninh sinh kế, nhân phẩm), chỉ ra phụ nữ và nam giới có trách nhiệm khác nhau trong quản lý tài nguyên, nhưng vai trò của phụ nữ thường bị bỏ qua trong hoạch định chính sách. Neumayer và Plümper (2007) đưa ra bằng chứng thực nghiệm về tỷ lệ tử vong do thảm họa thiên nhiên ở phụ nữ cao hơn nam giới do bất bình đẳng kinh tế - xã hội. Enarson (2000) và WEDO (2007) chỉ ra các thách thức về địa vị giới trong thảm họa, đồng thời khẳng định năng lực chủ động của phụ nữ trong việc huy động cộng đồng ứng phó thiên tai.
Về thích ứng sinh kế gắn với quan hệ giới: Siri Eriksen và cộng sự (2005, 2014) khảo sát tại Kenya và Tanzania, chỉ ra chuyên môn hóa lao động phụ thuộc vào quan hệ giới: nam giới có khả năng dành thời gian liên tục cho lao động di cư hoặc công việc hưởng lương, trong khi phụ nữ bị ràng buộc bởi chức năng tái sản xuất gia đình. Ole Mertz và cộng sự (2009) nhận định các chiến lược thích ứng (chuyển đổi cây trồng, di cư) chịu sự tác động tổng hợp của các yếu tố kinh tế - xã hội hơn là phản ứng thuần túy trước BĐKH. Fraser Sugden và cộng sự (2014) khảo sát tại Nepal và Ấn Độ, ghi nhận khi nam giới di cư làm việc phi nông nghiệp, gánh nặng sản xuất và việc nhà đổ dồn lên phụ nữ, nhưng phụ nữ vẫn không có quyền kiểm soát nguồn tài chính gửi về do bị gia đình chồng nắm giữ.
Khung pháp lý và chính sách quốc tế: Luận án rà soát Chương trình nghị sự 21 (Agenda 21, Rio de Janeiro 1992, Chương 24); Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH (UNFCCC 1992) và Nghị định thư Kyoto (1997) - vốn ban đầu thiếu vắng góc nhìn giới; Kế hoạch hành động Johannesburg (2002); COP11 tại Montreal (2005); Công ước CEDAW (1979); Cương lĩnh hành động Bắc Kinh (1995, Mục K về Phụ nữ và Môi trường); Nghị quyết E/CN.8 21 của CSW phiên thứ 52 (2008); Hiệp ước Cancun (COP16, 2010); Quyết định 23/CP.18 (2012); Chương trình LIMA về giới (COP20, 2014); và 17 Mục tiêu phát triển bền vững (SDGs 2015).
Nghiên cứu và chính sách tại Việt Nam: Luật Bình đẳng giới (2006) và Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (2007) chưa đề cập trực tiếp đến BĐKH; Chiến lược quốc gia về phòng chống thiên tai (2007) và Luật Phòng chống thiên tai (2013) mới chỉ tiếp cận phụ nữ ở góc độ nhóm đối tượng yếu thế cần trợ giúp trong sơ tán hoặc chống rét. Về mặt thực nghiệm, báo cáo của ILO và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2013) cùng Ngân hàng Thế giới (2012) ghi nhận phụ nữ chiếm đa số trong khu vực lao động tự chủ, không chính thức và hộ kinh doanh cá thể. UNU-EHS (2008) chỉ ra áp lực môi trường thúc đẩy di cư thời vụ tại Đồng bằng sông Cửu Long. Hà Thị Vân Khánh và Resurreccion (2007) nhận thấy phụ nữ di cư thời vụ lên Hà Nội vẫn phải gánh vác nguyên vẹn trách nhiệm việc nhà khi quay về gia đình. Raksakulthai (2002), UNDP (2010), WHO và các báo cáo của LHQVN (2012) phân tích các rủi ro sức khỏe đặc thù theo giới (bệnh truyền nhiễm, tiêu chảy, lỵ, nhiễm trùng đường sinh sản sau ngập lụt). Oxfam (2006) tại Ninh Thuận ghi nhận phụ nữ ưu tiên các giải pháp đa dạng hóa thu nhập hơn hỗ trợ tài chính trực tiếp. Koos Neefjes (2002) phản ánh sáng kiến lập điểm giữ trẻ mùa lũ của phụ nữ Đồng bằng sông Cửu Long. MCD (2008, 2011), UNDP (2012) và Vũ Minh Hải (2004) chỉ ra tỷ lệ đại diện rất thấp của phụ nữ trong các ban chỉ huy phòng chống lụt bão và cơ chế ra quyết định tại địa phương, dù sự tham gia của họ giúp giảm thiểu tổn thất kinh tế cho gia đình và cộng đồng.