Luận văn thạc sĩ vnu ulis vấn đề giới trong bối cảnh của biến đổi khí hậu nghiên cứu trường hợp tại xã giao xuân huyện giao thủy tỉnh nam định

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vnu ulis vấn đề giới trong bối cảnh của biến đổi khí hậu nghiên cứu trường hợp tại xã giao xuân, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Xã Hội Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2017

196
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Các quan điểm và cách tiếp cận về giới và biến đổi khí hậu

1.2. Các quan điểm về thích ứng với biến đổi khí hậu

1.3. Khung luật pháp quốc tế liên quan đến giới và biến đổi khí hậu

1.4. Chính sách và nghiên cứu giới và biến đổi khí hậu ở Việt Nam

1.5. Các chính sách về giới và biến đổi khí hậu ở Việt Nam

1.6. Giới và biến đổi khí hậu từ góc nhìn sinh kế

1.7. Tác động của BĐKH đối với lao động trả lương, lao động tự chủ trong lĩnh vực phi nông nghiệp và di cư

1.8. BĐKH và sức khỏe phụ nữ với tư cách là người chăm sóc

1.9. Giới, sự thích ứng và khả năng chống chịu và phục hồi đối với biến đổi khí hậu

1.10. Sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực ra quyết định liên quan đến BĐKH

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Hệ khái niệm công cụ

2.2. Biến đổi khí hậu

2.3. Thích ứng với biến đổi khí hậu

2.4. Giảm nhẹ biến đổi khí hậu

2.5. Bình đẳng giới, quan hệ giới, vai trò giới và vấn đề giới

2.6. Một số khái niệm khác

2.7. Các lý thuyết xã hội học được sử dụng

2.8. Lý thuyết giới và môi trường

2.9. Các lý thuyết xã hội học về giới

2.10. Quan điểm giới về sự thích ứng với biến đổi khí hậu

2.11. Phương pháp nghiên cứu

2.12. Phân tích tài liệu

2.13. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

2.14. Phương pháp phỏng vấn sâu

2.15. Phương pháp thảo luận nhóm tập trung

3. CHƯƠNG 3: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ QUAN HỆ GIỚI TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

3.1. Địa bàn nghiên cứu xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

3.2. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế và xã hội

3.3. Các xu hướng biến đổi khí hậu và các dạng thiên tai chủ yếu tại Giao Xuân, huyện Giao Thủy

3.4. Phân công lao động theo giới trong lao động sản xuất nông nghiệp tại xã Giao Xuân

3.5. Biến đổi khí hậu và các ảnh hưởng đến quan hệ giới trong sản xuất nông nghiệp

4. CHƯƠNG 4: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ QUAN HỆ GIỚI TRONG CÁC HOẠT ĐỘNG PHI SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

4.1. Ứng phó với biến đổi khí hậu trong các hoạt động phi sản xuất nông nghiệp của gia đình

4.2. Sự tham gia của phụ nữ trong ứng phó với biến đổi khí hậu qua các hoạt động dự án

4.3. Sự tham gia của Hội phụ nữ vào ban phòng chống thiên tai

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về vấn đề giới trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại Giao Xuân

Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang trở thành một trong những thách thức lớn nhất đối với sự phát triển bền vững, đặc biệt là tại các vùng ven biển như Giao Xuân, Nam Định. Nghiên cứu này nhằm làm rõ mối quan hệ giữa BĐKH và vấn đề giới, từ đó chỉ ra những tác động cụ thể đến sinh kế của phụ nữ và nam giới trong cộng đồng. Việc hiểu rõ vấn đề này không chỉ giúp nâng cao nhận thức mà còn hỗ trợ trong việc xây dựng các chính sách phù hợp.

1.1. Định nghĩa và khái niệm về biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu được hiểu là sự thay đổi lâu dài của các yếu tố khí hậu, ảnh hưởng đến môi trường sống và sinh kế của con người. Tại Giao Xuân, BĐKH đã dẫn đến nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của người dân.

