phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và phụ lục, luận án bao gồm năm chƣơng nội dung, cụ thể là: Chƣơng 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu. Chƣơng này tập trung trình bày kết quả của các công trình nghiên cứu đi trƣớc trên thế giới và Việt Nam về giới và biến đổi khí hậu, từ đó tìm ra các khoảng trống lý thuyết và thực tiễn mà các công trình nghiên cứu trƣớc chƣa giải quyết để tập trung phân tích ở luận án. Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng này trình bày các khái niệm công cụ và lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu và các phƣơng pháp nghiên cứu xã hội học đƣợc sử dụng để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra và giới thiệu về địa bàn nghiên cứu.
Chƣơng 3: BĐKH và quan hệ giới trong sản xuất nông nghiệp. Chƣơng này tập trung phân tích về sự phân công lao động theo giới trong hoạt động sản xuất nông nghiệp ở địa phƣơng, qua đó nhận diện tác động cụ thể của BĐKH đến sự thay đổi trong phân công lao động theo giới và hoạt động sản xuất nông nghiệp của phụ nữ và nam giới và giải thích các yếu tố phân công lao động theo giới và thực trạng bất BĐG ảnh hƣởng thế nào đến việc phụ nữ và nam giới ứng phó với BĐKH trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp ở địa phƣơng. Chƣơng 4: BĐKH và quan hệ giới trong các hoạt động phi sản xuất. Chƣơng này xem xét các khác biệt giới trong việc ứng phó với BĐKH trong các hoạt động phi sản xuất và sự tham gia của phụ nữ và nam giới trong các hoạt động ứng phó với BĐKH ở cộng đồng, bao gồm sự tham gia của Hội phụ nữ trong quá trình ra các quyết định liên quan đến ứng phó với BĐKH.
19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Từ thập kỉ 80 và 90 của thế kỷ trƣớc, các nhà nghiên cứu khoa học xã hội đã có nhiều nghiên cứu về phụ nữ, môi trƣờng và phát triển xã hội ở những chiều cạnh khác nhau và đây chính là tiền đề cho các nghiên cứu giới và môi trƣờng, giới và BĐKH. Trong chƣơng này, tác giả sẽ rà soát, phân tích và xem xét các công trình nghiên cứu đi trƣớc đã liên quan và gợi mở các vấn đề liên quan đến chủ đề của luận án: giới và BĐKH; giới và môi trƣờng. Các quan điểm và cách tiếp cận về giới và biến đổi khí hậu Các nghiên cứu phân tích mối liên hệ giữa quá trình sinh thái học và xã hội đã đƣợc thực hiện từ cuối thể kỉ 19, trong đó làm nổi bật mối quan hệ xã hội và môi trƣờng đƣợc duy trì thông qua quá trình và ảnh hƣởng của thiên nhiên lên con ngƣời và sự nỗ lực của chính loài ngƣời [Irena Dankemanl, 2008]. Một số nghiên cứu đƣa ra lập luận rằng có sự tồn tại song song giữa sự thoái hóa của tự nhiên và sự đàn áp đối với phụ nữ và điều này có liên quan chặt chẽ đến địa vị của ngƣời phụ nữ trong cộng đồng và xã hội.
Ngƣời phụ nữ đƣợc xem là thứ bậc thấp hơn nam giới và đóng vai trò phục vụ trong cộng đồng và trong gia đình, nguyên do là vì phụ nữ đảm nhiệm vai trò sinh sản và chăm sóc trong gia đình và cộng đồng. Khái niệm về phụ nữ và vị trí tự nhiên trong xã hội đã đƣợc phân tích nhiều trong trƣờng phái nữ quyền sinh thái. Theo phân tích này, sự đơn giản hóa về mối quan hệ phụ nữ, so sánh cơ thể của ngƣời phụ nữ với bà mẹ tự nhiên đã tạo nên những mối quan hệ bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới khi xem xét những tác động của môi trƣờng đối với tự nhiên [dẫn theo Braidotti và cộng sự, 1993]. Thực tế chỉ ra phụ nữ và nam giới đã đóng vai trò, trách nhiệm khác nhau trong việc quản lý và duy trì môi trƣờng vật chất tự nhiên và điều này ảnh hƣởng đến quá trình ra các quyết định quan trọng của cộng đồng về môi trƣờng.