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm xã hội học mang tính hệ thống tại một xã ven biển cụ thể ở Việt Nam (Giao Xuân) nhằm phân tích tác động hai chiều giữa BĐKH và bất bình đẳng giới, kiểm chứng xem BĐKH tác động làm thay đổi hay tái củng cố sự phân công lao động theo giới và cơ chế ra quyết định trong cả lĩnh vực sản xuất nông nghiệp lẫn đời sống gia đình và cộng đồng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Hệ thống khái niệm công cụ
- Biến đổi khí hậu: Định nghĩa theo Điều 1 Công ước UNFCCC (1992) và Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam. Luận án trích dẫn kịch bản BĐKH của Việt Nam: nhiệt độ trung bình nội địa dự báo tăng 2,5°C, ven biển tăng 1,5°C; lượng mưa mùa mưa tại Trung Bộ tăng khoảng 19% vào năm 2070; mực nước biển đã tăng 5 cm trong 30 năm qua, với các kịch bản dự báo tăng 9 cm (năm 2010), 33 cm (năm 2050), 45 cm (năm 2070) và đạt 1 m vào năm 2100; mùa bão có xu hướng dịch chuyển muộn hơn và lui dần về phía Nam.
- Thích ứng với biến đổi khí hậu: Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh thay đổi nhằm giảm tổn thương và tận dụng cơ hội. Luận án dẫn phân loại 8 nhóm thích ứng của IPCC (Nhóm công tác II), bao gồm: (1) Chấp nhận tổn thất, (2) Chia sẻ tổn thất, (3) Làm thay đổi nguy cơ, (4) Ngăn ngừa các tác động, (5) Thay đổi cách sử dụng, (6) Thay đổi, chuyển địa điểm, cùng các nhóm hành động khác liên quan đến khôi phục và nghiên cứu.
- Các khái niệm giới: Giảm nhẹ BĐKH, Bình đẳng giới, Quan hệ giới, Vai trò giới và Vấn đề giới.
Lý thuyết xã hội học vận dụng
- Lý thuyết giới và môi trường: Phân tích mối quan hệ giữa giới tính, quyền sở hữu, tiếp cận tài nguyên thiên nhiên và suy thoái môi trường.
- Các lý thuyết xã hội học về giới: Phân tích quá trình kiến tạo xã hội về vai trò giới, khuôn mẫu văn hóa và sự phân công lao động gia đình.
- Quan điểm giới về sự thích ứng với biến đổi khí hậu: Đánh giá năng lực thích ứng và mức độ dễ bị tổn thương dựa trên vị thế kinh tế, nguồn lực sinh kế và vị trí ra quyết định của các giới.
Khung phân tích
Khung phân tích của đề tài xác định 4 nhóm biến số độc lập tác động đến quan hệ giới:
- Bối cảnh dễ bị tổn thương (áp lực môi trường, suy thoái sinh thái do BĐKH);
- Cấu trúc/khuôn khổ văn hóa về vai trò và quan hệ giới (chuẩn mực xã hội, phân công lao động, quyền tiếp cận nguồn lực);
- Điều kiện kinh tế - xã hội địa phương (chính sách phát triển kinh tế, đặc điểm dân cư);
- Chính sách, chương trình can thiệp về BĐKH và Bình đẳng giới.
Bốn nhóm yếu tố này tác động trực tiếp lên ba lĩnh vực thực nghiệm:
- Mối quan hệ giới trong hoạt động sản xuất nông nghiệp;
- Mối quan hệ giới trong hoạt động phi sản xuất trong gia đình;
- Sự tham gia và lãnh đạo của phụ nữ và nam giới cấp cộng đồng trong ứng phó BĐKH.
