Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ "Nghiên cứu văn bia Phật giáo thế kỷ XVII - XVIII tỉnh Bắc Ninh" do nghiên cứu sinh Nguyễn Quang Hà thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Đinh Khắc Thuân tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (chuyên ngành Hán Nôm, mã số 9.04, bảo vệ năm 2022).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bắc Ninh là vùng đất cổ có bề dày lịch sử lâu đời, cái nôi của người Việt thời kỳ văn hóa Đông Sơn và Tiền Đông Sơn. Trong thời kỳ Bắc thuộc, Luy Lâu (nay thuộc huyện Thuận Thành) là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và là trung tâm Phật giáo cổ xưa nhất của Giao Châu. Sang thời kỳ độc lập tự chủ, Phật giáo phát triển mạnh mẽ trên quê hương vương triều Lý, tiếp nối qua thời Trần với sự hiện diện của Thiền phái Trúc Lâm. Đến thời Lê Trung hưng (thế kỷ XVII - XVIII), xã hội có nhiều biến động, sự xuất hiện của tầng lớp thương nhân, đại địa chủ cùng sự tham gia của tầng lớp vương công, quận chúa, thái phi, thái giám trong phủ Chúa Trịnh đã đóng góp nguồn lực to lớn vào việc trùng tu, tôn tạo và mở rộng nhiều đại danh lam cổ tự như chùa Dâu, chùa Bút Tháp, chùa Phật Tích.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ thực tế: nguồn tư liệu văn bia Phật giáo thế kỷ XVII - XVIII trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh lưu trữ tại các di tích và các cơ quan lưu trữ có số lượng rất lớn (hơn 382 đơn vị thác bản) nhưng chưa được nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống dưới góc độ Hán Nôm học. Công trình tiêu biểu trước đó của tác giả Phạm Thị Thùy Vinh (Văn bia thời Lê xứ Kinh Bắc và sự phản ánh sinh hoạt làng xã, 1997/2003) khảo sát toàn bộ xứ Kinh Bắc nhưng chỉ giới hạn đến hết triều vua Lê Chiêu Thống (1788), đồng thời loại trừ phần lớn văn bia huyện Lương Tài do biến động địa giới hành chính thời Nguyễn (khi đó thuộc Hải Dương). Do vậy, các văn bia Phật giáo giai đoạn Tây Sơn (niên hiệu Quang Trung 1789 - 1792 và Cảnh Thịnh 1792 - 1800) cùng các văn bia tại các địa bàn giáp ranh như Lương Tài và các thác bản mới sưu tầm tại thực địa chưa được khảo sát đầy đủ.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án xác định các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể sau:

  1. Tập hợp, phân loại, giám định văn bản học và thống kê hệ thống tư liệu văn bia Phật giáo thế kỷ XVII - XVIII hiện còn của tỉnh Bắc Ninh (bao gồm cả các văn bia thời Tây Sơn và khu vực huyện Lương Tài).
  2. Thông qua văn bia, làm rõ quá trình hình thành, diện mạo kiến trúc, quy mô và lịch sử trùng tu, xây dựng của các ngôi chùa tiêu biểu dưới sự bảo trợ của vương công, quý tộc thời Lê - Trịnh.
  3. Khai thác tư liệu bi ký để nghiên cứu sự truyền thừa của các tông phái Phật giáo (đặc biệt là phái Lâm Tế và sự tiếp nối của phái Trúc Lâm), hành trạng các danh tăng tiêu biểu (Chuyết Chuyết, Minh Hành, Chân Nguyên, Trịnh Thập - Trịnh Lân Giác) và các nét sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng Phật giáo gắn với nông nghiệp và phong tục cúng Hậu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ hệ thống văn bia Phật giáo (bia chùa) thế kỷ XVII - XVIII tại tỉnh Bắc Ninh, bao gồm bia xây dựng, trùng tu, bia cung tiến công đức, bia tiểu sử hành trạng thiền sư, bia tháp mộ và văn bia gửi giỗ cúng Hậu Phật.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn hành chính tỉnh Bắc Ninh hiện nay (gồm 8 đơn vị hành chính cấp huyện: thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn và 6 huyện Tiên Du, Yên Phong, Quế Võ, Thuận Thành, Gia Bình, Lương Tài).
  • Phạm vi thời gian: Hai thế kỷ XVII và XVIII (tính từ niên hiệu Hoằng Định năm 1601 triều Lê Kính Tông đến hết niên hiệu Cảnh Thịnh năm 1801 triều Tây Sơn).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Luận án điểm lại lịch sử sưu tầm, nghiên cứu văn bia theo các nhóm công trình:

  • Thời kỳ trung đại: Lê Quý Đôn (Đại Việt thông sử, Kiến văn tiểu lục, Vân đài loại ngữ) sưu tập 17 bài văn bia, minh chuông thời Lý - Trần; Bùi Huy Bích (Hoàng Việt văn tuyển) và Phan Huy Chú (Lịch triều hiến chương loại chí - Văn tịch chí) sử dụng văn bia để nghiên cứu lịch sử và văn học.
  • Thời kỳ đầu thế kỷ XX: Viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) sưu tầm 11.651 đơn vị văn khắc với 20.980 mặt thác bản trên phạm vi toàn quốc (trong đó Bắc Ninh có hơn 1.000 văn bia). Các học giả như Trần Văn Giáp, Nguyễn Văn Huyên bước đầu khảo cứu phong tục, kiến trúc đình chùa qua văn bia.
  • Nghiên cứu văn bia tổng quát và theo triều đại: Trần Văn Giáp (1969), Ni Cu Lin N. Phê Đô Rin (1993), Trịnh Khắc Mạnh (1990, Luận án Phó tiến sĩ về văn bia Hán Nôm Việt Nam), Đặng Thai Mai, Cao Xuân Huy và Nguyễn Huệ Chi trong bộ sách Thơ văn Lý - Trần (3 tập: 1977, 1978, 1988); Đinh Khắc Thuân (1997, Luận án Tiến sĩ; xuất bản 2002, 2013) nghiên cứu 170 văn bia thời Mạc; Lê Văn Cường (2009) nghiên cứu văn bia thời Tây Sơn.
  • Nghiên cứu văn bia theo loại hình chữ viết và địa phương: Đỗ Thị Bích Tuyển (2013, Luận án Tiến sĩ về chữ Nôm trên bia đá), Trần Thị Thu Hường (2015, Luận án Tiến sĩ về văn bia Hậu thần thế kỷ XVII - XVIII), Nguyễn Thị Kim Hoa (2011, văn bia Hải Phòng), Nguyễn Lê Sáu - Thích Minh Tín (2015, văn bia Phật giáo xứ Đoài), Đoàn Trung Hữu (2015, văn bia Thừa Thiên Huế), Nguyễn Văn Phong (2016, văn bia Bắc Giang), Phạm Ngọc Hùng (2017, văn bia TP. Hồ Chí Minh), Trương Văn Thắng (2015, văn bia huyện Tiên Du).
  • Nghiên cứu trực tiếp về văn bia Kinh Bắc và di tích Bắc Ninh:
    • Phạm Thị Thùy Vinh (1997/2003, Văn bia thời Lê xứ Kinh Bắc và sự phản ánh sinh hoạt làng xã) thống kê 1.063 văn bia thời Lê xứ Kinh Bắc (chiếm 28,4% cả nước), trong đó văn bia Phật giáo có 556 bia (52,3%), đồng thời chỉ ra sự tham gia của tầng lớp thái giám trong việc tu bổ chùa chiền qua 100 văn bia giai đoạn 1620 - 1779.
    • Lâm Giang (1992, 1997) công bố kết quả sưu tầm tại Tiên Sơn, Thuận Thành, Yên Phong; Nguyễn Hữu Mùi xác định văn bia Trăn Tân từ tích thuộc thời Lê sơ; Nguyễn Lân Cường nghiên cứu nhân chủng học và tượng táng thiền sư Chuyết Chuyết, Như Trí; Lưu Đình Tăng khảo cứu thiền sư Tính Mộ và ván in chùa Dâu; Nguyễn Quang Khải khảo cứu văn bản Chuyết Công ngữ lục; Phạm Tuấn nghiên cứu thiền sư Chân Phúc.
    • Các công trình đã công bố của chính tác giả Nguyễn Quang Hà về chùa Dâu (2014), chùa Bút Tháp (2015), văn bia làng An Phú (2014), văn bia thời Tùy chùa Huệ Trạch (2018), văn bia thời Trần của Hồ Tông Thốc tại chùa Phổ Thành và chùa Khai Nghiêm.