Tuy nhiên, trong quá trình can thiệp bảo tồn và quản lý bền vững các nguồn lực thiên nhiên và hoạt động đặt nền móng cho các hoạt động khoa học và nghiên cứu môi trƣờng, việc nghiên cứu vai trò và vị trí của phụ nữ đã bị nhiều ngành khoa học bỏ qua một cách nghiêm trọng [Irena Dankemanl, 2008]. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong các nghiên cứu về môi trƣờng đã có sự tập trung nghiên cứu về địa vị thấp hơn của ngƣời phụ nữ trong xã hội so với nam giới nhƣ một hiện tƣợng mang tính phổ thông, điều này đƣợc lý giải từ nguyên nhân văn hóa đa thần và ngƣời phụ nữ gần gũi với tự nhiên hơn nam giới [Sherry Ortner, 1974]. Trong các nghiên cứu sâu hơn của nữ quyền trong vấn đề môi trƣờng, vấn đề khác biệt sinh học của phụ nữ so với nam giới và tinh thần của phụ nữ cũng đã đƣợc đƣa vào tranh luận và điều này đƣa ra một bức tranh tổng thể hơn về sự thống trị với vai trò mạnh mẽ của ngƣời phụ nữ trong xã hội [Ortner, 1996]. Tuy nhiên, trong các trƣờng phái này, tiêu biểu là nghiên cứu của Ortner đã tập trung phân tích về sự phụ thuộc của phụ nữ trong xã hội nhƣng không đặt ra câu hỏi về thái độ xã hội đối với môi trƣờng.
Vấn đề phụ nữ và môi trƣờng chỉ thực sự trở thành mối quan tâm trong các nghiên cứu về môi trƣờng và BĐKH trong thế kỉ 20 [Irena Dankeman, 2012]. Sự tham gia của phụ nữ vào các hành động BĐKH liên quan đến việc lập kế hoạch và quyết định, đóng góp của họ về những kiến thức, kinh nghiệm và quan điểm của mình một cách có giá trị, cũng nhƣ vai trò lãnh đạo quan trọng của họ trong lĩnh vực này đã đƣợc nhấn mạnh. Những nghiên cứu này chỉ ra rằng các chính sách phát triển cần phải có sự hiểu biết thực tiễn về giới, BĐKH và phát triển bền vững. Dựa trên các kinh nghiệm quốc tế, khung phân tích về giới, BĐKH, và an ninh con ngƣời đã đƣợc xây dựng vào cuối thế kỉ 20 [Irena Dankeman, 2012].
Trong khung phân tích này, an ninh con ngƣời đƣợc định nghĩa là (i) an ninh để tồn tại, (ii) an ninh sinh kế, (iii) nhân phẩm, an ninh để tồn tại biểu thị về các mức độ về đạo đức hay bị thƣơng và cái chết của con ngƣời, an ninh về sinh kế liên quan đến những an ninh về lƣơng thực, nƣớc, năng lƣợng, an ninh môi trƣờng, an ninh về nơi cƣ trú và an ninh kinh tế. Trong bối cảnh này “nhân phẩm” có thể đƣợc chia ra theo các khía cạnh quyền cơ bản của con ngƣời, năng lực và sự tham gia. Theo đó, những ảnh hƣởng cụ thể của BĐKH lên những khía cạnh về an ninh và giới đƣợc xác định cụ thể. Khung này chỉ ra các chiến lƣợc mà cộng đồng sử dụng trong việc ứng phó với BĐKH và xác định các chính sách và lựa chọn về an ninh con ngƣời trong những lĩnh vực này.