Kết quả tương tác thể hiện mức độ bình đẳng giới và khả năng thích ứng của phụ nữ và nam giới đối với BĐKH.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng:
- Phân tích tài liệu thứ cấp: Các văn bản chính sách, báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2008–2014), Kế hoạch hành động ứng phó BĐKH tỉnh Nam Định (2015–2020), niên giám thống kê và báo cáo kinh tế - xã hội của xã Giao Xuân.
- Điều tra bằng bảng hỏi: Thu thập dữ liệu khảo sát từ các chủ hộ và thành viên gia đình tại xã Giao Xuân theo mẫu đại diện xã hội học (cơ cấu nghề nghiệp, mức sống, phân chia thời gian, phân công lao động).
- Phỏng vấn sâu: Thực hiện với đại diện chính quyền xã Giao Xuân, lãnh đạo các ban ngành huyện Giao Thủy và tỉnh Nam Định, cán bộ Hội Phụ nữ và các cá nhân phụ nữ, nam giới chịu tác động trực tiếp tại địa bàn.
- Thảo luận nhóm tập trung (FGD): Tổ chức các nhóm thảo luận riêng biệt giữa phụ nữ và nam giới để thu thập góc nhìn đa chiều về rủi ro thiên tai, gánh nặng công việc và rào cản tham gia cộng đồng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở tri thức hiện có về mối tương quan giữa giới và môi trường, các quan điểm về an ninh con người và tính dễ bị tổn thương. Chương này phân tích chi tiết tiến trình vận động chính sách quốc tế từ Hội nghị Rio 1992 đến Thỏa thuận Paris và SDGs 2015, nhấn mạnh vai trò của các tổ chức quốc tế (UNFCCC, WEDO, UNDP, CSW) trong việc đưa khía cạnh giới vào đàm phán khí hậu.
Tại Việt Nam, chương 1 đối chiếu thực trạng pháp lý, chỉ ra rằng dù có cam kết bình đẳng giới, các văn bản quản lý rủi ro thiên tai vẫn mang tính kỹ thuật công trình, thiếu sự lồng ghép giới chuyên sâu. Chương này tổng kết các nghiên cứu về sinh kế nông nghiệp, phân công lao động hưởng lương và tự chủ, di cư thời vụ, tác động sức khỏe và sự thiếu vắng tiếng nói của phụ nữ trong các cơ chế ra quyết định tại địa phương.
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 2 thiết lập nền tảng thao tác luận của luận án, xác định các khái niệm công cụ (BĐKH, giảm nhẹ, thích ứng, vai trò giới, định kiến giới). Chương này diễn giải ba hướng tiếp cận lý thuyết nền tảng: lý thuyết giới và môi trường, lý thuyết xã hội học về giới và quan điểm thích ứng có trách nhiệm giới.
Tác giả cụ thể hóa mô hình nghiên cứu qua khung phân tích 4 nhóm yếu tố bối cảnh tác động tới 3 chiều cạnh quan hệ giới thực nghiệm. Quy trình điều tra xã hội học được trình bày chi tiết từ khâu thiết kế công cụ (bảng hỏi khảo sát, khung hướng dẫn phỏng vấn sâu, hướng dẫn thảo luận nhóm) đến kỹ thuật chọn mẫu, xử lý dữ liệu và đạo đức nghiên cứu tại địa bàn xã Giao Xuân.
Chương 3: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ QUAN HỆ GIỚI TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
Chương 3 trình bày các đặc điểm địa bàn xã Giao Xuân (vùng đệm Vườn quốc gia Xuân Thủy, đê biển dài 2,8 km, gần 60% dân số sống dựa vào thủy hải sản). Xu hướng BĐKH tại đây biểu hiện qua tần suất bão mạnh, nước biển dâng, xâm nhập mặn, triều cường và nhiệt độ cực đoan thất thường, ảnh hưởng trực tiếp đến trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản.