1.2. Tác động của biến đổi khí hậu đến vấn đề giới

BĐKH không chỉ ảnh hưởng đến môi trường mà còn làm gia tăng bất bình đẳng giới. Phụ nữ thường là nhóm dễ bị tổn thương hơn trong bối cảnh thiên tai và biến đổi khí hậu, do vai trò và trách nhiệm xã hội mà họ phải gánh vác.

II. Những thách thức về giới trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại Giao Xuân

Tại Giao Xuân, những thách thức về giới trong bối cảnh BĐKH rất đa dạng. Phụ nữ thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn lực và thông tin cần thiết để ứng phó với BĐKH. Điều này dẫn đến sự phân biệt giới trong các hoạt động sản xuất và sinh kế.

2.1. Phân công lao động theo giới trong sản xuất nông nghiệp

Phân công lao động theo giới tại Giao Xuân thường dẫn đến việc phụ nữ đảm nhận nhiều công việc nặng nhọc mà không được công nhận. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn làm giảm khả năng tham gia vào các quyết định quan trọng.

2.2. Khó khăn trong việc tiếp cận thông tin và nguồn lực

Phụ nữ thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin về BĐKH và các nguồn lực hỗ trợ. Điều này làm giảm khả năng ứng phó của họ trước các tác động của BĐKH, dẫn đến tình trạng bất bình đẳng trong cộng đồng.

III. Phương pháp nghiên cứu về vấn đề giới và biến đổi khí hậu

Nghiên cứu này sử dụng các phương pháp định tính và định lượng để phân tích tác động của BĐKH đến vấn đề giới tại Giao Xuân. Các phương pháp này giúp thu thập dữ liệu chính xác và đáng tin cậy, từ đó đưa ra những kết luận có giá trị.

3.1. Phương pháp khảo sát và phỏng vấn

Khảo sát và phỏng vấn sâu được thực hiện với các hộ gia đình tại Giao Xuân để thu thập thông tin về tác động của BĐKH đến sinh kế của phụ nữ và nam giới. Phương pháp này giúp hiểu rõ hơn về thực trạng và nhu cầu của cộng đồng.

3.2. Phân tích dữ liệu và kết quả

Dữ liệu thu thập được sẽ được phân tích để xác định các xu hướng và mối quan hệ giữa BĐKH và vấn đề giới. Kết quả sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình hiện tại và những thách thức mà cộng đồng đang phải đối mặt.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại Giao Xuân

Kết quả nghiên cứu cho thấy BĐKH đã tác động mạnh mẽ đến sinh kế của phụ nữ và nam giới tại Giao Xuân. Những phát hiện này có thể được áp dụng để xây dựng các chính sách hỗ trợ phù hợp, nhằm giảm thiểu tác động của BĐKH và thúc đẩy bình đẳng giới.

4.1. Các chính sách hỗ trợ phụ nữ trong ứng phó với BĐKH

Các chính sách cần được thiết kế để hỗ trợ phụ nữ trong việc tiếp cận thông tin và nguồn lực, từ đó nâng cao khả năng ứng phó với BĐKH. Điều này không chỉ giúp cải thiện đời sống của phụ nữ mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của cộng đồng.

4.2. Kết quả từ các hoạt động cộng đồng

Các hoạt động cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức về BĐKH và bình đẳng giới đã cho thấy hiệu quả tích cực. Sự tham gia của phụ nữ trong các hoạt động này đã giúp họ tự tin hơn trong việc đưa ra quyết định và tham gia vào các hoạt động ứng phó với BĐKH.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho vấn đề giới trong bối cảnh biến đổi khí hậu

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng BĐKH có tác động sâu sắc đến vấn đề giới tại Giao Xuân. Để giảm thiểu tác động này, cần có những can thiệp mạnh mẽ và đồng bộ từ chính quyền và cộng đồng. Hướng đi tương lai cần tập trung vào việc nâng cao nhận thức và tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào các quyết định liên quan đến BĐKH.

5.1. Đề xuất các giải pháp chính sách

Các giải pháp chính sách cần được xây dựng dựa trên những phát hiện từ nghiên cứu, nhằm đảm bảo rằng phụ nữ có thể tiếp cận các nguồn lực và thông tin cần thiết để ứng phó với BĐKH.