Vị trí và giải quyết khoảng trống của luận án

Kế thừa các kết quả trên, luận án định vị là công trình chuyên khảo đầu tiên đi sâu khảo sát trọn vẹn văn bản học và nội dung lịch sử - văn hóa của riêng hệ thống văn bia Phật giáo thế kỷ XVII - XVIII trên toàn bộ phạm vi địa giới hành chính tỉnh Bắc Ninh hiện nay, bổ sung các địa bàn bị lược bỏ trước đây (như Lương Tài) và mảng văn bia thời Tây Sơn (1789 - 1800).


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Lý thuyết Kim thạch học (Epigraphy): Sử dụng các khái niệm và nguyên tắc phân loại văn khắc đá cổ truyền phương Đông dựa trên công trình Kim thạch học của học giả Chu Kiếm Tâm (chia văn khắc thành: Khắc Thạch, Bi kiệt, Thuật đức, Khắc công, Kỷ sự, Toản ngôn, Mộ chí...).
  • Văn bản học Hán Nôm: Khảo sát diện mạo văn bản, giám định chữ húy, đối chiếu dị bản, thẩm định niên đại và phát hiện hiện tượng ngụy tạo văn bản thác bản.
  • Phương pháp luận sử học: Đặt hệ thống văn bia trong bối cảnh lịch sử - văn hóa cụ thể của xã hội Đại Việt thời Lê Trung hưng và Tây Sơn, quán triệt nguyên lý duy vật biện chứng và duy vật lịch sử về mối quan hệ giữa kinh tế, chính trị và ý thức hệ tôn giáo.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp khảo cứu văn bản Hán Nôm: Dịch nghĩa, chú thích, khảo dị tự dạng chữ Hán, phân tích thể thức văn bi ký, tra cứu các tên hiệu, chức danh, địa danh cổ.
  • Phương pháp thống kê, định lượng: Thống kê số lượng văn bia phân bố theo không gian hành chính (huyện/xã), theo thời gian (thế kỷ, niên hiệu hoàng đế) và theo loại hình nội dung (trùng tu, cung tiến, hậu Phật, tháp mộ).
  • Phương pháp điền dã, khảo sát thực địa: Trực tiếp khảo sát tại các di tích chùa, tháp ở Bắc Ninh, kiểm tra tình trạng văn bia tại chỗ, dập bổ sung các thác bản chưa có trong kho lưu trữ, đối chiếu với cảnh quan và hiện vật kiến trúc, tượng thờ.
  • Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp tri thức Hán Nôm học với Lịch sử học, Tôn giáo học (lịch sử Phật giáo, thiền phái), Khảo cổ học và Địa lý học lịch sử.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  • Tư liệu văn bia chủ đạo: 382 văn bia Phật giáo thế kỷ XVII - XVIII tỉnh Bắc Ninh, gồm 174 đơn vị do Viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) sưu tầm đầu thế kỷ XX và 208 đơn vị do Viện Nghiên cứu Hán Nôm (VNCHN) sưu tầm qua 4 đợt trong thập niên 1990.
  • Tư liệu bổ trợ:
    • Thư tịch lịch sử, địa chí: Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam nhất thống chí, Các tổng trấn xã danh bị lãm, Hải Dương phong vật chí, Đồng Khánh địa dư chí, Hồng Đức bản đồ.
    • Thư tịch Phật giáo: Thiền uyển tập anh, Việt Nam Phật giáo sử luận (Nguyễn Lang), Thiền sư Việt Nam (Thích Thanh Từ), Lịch sử Phật giáo Việt Nam (Lê Mạnh Thát), Thiền lâm bảo huấn, Chuyết Công ngữ lục.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu văn bia Phật giáo và văn bia tỉnh Bắc Ninh, những vấn đề đặt ra