Chương này tập trung phân tích sự phân công lao động theo giới trong sản xuất nông nghiệp:
- Trồng trọt và chăn nuôi nhỏ: Phụ nữ là lao động chính trong khâu gieo cấy, làm cỏ, chăm sóc, thu hoạch lúa màu và chăn nuôi gia súc, gia cầm. Khi thiên tai xảy ra (ngập mặn, hạn hán, dịch bệnh), khối lượng lao động của phụ nữ gia tăng do phải tăng cường chăm sóc, tìm nguồn thức ăn thay thế, xử lý đồng ruộng hư hại.
- Đánh bắt và nuôi trồng thủy sản: Nam giới đảm nhiệm các công việc đi biển xa bờ, đắp đầm, trông coi ao đầm ngoài bãi triều; phụ nữ phụ trách cào ngao bãi triều gần bờ, phân loại sản phẩm và buôn bán nhỏ.
- Ứng dụng khoa học kỹ thuật: Nam giới tiếp cận các khóa tập huấn kỹ thuật nuôi trồng công nghệ mới thuận lợi hơn phụ nữ do định kiến về chuyên môn và thời gian đi lại.
- Tác động của thiên tai: Khi mùa vụ thất bát, hộ gia đình phải xoay xở giải pháp tài chính (vay vốn ngân hàng, vay tư nhân). Phụ nữ chịu áp lực cắt giảm chi tiêu sinh hoạt, trong khi nam giới chịu áp lực tìm kiếm việc làm thuê mướn bên ngoài.
Chương 4: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ QUAN HỆ GIỚI TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG PHI SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
Chương 4 khảo sát mối quan hệ giới trong các sinh hoạt phi sản xuất, đời sống gia đình và sự tham gia công quyền tại xã Giao Xuân:
- Gánh nặng công việc gia đình: Khảo sát thời gian lao động trong ngày chỉ ra phụ nữ chịu gánh nặng kép. Khi có bão lớn và thời tiết khắc nghiệt, thời gian làm việc không hưởng lương của phụ nữ tăng vọt trong cả ba giai đoạn: trước bão (dự trữ lương thực, chằng chống vật dụng gia đình), trong bão (chăm sóc người già, trẻ nhỏ, nấu nướng trong điều kiện thiếu nước sạch và chất đốt), và đặc biệt là một tuần sau bão (dọn dẹp vệ sinh nhà cửa, xử lý bùn rác, giặt giũ, chăm sóc người đau ốm do dịch bệnh). Nam giới tập trung vào việc giằng chống mái nhà kiên cố, bảo vệ tàu thuyền rồi sau đó trở lại nghỉ ngơi hoặc đi làm ngoài.
- Định kiến văn hóa: Quan niệm việc nội trợ là "thiên chức của phụ nữ" vẫn phổ biến; nam giới ít chia sẻ việc nhà do e ngại định kiến xã hội.
- Sự tham gia vào các dự án ứng phó BĐKH: Phụ nữ tham gia đông đảo vào các buổi truyền thông, tập huấn của các tổ chức phi chính phủ (như dự án của MCD) hoặc các hoạt động dọn vệ sinh bãi biển do Hội Phụ nữ phát động. Tuy nhiên, mức độ tham gia chủ yếu dừng lại ở việc thực thi lao động trực tiếp, ít được tham vấn ý kiến khi xây dựng kế hoạch ứng phó của địa phương.
- Cơ chế ra quyết định và Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai: Trong cơ cấu Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn xã Giao Xuân cũng như cấp huyện, cấp tỉnh, các vị trí lãnh đạo chủ chốt do nam giới nắm giữ. Phụ nữ (đại diện là Hội Phụ nữ) thường chỉ được phân công nhiệm vụ hậu cần (chuẩn bị lương thực, chăm sóc y tế, thăm hỏi sau bão). Tiếng nói và kinh nghiệm bản địa của phụ nữ trong quản lý tài nguyên và chuẩn bị thiên tai chưa được tích hợp vào các kịch bản hành động khẩn cấp của chính quyền xã.