Cụ thể là BĐKH biểu hiện qua nhiều hình thức khí hậu và thiên tai khắc nghiệt khác nhau, xét về khía cạnh an ninh, điều này sẽ gây ảnh hƣởng nặng nề nhƣ chết hoặc bị thƣơng, tăng các bệnh truyền nhiễm và ảnh hƣởng 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đến các vấn đề sức khỏe, mất các loại sinh vật quý nhƣ các loài thuốc, giảm đa dạng sinh học và làm thay đổi hệ thống sinh vật học. Tại nhiều nơi trên thế giới, phụ nữ và nam giới cũng có chiến lƣợc khác nhau nhằm đối phó với các vấn đề này nhƣ phải tăng khối tƣợng công việc của mình để đảm bảo việc chuẩn bị đối phó với thiên tai, tìm các loài cây/thuốc thay thế cho gia đình, thích ứng với các cách thức làm nông/thay đổi sang vụ mùa hay/nuôi động vật, tiết kiệm thức ăn, hạt giống và con giống và thậm chí là phải thay đổi chế độ ăn uống mới, đa dạng con giống, tìm kiếm các nguồn nƣớc sạch mới hoặc dành nhiều thời gian trong việc đảm bảo nƣớc sạch cho gia đình. Phụ nữ và nam giới có những vai trò và trách nhiệm khác nhau trong sử dụng đất, quản lý nƣớc, sử dụng rừng, việc cung cấp và sử dụng năng lƣợng, xây dựng và bảo tồn đô thị [Dankelman và Davidson, 1998]. Sự khác biệt này ảnh hƣởng không nhỏ bởi các vai trò giới.
Với phụ nữ, đó là vai trò tái sản xuất và sản xuất đa dạng trong gia đình và trong cộng đồng. Lũ lụt, hạn hán, lạnh và khí nóng theo đợi, lốc, cuồng phong, nhiệt độ cao hơn trung bình, cháy rừng tự nhiên, và mực nƣớc biển dâng: Tất cả những vấn đề này có ảnh hƣởng lớn với cuộc sống và sinh kế của con ngƣời và đặc biệt những công việc và phụ nữ đang phải đảm nhận. Trong hầu hết các trƣờng hợp, khi nguồn lực trở nên hạn hẹp, việc sản xuất đi xuống, giá cả tăng lên và có mâu thuẫn trong việc sử dụng các nguồn lực, các hiện tƣợng này tác động rất lớn đến với phụ nữ và sự an ninh của loài ngƣời. Nhƣ nhiều thảm họa, những đe dọa về BĐKH có thể làm tăng bất bình đẳng đang hiện hữu [UNDP, 2010], bất BĐG là một trong những bất bình đẳng mạnh nhất từ những bài học quan trọng có thể thấy đƣợc trong quá khứ liên quan đến tự nhiên.
Tính dễn bị tổn thƣơng cũng xem xét trong bối xã hội văn hóa cụ thể cho thấy tỉ lệ phụ nữ bị chết trong các sự kiện thiên tai nhiều hơn so với tỉ lệ này ở nam giới [Newmayer và Plumper, 2007]. Trong vị trí bất lợi, phụ nữ phải đối mặt với những khó khăn đặc thù trong việc đối phó với thiên tai. Ví dụ, việc phụ nữ có học vấn thấp và đƣợc đào tạo ít hơn có thể giảm khả năng của họ trong việc tiếp cận những thông tin cần thiết trƣớc, trong và sau khi thảm họa. Và khi ngƣời nghèo - trong đó có nhiều ngƣời là phụ nữ - mất kế sinh nhai, họ sẽ rơi vào tình trạng nghèo đói.
Và khi BĐKH không mang 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tính trung tính giới, những ảnh hƣởng cụ thể về an ninh đều có những yếu tố giới trong đó cũng đã đƣợc quan sát ở nhiều địa phƣơng nơi biến đổi khí hậu tác động. Một cách thƣờng xuyên, phụ nữ thƣờng đƣợc nhìn nhận là nạn nhân của BĐKH, trong đó nam giới là các tác nhân.