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở địa lý - lịch sử của tỉnh Bắc Ninh và tổng thuật tình hình nghiên cứu liên quan. Về mặt địa lý lịch sử, đất Bắc Ninh thời Hùng Vương thuộc bộ Vũ Ninh; thời Hán thuộc quận Giao Chỉ; thời Trần thuộc lộ Bắc Giang Hạ; năm Quang Thuận thứ 10 (1469) vua Lê Thánh Tông đặt là Kinh Bắc thừa tuyên (gồm 4 phủ: Thuận An, Từ Sơn, Bắc Hà, Lạng Giang với 20 huyện). Tên gọi tỉnh Bắc Ninh chính thức xuất hiện từ năm Minh Mệnh thứ 12 (1831). Đến thời điểm nghiên cứu, tỉnh Bắc Ninh có diện tích 822,7 km², gồm 8 đơn vị hành chính cấp huyện với 126 xã, phường, thị trấn.

Đơn vị hành chính cấp huyện Diện tích (km²) Dân số (người) Mật độ dân số (người/km²) Số đơn vị hành chính cấp xã Huyện lỵ / Trung tâm
Thành phố Bắc Ninh 82,6 259.634 3.143 19 phường Suối Hoa
Thị xã Từ Sơn 61,1 186.000 3.044 12 phường Đông Ngàn
Huyện Gia Bình 107,6 103.000 957 1 thị trấn, 13 xã Gia Bình
Huyện Lương Tài 105,9 105.000 991 1 thị trấn, 13 xã Thứa
Huyện Quế Võ 155,1 195.000 1.257 1 thị trấn, 20 xã Phố Mới
Huyện Thuận Thành 117,8 175.000 1.485 1 thị trấn, 17 xã Hồ
Huyện Tiên Du 95,6 170.000 1.778 1 thị trấn, 13 xã Lim
Huyện Yên Phong 96,9 211.000 2.177 1 thị trấn, 13 xã Chờ

Về thực trạng di tích, toàn tỉnh có 1.558 di tích (theo thống kê năm 2013 của Bảo tàng Bắc Ninh), trong đó có 495 di tích được xếp hạng (4 di tích quốc gia đặc biệt gồm chùa Dâu, chùa Bút Tháp, đền Đô, chùa Phật Tích; 190 di tích quốc gia; 301 di tích cấp tỉnh).

Chương 1 phân loại văn bia Phật giáo thành 5 nhóm: văn bia xây dựng/trùng tu, văn bia cung tiến, văn bia tiểu sử/hành trạng thiền sư, văn bia gửi giỗ/cúng Hậu Phật và bia tháp mộ (tháp minh).

Chương 2: Khảo sát văn bản văn bia Phật giáo thế kỷ XVII - XVIII tỉnh Bắc Ninh

Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực chứng 382 văn bia Phật giáo thế kỷ XVII - XVIII phân bố tại 160 ngôi chùa trên địa bàn tỉnh:

STT Huyện / Thị xã / Thành phố Số lượng chùa có bia thế kỷ XVII - XVIII
1 Quế Võ 49
2 Yên Phong 22
3 Thuận Thành 21
4 Gia Bình 21
5 Từ Sơn 20
6 Tiên Du 14
7 Lương Tài 13
Tổng Toàn tỉnh 160

Phân bố theo mật độ văn bia tại di tích: một số chùa tập trung số lượng văn bia lớn như chùa Đào Viên (huyện Thuận Thành) có 14 bia (niên đại từ 1686 đến 1797), chùa Dâu (xã Thanh Khương) có 9 bia (niên đại từ 1738 đến 1794), chùa Phong Lẫm (Linh Quang tự, huyện Yên Phong) có 6 bia (1699 - 1779), chùa Đại Bi (thôn Đại Bái, huyện Gia Bình) có 4 bia.