Bảng dưới đây tổng hợp phân loại 8 nhóm thích ứng với BĐKH theo báo cáo của IPCC (Nhóm công tác II) được luận án trích dẫn trong Chương 2:
| Nhóm thích ứng |
Đặc điểm can thiệp |
Phạm vi áp dụng thực tế |
| 1. Chấp nhận tổn thất |
Không thực hiện hành động can thiệp; chịu đựng rủi ro |
Vùng nghèo khó, thiếu kinh phí thích ứng |
| 2. Chia sẻ tổn thất |
San sẻ thiệt hại trong cộng đồng hoặc qua cơ chế tài chính |
Hỗ trợ dòng họ, cứu trợ cộng đồng, quỹ bảo hiểm |
| 3. Làm thay đổi nguy cơ |
Kiểm soát các mối đe dọa vật lý từ thiên tai |
Đắp đê biển, đào mương dẫn nước, giảm phát thải |
| 4. Ngăn ngừa tác động |
Điều chỉnh kỹ thuật nhằm chặn trước nguy cơ |
Tăng cường tưới tiêu, chuyển lịch mùa vụ, trừ sâu hại |
| 5. Thay đổi cách sử dụng |
Thay đổi phương thức kinh tế khi rủi ro quá lớn |
Chuyển đổi giống chịu hạn, chuyển đất lúa sang nuôi trồng |
| 6. Thay đổi, chuyển địa điểm |
Di dời hoàn toàn hoạt động kinh tế khỏi vùng rủi ro |
Di chuyển vùng canh tác, chuyển đổi nơi cư trú |
| 7. Khôi phục |
Phục hồi hệ thống kinh tế - xã hội sau tổn thất |
Tái thiết hạ tầng, vệ sinh môi trường sau bão |
| 8. Nghiên cứu |
Đo đạc, dự báo và tìm kiếm giải pháp mới |
Xây dựng kịch bản khí hậu, tập huấn kỹ thuật mới |
Bên cạnh đó, văn bản luận án phản ánh sự khác biệt về cơ cấu lao động tự chủ và lao động có trả lương theo giới (dẫn theo số liệu của ILO, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội năm 2013 và Ngân hàng Thế giới năm 2012):
| Chỉ tiêu việc làm |
Tỷ lệ ở Nữ giới (%) |
Tỷ lệ ở Nam giới (%) |
| Lao động tự chủ (ngoài nông nghiệp) |
26 |
19 |
| Lao động hưởng lương / được trả công |
24 |
41 |
| Lao động tự chủ phi nông nghiệp khu vực thành thị (bán hàng, dịch vụ) |
15 |
8 |
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về lý luận và thực tiễn của luận án
- Về mặt lý luận: Luận án vận dụng cách tiếp cận xã hội học về giới vào việc phân tích tác động của BĐKH tại một vùng nông thôn ven biển Việt Nam; kiểm chứng thực nghiệm luận điểm cho rằng BĐKH không trung tính về giới mà tương tác chặt chẽ với bất bình đẳng giới sẵn có. Kết quả nghiên cứu chứng minh tính dễ bị tổn thương cao của phụ nữ không đồng nghĩa với việc họ thụ động; trái lại, họ là những chủ thể thích ứng tích cực nhưng bị hạn chế bởi cấu trúc văn hóa và vai trò giới định kiến.
- Về mặt thực tiễn: Luận án nhận diện chi tiết sự gia tăng khối lượng lao động của phụ nữ trong cả sản xuất nông nghiệp lẫn việc nhà sau các biến cố thời tiết cực đoan. Công trình phân tích thực trạng đại diện thấp của phụ nữ trong các cơ chế ra quyết định về phòng chống thiên tai tại xã Giao Xuân, làm rõ nguyên nhân cản trở việc lồng ghép tiếng nói của phụ nữ vào kế hoạch hành động khí hậu tại địa phương.
- Về mặt phương pháp: Cung cấp khung phân tích đa biến kết hợp giữa điều kiện kinh tế - xã hội, cấu trúc văn hóa giới và chính sách can thiệp để khảo sát mối quan hệ giới trong quản lý rủi ro thiên tai cấp cơ sở.