5.2. Tương lai của nghiên cứu về giới và biến đổi khí hậu

Nghiên cứu về giới trong bối cảnh BĐKH cần tiếp tục được mở rộng và cập nhật, nhằm đáp ứng kịp thời với những thay đổi trong môi trường và xã hội. Điều này sẽ giúp nâng cao hiệu quả của các chính sách và chương trình hỗ trợ.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ulis vấn đề giới trong bối cảnh của biến đổi khí hậu nghiên cứu trường hợp tại xã giao xuân huyện giao thủy tỉnh nam định

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và phụ lục, luận án bao gồm năm chƣơng nội dung, cụ thể là: Chƣơng 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu. Chƣơng này tập trung trình bày kết quả của các công trình nghiên cứu đi trƣớc trên thế giới và Việt Nam về giới và biến đổi khí hậu, từ đó tìm ra các khoảng trống lý thuyết và thực tiễn mà các công trình nghiên cứu trƣớc chƣa giải quyết để tập trung phân tích ở luận án. Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng này trình bày các khái niệm công cụ và lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu và các phƣơng pháp nghiên cứu xã hội học đƣợc sử dụng để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra và giới thiệu về địa bàn nghiên cứu.

Chƣơng 3: BĐKH và quan hệ giới trong sản xuất nông nghiệp. Chƣơng này tập trung phân tích về sự phân công lao động theo giới trong hoạt động sản xuất nông nghiệp ở địa phƣơng, qua đó nhận diện tác động cụ thể của BĐKH đến sự thay đổi trong phân công lao động theo giới và hoạt động sản xuất nông nghiệp của phụ nữ và nam giới và giải thích các yếu tố phân công lao động theo giới và thực trạng bất BĐG ảnh hƣởng thế nào đến việc phụ nữ và nam giới ứng phó với BĐKH trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp ở địa phƣơng. Chƣơng 4: BĐKH và quan hệ giới trong các hoạt động phi sản xuất. Chƣơng này xem xét các khác biệt giới trong việc ứng phó với BĐKH trong các hoạt động phi sản xuất và sự tham gia của phụ nữ và nam giới trong các hoạt động ứng phó với BĐKH ở cộng đồng, bao gồm sự tham gia của Hội phụ nữ trong quá trình ra các quyết định liên quan đến ứng phó với BĐKH.

19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Từ thập kỉ 80 và 90 của thế kỷ trƣớc, các nhà nghiên cứu khoa học xã hội đã có nhiều nghiên cứu về phụ nữ, môi trƣờng và phát triển xã hội ở những chiều cạnh khác nhau và đây chính là tiền đề cho các nghiên cứu giới và môi trƣờng, giới và BĐKH. Trong chƣơng này, tác giả sẽ rà soát, phân tích và xem xét các công trình nghiên cứu đi trƣớc đã liên quan và gợi mở các vấn đề liên quan đến chủ đề của luận án: giới và BĐKH; giới và môi trƣờng. Các quan điểm và cách tiếp cận về giới và biến đổi khí hậu Các nghiên cứu phân tích mối liên hệ giữa quá trình sinh thái học và xã hội đã đƣợc thực hiện từ cuối thể kỉ 19, trong đó làm nổi bật mối quan hệ xã hội và môi trƣờng đƣợc duy trì thông qua quá trình và ảnh hƣởng của thiên nhiên lên con ngƣời và sự nỗ lực của chính loài ngƣời [Irena Dankemanl, 2008]. Một số nghiên cứu đƣa ra lập luận rằng có sự tồn tại song song giữa sự thoái hóa của tự nhiên và sự đàn áp đối với phụ nữ và điều này có liên quan chặt chẽ đến địa vị của ngƣời phụ nữ trong cộng đồng và xã hội.