Triều đại STT Niên hiệu Khung thời gian Đời vua / Chúa Số lượng văn bia
Nhà Lê 1 Hoằng Định 弘定 1601 - 1619 Lê Kính Tông 7
2 Vĩnh Tộ 永祚 1619 - 1629 Lê Thần Tông (lần 1) 7
3 Đức Long 德隆 1629 - 1635 Lê Thần Tông 3
4 Dương Hòa 陽和 1635 - 1643 Lê Thần Tông 5
5 Phúc Thái 福泰 1643 - 1649 Lê Chân Tông 6
6 Khánh Đức 慶德 1649 - 1653 Lê Thần Tông (lần 2) 12
7 Thịnh Đức 盛德 1653 - 1658 Lê Thần Tông 1
8 Vĩnh Thọ 永壽 1658 - 1662 Lê Thần Tông 5
9 Vạn Khánh 萬慶 1662 - 1662 Lê Thần Tông 0
10 Cảnh Trị 景治 1663 - 1671 Lê Huyền Tông 18
11 Dương Đức 陽德 1672 - 1674 Lê Gia Tông 2
12 Đức Nguyên 德元 1674 - 1675 Lê Gia Tông 1
13 Vĩnh Trị 永治 1676 - 1679 Lê Hy Tông 10
14 Chính Hòa 正和 1680 - 1705 Lê Hy Tông 95
15 Vĩnh Thịnh 永盛 1705 - 1720 Lê Dụ Tông 52
16 Bảo Thái 保泰 1720 - 1729 Lê Dụ Tông 25
17 Vĩnh Khánh 永慶 1729 - 1732 Lê Duy Phường 8
18 Long Đức 龍德 1732 - 1735 Lê Thuần Tông 3
19 Vĩnh Hựu 永祐 1735 - 1740 Lê Ý Tông 19
20 Cảnh Hưng 景興 1740 - 1786 Lê Hiển Tông 91
21 Chiêu Thống 昭統 1786 - 1788 Lê Mẫn Đế 1
Tây Sơn 22 Thái Đức 泰德 1778 - 1793 Nguyễn Nhạc 0
23 Quang Trung 光中 1788 - 1792 Nguyễn Quang Bình 6
24 Cảnh Thịnh 景盛 1793 - 1801 Nguyễn Quang Toản 5
Tổng cộng 382

Về đặc điểm văn bản học:

  • Ngụy tạo văn bản: Toàn tỉnh Bắc Ninh chỉ phát hiện 3 thác bản ngụy tạo (<1% tổng số), gồm: thác bản số N° 02862 (ngụy tạo niên hiệu "Cảnh Thịnh thập thất niên", thực chất là niên hiệu Gia Long 17 hoặc Minh Mạng 17 do kiêng húy chữ "Hoa" của bà Hồ Thị Hoa); thác bản số N° 04370 và 04371 tại chùa Thánh Ân (xã Cao Đức, huyện Gia Bình) ngụy tạo niên đại Cảnh Trị 4 dập ghép từ thác bản khác.
  • Kiêng húy: Khảo sát 14 văn bia có hiện tượng kiêng húy, trong đó: húy chữ "Cửu" 玖 (4 lần, do là tên chính thất của Lê Thái Tổ - bà Phạm Thị Ngọc Cửu); húy chữ "Trần" 陳 (3 lần, gắn với việc đổi họ để tránh húy thời Lê sơ); húy chữ "Tân" (2 lần); húy chữ "Đề" (2 lần); húy các chữ "Bang", "Thành", "Long" (mỗi chữ 1 lần).
  • Tác giả soạn văn bia: Gồm các vị thiền sư danh tiếng, các nhà khoa bảng đỗ đại khoa (như Tiến sĩ Phạm Văn Đạt khoa Bính Tuất 1640 soạn bia, Tiến sĩ Lê Nhân Triệt khoa Canh Thìn nhuận văn bia chùa Diên Phúc năm 1650), các quan lại triều đình (Giám sinh, Hiệu sinh, Xã lại, Thị nội Thư tả) và các tăng chức (Tăng thống Trần Hữu Phẩm soạn bia chùa Thanh Lan năm 1614).