Các khuyến nghị và giải pháp đề xuất
- Về chính sách và pháp luật: Đưa tiêu chí bắt buộc về lồng ghép giới vào Luật Phòng chống thiên tai và các chương trình mục tiêu quốc gia; quy định tỷ lệ đại diện tối thiểu của phụ nữ trong Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn các cấp (đặc biệt là cấp xã và huyện).
- Về quản trị và thực thi địa phương: Chính quyền tỉnh Nam Định, huyện Giao Thủy và xã Giao Xuân cần chuyển dịch vai trò của Hội Phụ nữ từ công tác "hậu cần, từ thiện" sang tham gia trực tiếp vào việc lập kế hoạch, giám sát rủi ro và ra quyết định ứng phó thiên tai.
- Về kinh tế và sinh kế: Thiết kế các chương trình chuyển giao khoa học kỹ thuật nông - thủy sản phù hợp với thời gian biểu của phụ nữ; mở rộng nguồn vốn tín dụng vi mô ưu đãi cho phụ nữ để phục hồi sản xuất sau bão; phát triển các mô hình sinh kế đa dạng hóa ít phụ thuộc vào tài nguyên khí hậu.
- Về xã hội và truyền thông: Tuyên truyền thay đổi chuẩn mực văn hóa về vai trò giới, khuyến khích nam giới chia sẻ công việc chăm sóc gia đình và tái sản xuất, đặc biệt trong các giai đoạn trước, trong và sau bão nhằm giảm tải áp lực lao động cho phụ nữ.
- Về dữ liệu: Thiết lập cơ chế thu thập và báo cáo số liệu thống kê phân tách theo giới tính đối với mọi thiệt hại do thiên tai và BĐKH gây ra tại địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Phạm vi không gian nghiên cứu giới hạn tại một địa bàn đặc thù là xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định (khu vực duyên hải đồng bằng sông Hồng có rừng ngập mặn), do đó một số phát hiện về sinh kế phụ thuộc bãi triều chưa thể đại diện cho các vùng sinh thái khác như miền núi cao hay vùng ngập lũ Đồng bằng sông Cửu Long.
- Thời gian khảo sát thực địa tập trung từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 5 năm 2015, chủ yếu phản ánh tác động của các hiện tượng thời tiết cực đoan theo mùa vụ trong giai đoạn đó.
- Về nội dung, luận án tập trung sâu vào sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt gia đình và sự tham gia cộng đồng; chưa đi sâu phân tích toàn diện các vấn đề về ngân sách công có trách nhiệm giới hay bạo lực trên cơ sở giới nảy sinh sau thảm họa thiên tai.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng khảo sát so sánh liên vùng giữa các dải ven biển miền Trung, Đồng bằng sông Cửu Long và miền núi phía Bắc nhằm kiểm chứng tính phổ quát của mô hình phân công lao động theo giới trong bối cảnh BĐKH.
- Nghiên cứu dài hạn về xu hướng di cư lao động phi nông nghiệp của các hộ gia đình nông thôn dưới sức ép sinh thái và tác động của nó tới quyền kiểm soát tài chính của phụ nữ ở lại địa phương.
- Đánh giá hiệu quả thực tế của các mô hình ngân sách có trách nhiệm giới trong các dự án đầu tư công trình thích ứng BĐKH cấp cơ sở.
Giá trị tham khảo
Luận án là nguồn tư liệu khoa học hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước: Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nam Định, Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai các cấp trong việc xây dựng kế hoạch hành động khí hậu có nhạy cảm giới.
- Các tổ chức chính trị - xã hội và phi chính phủ: Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam các cấp (đặc biệt tại Nam Định), các tổ chức hoạt động vì bình đẳng giới, môi trường và phát triển cộng đồng (như MCD, Oxfam) trong việc thiết kế dự án tăng cường năng lực ứng phó thiên tai cho phụ nữ nông thôn.
- Giới học thuật và đào tạo: Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Xã hội học, Giới và Phát triển, Quản lý Môi trường, Kinh tế Nông nghiệp tham khảo khung lý thuyết, công cụ điều tra bảng hỏi và phương pháp tiếp cận nghiên cứu trường hợp.
Câu hỏi thường gặp
-
Tại sao nghiên cứu lại chọn xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định làm địa bàn nghiên cứu trường hợp?