Ngƣời phụ nữ đƣợc xem là thứ bậc thấp hơn nam giới và đóng vai trò phục vụ trong cộng đồng và trong gia đình, nguyên do là vì phụ nữ đảm nhiệm vai trò sinh sản và chăm sóc trong gia đình và cộng đồng. Khái niệm về phụ nữ và vị trí tự nhiên trong xã hội đã đƣợc phân tích nhiều trong trƣờng phái nữ quyền sinh thái. Theo phân tích này, sự đơn giản hóa về mối quan hệ phụ nữ, so sánh cơ thể của ngƣời phụ nữ với bà mẹ tự nhiên đã tạo nên những mối quan hệ bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới khi xem xét những tác động của môi trƣờng đối với tự nhiên [dẫn theo Braidotti và cộng sự, 1993]. Thực tế chỉ ra phụ nữ và nam giới đã đóng vai trò, trách nhiệm khác nhau trong việc quản lý và duy trì môi trƣờng vật chất tự nhiên và điều này ảnh hƣởng đến quá trình ra các quyết định quan trọng của cộng đồng về môi trƣờng.

Tuy nhiên, trong quá trình can thiệp bảo tồn và quản lý bền vững các nguồn lực thiên nhiên và hoạt động đặt nền móng cho các hoạt động khoa học và nghiên cứu môi trƣờng, việc nghiên cứu vai trò và vị trí của phụ nữ đã bị nhiều ngành khoa học bỏ qua một cách nghiêm trọng [Irena Dankemanl, 2008]. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong các nghiên cứu về môi trƣờng đã có sự tập trung nghiên cứu về địa vị thấp hơn của ngƣời phụ nữ trong xã hội so với nam giới nhƣ một hiện tƣợng mang tính phổ thông, điều này đƣợc lý giải từ nguyên nhân văn hóa đa thần và ngƣời phụ nữ gần gũi với tự nhiên hơn nam giới [Sherry Ortner, 1974]. Trong các nghiên cứu sâu hơn của nữ quyền trong vấn đề môi trƣờng, vấn đề khác biệt sinh học của phụ nữ so với nam giới và tinh thần của phụ nữ cũng đã đƣợc đƣa vào tranh luận và điều này đƣa ra một bức tranh tổng thể hơn về sự thống trị với vai trò mạnh mẽ của ngƣời phụ nữ trong xã hội [Ortner, 1996]. Tuy nhiên, trong các trƣờng phái này, tiêu biểu là nghiên cứu của Ortner đã tập trung phân tích về sự phụ thuộc của phụ nữ trong xã hội nhƣng không đặt ra câu hỏi về thái độ xã hội đối với môi trƣờng.

Vấn đề phụ nữ và môi trƣờng chỉ thực sự trở thành mối quan tâm trong các nghiên cứu về môi trƣờng và BĐKH trong thế kỉ 20 [Irena Dankeman, 2012]. Sự tham gia của phụ nữ vào các hành động BĐKH liên quan đến việc lập kế hoạch và quyết định, đóng góp của họ về những kiến thức, kinh nghiệm và quan điểm của mình một cách có giá trị, cũng nhƣ vai trò lãnh đạo quan trọng của họ trong lĩnh vực này đã đƣợc nhấn mạnh. Những nghiên cứu này chỉ ra rằng các chính sách phát triển cần phải có sự hiểu biết thực tiễn về giới, BĐKH và phát triển bền vững. Dựa trên các kinh nghiệm quốc tế, khung phân tích về giới, BĐKH, và an ninh con ngƣời đã đƣợc xây dựng vào cuối thế kỉ 20 [Irena Dankeman, 2012].

Trong khung phân tích này, an ninh con ngƣời đƣợc định nghĩa là (i) an ninh để tồn tại, (ii) an ninh sinh kế, (iii) nhân phẩm, an ninh để tồn tại biểu thị về các mức độ về đạo đức hay bị thƣơng và cái chết của con ngƣời, an ninh về sinh kế liên quan đến những an ninh về lƣơng thực, nƣớc, năng lƣợng, an ninh môi trƣờng, an ninh về nơi cƣ trú và an ninh kinh tế. Trong bối cảnh này “nhân phẩm” có thể đƣợc chia ra theo các khía cạnh quyền cơ bản của con ngƣời, năng lực và sự tham gia. Theo đó, những ảnh hƣởng cụ thể của BĐKH lên những khía cạnh về an ninh và giới đƣợc xác định cụ thể. Khung này chỉ ra các chiến lƣợc mà cộng đồng sử dụng trong việc ứng phó với BĐKH và xác định các chính sách và lựa chọn về an ninh con ngƣời trong những lĩnh vực này.