Chương 3: Văn bia với nghiên cứu lịch sử một số ngôi chùa tiêu biểu

Chương 3 sử dụng văn bia để phục dựng lịch sử xây dựng, kiến trúc và cảnh quan của các ngôi chùa nổi tiếng ở Bắc Ninh:

  • Địa thế và diện mạo kiến trúc: Văn bia ghi chép chi tiết về phong thủy, thế đất, các đợt trùng tu tiền đường, thượng điện, hành lang, gác chuông, cầu đá, đúc đại hồng chung và tạo tác tượng pháp.
  • Bổ sung sử liệu thời Lý, Trần, Lê sơ: Nhiều văn bia thế kỷ XVII - XVIII đóng vai trò bảo lưu ký ức lịch sử, cung cấp cứ liệu về nguồn gốc khởi dựng của chùa từ thời Lý - Trần (như chùa Dâu, chùa Phật Tích, chùa Dạm, chùa Diên Khánh, chùa Phổ Thành) mà văn bia nguyên bản thời Lý - Trần đã bị thất lạc.
  • Nguyên nhân trùng tu thế kỷ XVII - XVIII: Do sự tàn phá của thời gian, thiên tai và đặc biệt là hậu quả của các cuộc chiến tranh, binh hỏa thời Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn.
  • Sự bảo trợ của vương công, quý tộc: Sự tham gia tài trợ tiền của, ruộng đất công đức của các thân vương, quận chúa, thứ phi phủ Chúa Trịnh (như Hoàng thái phi Diệu Viên họ Trịnh tại chùa Bút Tháp, vương phi họ Trương tại chùa Phật Tích) và tầng lớp thái giám trong việc hưng công xây dựng các công trình quy mô lớn.
  • Khắc in kinh Phật và hệ thống tượng pháp: Văn bia phản ánh các hoạt động san khắc mộc bản kinh Phật (như ván in sự tích đức Phật tại chùa Dâu do thiền sư Tính Mộ chủ trì) và sự phát triển của nghệ thuật điêu khắc tượng gỗ, tượng đá, tượng Hậu Phật thời Lê Trung hưng.

Chương 4: Góp phần nghiên cứu tông phái, sư tổ chùa Bắc Ninh

Chương 4 tập trung làm rõ các vấn đề thiền phái, hành trạng danh tăng và văn hóa Phật giáo:

  • Sự dung hợp và truyền thừa tông phái: Thế kỷ XVII - XVIII ghi nhận sự du nhập và phát triển mạnh mẽ của Thiền phái Lâm Tế từ Trung Hoa vào Đàng Ngoài, song song với quá trình phục hưng Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.
  • Hành trạng các danh tăng tiêu biểu:
    • Thiền sư Chuyết Chuyết (1590 - 1644): Danh tăng Trung Hoa sang Đại Việt, trụ trì và hoằng hóa tại chùa Phật Tích và chùa Ninh Phúc (Bút Tháp), khai sáng truyền thống Lâm Tế tại miền Bắc.
    • Thiền sư Minh Hành: Đệ tử kế thừa của Chuyết Chuyết, tiếp tục hoàn thiện công trình kiến thiết chùa Bút Tháp.
    • Thiền sư Chân Nguyên (1647 - 1726): Người có công lớn trong việc khôi phục, nối dòng Thiền phái Trúc Lâm thời Hậu Lê.
    • Trịnh Thập - Trịnh Lân Giác (1696 - 1733): Quý tộc họ Trịnh xuất gia, gắn với sự phát triển của dòng Trúc Lâm tại chùa Hàm Long (xã Nam Sơn, Quế Võ).
  • Văn hóa và sinh hoạt Phật giáo:
    • Văn bia thể hiện triết lý nhân sinh từ bi, hồi hướng công đức, luật nhân quả báo ứng của Phật giáo hòa quyện với đạo lý hiếu nghĩa truyền thống của người Việt.
    • Tín ngưỡng Phật giáo kết hợp mật thiết với tín ngưỡng nông nghiệp bản địa thông qua hệ thống thờ Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện) tại vùng Dâu (Thuận Thành).
    • Nghi lễ cúng Hậu Phật: Văn bia Hậu Phật mang tính chất như bản khế ước xã hội, kinh tế giữa người gửi giỗ và nhà chùa/dân làng, quy định chi tiết diện tích ruộng đất, tiền bạc cung tiến và tuần tiết cúng lễ hàng năm.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học và lý luận