Xã Giao Xuân là xã ven biển điển hình chịu tác động rõ rệt của BĐKH, nằm trong vùng đệm của Vườn quốc gia Xuân Thủy. Địa bàn này có tuyến đê quốc gia dài 2,8 km ngăn cách khu dân cư với bãi triều rừng ngập mặn, có gần 60% dân số sống phụ thuộc vào khai thác và nuôi trồng thủy sản. Nam Định cũng là một trong những tỉnh đầu tiên xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH giai đoạn 2015–2020.
-
Biến đổi khí hậu làm thay đổi khối lượng công việc của phụ nữ tại xã Giao Xuân như thế nào?
BĐKH làm gia tăng gánh nặng công việc kép cho phụ nữ. Trong sản xuất, khi thời tiết cực đoan gây hại mùa màng và vật nuôi, phụ nữ phải tốn nhiều công sức hơn để chăm sóc lúa, tìm nguồn thức ăn thay thế cho vật nuôi và tăng cường cào ngao bãi triều. Trong gia đình, thời gian làm việc không hưởng lương của phụ nữ tăng vọt trước, trong và đặc biệt là một tuần sau bão do trách nhiệm dọn dẹp vệ sinh, giặt giũ, bảo đảm nước sạch và chăm sóc người ốm.
-
Vai trò của phụ nữ trong Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai tại địa phương gặp rào cản gì?
Tỷ lệ phụ nữ tham gia vào bộ máy lãnh đạo xã và Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai rất thấp. Phụ nữ chủ yếu tham gia với tư cách đại diện Hội Phụ nữ và thường bị đóng đinh vào vai trò hậu cần (chuẩn bị lương thực, thăm hỏi y tế), trong khi các quyết định quan trọng về phương án phòng chống lụt bão, cứu hộ cứu nạn bị coi là "công việc nặng nhọc của nam giới". Tiếng nói và kinh nghiệm thực tế của phụ nữ ít được đưa vào kế hoạch quản lý rủi ro thiên tai của cộng đồng.
-
Luận án sử dụng các phương pháp thu thập dữ liệu xã hội học cụ thể nào?
Luận án kết hợp cả định tính và định lượng: phân tích tài liệu thứ cấp (báo cáo của các bộ ngành, kịch bản BĐKH, tài liệu địa phương); điều tra xã hội học bằng bảng hỏi đối với người dân xã Giao Xuân; phỏng vấn sâu lãnh đạo chính quyền, đoàn thể và người dân; thảo luận nhóm tập trung (FGD) phân tách riêng theo giới để làm rõ sự khác biệt trong trải nghiệm ứng phó.
-
Luận điểm lý thuyết cốt lõi mà luận án khẳng định về mối quan hệ giữa BĐKH và bình đẳng giới là gì?
Luận án khẳng định tác động của BĐKH không mang tính trung tính về giới. Mức độ tổn thương và khả năng thích ứng của mỗi cá nhân bị quy định bởi chuẩn mực xã hội, vai trò giới và sự tiếp cận nguồn lực kinh tế. Phụ nữ tuy dễ bị tổn thương hơn nam giới do định kiến phân công lao động nhưng không phải là nạn nhân thụ động, mà họ luôn chủ động thực hiện các chiến lược thích ứng sinh kế trong phạm vi nguồn lực cho phép.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Phương Ly đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu phân tích mối quan hệ giới trong bối cảnh BĐKH thông qua nghiên cứu trường hợp tại xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Công trình làm sáng rõ thực trạng BĐKH làm gia tăng gánh nặng lao động sản xuất và tái sản xuất đối với phụ nữ, đồng thời chỉ ra những rào cản văn hóa, thể chế hạn chế sự tham gia của họ vào quá trình ra quyết định ở cộng đồng. Bằng việc kết hợp phương pháp xã hội học định tính và định lượng chặt chẽ, luận án đóng góp bằng chứng thực nghiệm quan trọng, khẳng định yêu cầu tất yếu phải lồng ghép giới thực chất vào các chính sách quản trị rủi ro thiên tai và phát triển bền vững tại Việt Nam.