Cụ thể là BĐKH biểu hiện qua nhiều hình thức khí hậu và thiên tai khắc nghiệt khác nhau, xét về khía cạnh an ninh, điều này sẽ gây ảnh hƣởng nặng nề nhƣ chết hoặc bị thƣơng, tăng các bệnh truyền nhiễm và ảnh hƣởng 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đến các vấn đề sức khỏe, mất các loại sinh vật quý nhƣ các loài thuốc, giảm đa dạng sinh học và làm thay đổi hệ thống sinh vật học. Tại nhiều nơi trên thế giới, phụ nữ và nam giới cũng có chiến lƣợc khác nhau nhằm đối phó với các vấn đề này nhƣ phải tăng khối tƣợng công việc của mình để đảm bảo việc chuẩn bị đối phó với thiên tai, tìm các loài cây/thuốc thay thế cho gia đình, thích ứng với các cách thức làm nông/thay đổi sang vụ mùa hay/nuôi động vật, tiết kiệm thức ăn, hạt giống và con giống và thậm chí là phải thay đổi chế độ ăn uống mới, đa dạng con giống, tìm kiếm các nguồn nƣớc sạch mới hoặc dành nhiều thời gian trong việc đảm bảo nƣớc sạch cho gia đình. Phụ nữ và nam giới có những vai trò và trách nhiệm khác nhau trong sử dụng đất, quản lý nƣớc, sử dụng rừng, việc cung cấp và sử dụng năng lƣợng, xây dựng và bảo tồn đô thị [Dankelman và Davidson, 1998]. Sự khác biệt này ảnh hƣởng không nhỏ bởi các vai trò giới.

Với phụ nữ, đó là vai trò tái sản xuất và sản xuất đa dạng trong gia đình và trong cộng đồng. Lũ lụt, hạn hán, lạnh và khí nóng theo đợi, lốc, cuồng phong, nhiệt độ cao hơn trung bình, cháy rừng tự nhiên, và mực nƣớc biển dâng: Tất cả những vấn đề này có ảnh hƣởng lớn với cuộc sống và sinh kế của con ngƣời và đặc biệt những công việc và phụ nữ đang phải đảm nhận. Trong hầu hết các trƣờng hợp, khi nguồn lực trở nên hạn hẹp, việc sản xuất đi xuống, giá cả tăng lên và có mâu thuẫn trong việc sử dụng các nguồn lực, các hiện tƣợng này tác động rất lớn đến với phụ nữ và sự an ninh của loài ngƣời. Nhƣ nhiều thảm họa, những đe dọa về BĐKH có thể làm tăng bất bình đẳng đang hiện hữu [UNDP, 2010], bất BĐG là một trong những bất bình đẳng mạnh nhất từ những bài học quan trọng có thể thấy đƣợc trong quá khứ liên quan đến tự nhiên.

Tính dễn bị tổn thƣơng cũng xem xét trong bối xã hội văn hóa cụ thể cho thấy tỉ lệ phụ nữ bị chết trong các sự kiện thiên tai nhiều hơn so với tỉ lệ này ở nam giới [Newmayer và Plumper, 2007]. Trong vị trí bất lợi, phụ nữ phải đối mặt với những khó khăn đặc thù trong việc đối phó với thiên tai. Ví dụ, việc phụ nữ có học vấn thấp và đƣợc đào tạo ít hơn có thể giảm khả năng của họ trong việc tiếp cận những thông tin cần thiết trƣớc, trong và sau khi thảm họa. Và khi ngƣời nghèo - trong đó có nhiều ngƣời là phụ nữ - mất kế sinh nhai, họ sẽ rơi vào tình trạng nghèo đói.

Và khi BĐKH không mang 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tính trung tính giới, những ảnh hƣởng cụ thể về an ninh đều có những yếu tố giới trong đó cũng đã đƣợc quan sát ở nhiều địa phƣơng nơi biến đổi khí hậu tác động. Một cách thƣờng xuyên, phụ nữ thƣờng đƣợc nhìn nhận là nạn nhân của BĐKH, trong đó nam giới là các tác nhân.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