  • Tập hợp và xử lý trọn vẹn danh mục gồm 382 văn bia Phật giáo thế kỷ XVII - XVIII trên toàn tỉnh Bắc Ninh, lập bảng biểu thống kê chi tiết theo đơn vị hành chính và 24 niên hiệu trị vì.
  • Bổ sung vào kho tàng tư liệu Hán Nôm các văn bản bia thời Tây Sơn (Quang Trung, Cảnh Thịnh) và hệ thống văn bia tại huyện Lương Tài (vốn bị bỏ sót trong các công trình nghiên cứu trước đây).
  • Chỉ ra đặc điểm văn bản học của văn bia Phật giáo Bắc Ninh: tỷ lệ ngụy tạo rất thấp (<1%), xác định các quy luật kiêng húy thời Lê (đặc biệt là húy chữ Cửu, chữ Trần) và cơ cấu tác giả soạn bia từ các bậc thiền sư đến trí thức đại khoa.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Làm sáng tỏ diện mạo, quy mô và diễn trình trùng tu của các di tích Phật giáo tiêu biểu tỉnh Bắc Ninh (chùa Dâu, Bút Tháp, Phật Tích, Hàm Long, Tĩnh Lự, Khai Nghiêm...), phục vụ công tác quy hoạch bảo tồn, trùng tu di tích đúng nguyên trạng lịch sử.
  • Cung cấp luận cứ lịch sử - văn hóa xác thực phục vụ công tác thuyết minh, quảng bá di sản, phát triển du lịch tâm linh và giáo dục truyền thống văn hóa địa phương.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đề nghị các cơ quan chuyên môn và chính quyền địa phương tiếp tục lập hồ sơ số hóa, dập bổ sung thác bản các văn bia nằm rải rác trong nhân dân hoặc tại các phế tích chưa được sưu tập.
  • Có biện pháp bảo vệ vật lý cho hệ thống bia đá ngoài trời tại các chùa nhằm ngăn chặn sự bào mòn của thời tiết và tác động cơ học.
  • Đẩy mạnh việc biên dịch, công bố toàn văn nội dung các văn bia Phật giáo thế kỷ XVII - XVIII để phục vụ rộng rãi giới nghiên cứu và cộng đồng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do dung lượng tư liệu bi ký quá lớn (382 bia), luận án tập trung khảo cứu sâu trên 174 đơn vị thác bản do Viện Viễn Đông Bác Cổ sưu tầm và khảo sát chọn lọc 208 văn bia do Viện Nghiên cứu Hán Nôm sưu tầm trong thập niên 1990; chưa thể phiên dịch và công bố toàn văn tất cả các văn bia khảo sát.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục mở rộng điền dã thực địa tại các thôn xã vùng sâu, vùng xa để tìm kiếm các văn bia viết về hành trạng thiền sư và các tông phái Phật giáo còn thất lạc.
    • Tiến hành phiên dịch trọn vẹn toàn bộ tuyển tập văn bia Phật giáo tỉnh Bắc Ninh để xuất bản thành công trình tư liệu chuyên khảo hoàn chỉnh.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Hán Nôm, Lịch sử, Tôn giáo học: Cung cấp phương pháp giám định văn bản học bi ký, dữ liệu thống kê niên hiệu, chữ húy và nguồn sử liệu nguyên cấp để nghiên cứu lịch sử Phật giáo Đàng Ngoài thế kỷ XVII - XVIII.
  • Đối với các nhà quản lý văn hóa, bảo tồn di tích: Là tài liệu tra cứu lịch sử xây dựng, niên đại các hạng mục kiến trúc, văn vật tượng thờ của 160 ngôi chùa cổ tại Bắc Ninh.
  • Các phần đáng tham khảo nhất: Bảng thống kê văn bia theo niên hiệu hoàng đế (Bảng 3), Bảng phân bố chùa thế kỷ XVII - XVIII (Bảng 2), phần khảo cứu chữ húy và khảo sát lịch sử các ngôi chùa lớn (chùa Dâu, Bút Tháp, Phật Tích).

Câu hỏi thường gặp

1. Số lượng văn bia Phật giáo thế kỷ XVII - XVIII tại Bắc Ninh được luận án khảo sát là bao nhiêu và phân bố như thế nào?

Luận án khảo sát tổng cộng 382 văn bia Phật giáo thế kỷ XVII - XVIII (gồm 174 bia do EFEO sưu tầm và 208 bia do VNCHN sưu tầm trong thập niên 1990), phân bố tại 160 ngôi chùa thuộc 8 đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Bắc Ninh. Huyện Quế Võ có số lượng chùa có bia lớn nhất (49 chùa), tiếp đến là Yên Phong (22 chùa), Thuận Thành (21 chùa), Gia Bình (21 chùa), Từ Sơn (20 chùa), Tiên Du (14 chùa) và Lương Tài (13 chùa).

2. Niên hiệu nào có số lượng văn bia Phật giáo xuất hiện nhiều nhất trong hai thế kỷ XVII - XVIII tại Bắc Ninh?

Số lượng văn bia tập trung cao nhất ở hai niên hiệu: Chính Hòa (1680 - 1705) triều Lê Hy Tông với 95 văn bia (chiếm 25% tổng số) và Cảnh Hưng (1740 - 1786) triều Lê Hiển Tông với 91 văn bia (chiếm 23% tổng số). Ngoài ra, các niên hiệu có số lượng đáng kể gồm Vĩnh Thịnh (52 bia), Bảo Thái (25 bia), Vĩnh Hựu (19 bia), Cảnh Trị (18 bia), Khánh Đức (12 bia) và Vĩnh Trị (10 bia). Thời Tây Sơn có 11 bia (Quang Trung 6 bia, Cảnh Thịnh 5 bia).

3. Hiện tượng kiêng húy trên văn bia Phật giáo Bắc Ninh giai đoạn này xuất hiện những chữ nào và lý do chính là gì?

Luận án ghi nhận 14 văn bia có chữ húy, phổ biến nhất là húy chữ "Cửu" (4 lần) và chữ "Trần" (3 lần), ngoài ra có các chữ "Tân" (2 lần), "Đề" (2 lần), "Bang", "Thành", "Long" (mỗi chữ 1 lần). Việc kiêng húy chữ "Cửu" và "Trần" bắt nguồn từ lệ cấm thời Lê sơ: bà Phạm Thị Ngọc Cửu (chính thất vua Lê Thái Tổ) hy sinh trong kháng chiến chống Minh, vua Lê Thái Tổ đổi tên bà thành "Trần" và ban lệnh kiêng cả hai chữ "Cửu" và "Trần" từ năm 1428.

4. Luận án phát hiện những trường hợp văn bia ngụy tạo nào tại Bắc Ninh?

Toàn tỉnh chỉ có 3 thác bản có dấu hiệu ngụy tạo (chiếm tỷ lệ dưới 1%):

  • Thác bản số N° 02862 ngụy tạo dòng niên đại "Cảnh Thịnh thập thất niên" (năm Cảnh Thịnh thứ 17 - trên thực tế không có niên đại này), trong văn bản có địa danh "Hoa Lâm" phạm húy chữ "Hoa" (bà Hồ Thị Hoa, mẹ vua Thiệu Trị), nên thực chất là bia thời Nguyễn (Gia Long 17 hoặc Minh Mạng 17).
  • Thác bản số N° 04370 và N° 04371 tại chùa Thánh Ân (thôn Kênh Phố, xã Cao Đức, Gia Bình) dập ghép dòng niên đại Cảnh Trị thứ 4 (1666) từ thác bản N° 04376.

5. Văn bia thế kỷ XVII - XVIII ghi nhận những vị thiền sư và tông phái Phật giáo tiêu biểu nào ở Bắc Ninh?

Văn bia phản ánh sự hưng thịnh của Thiền phái Lâm Tế với vai trò mở đầu của thiền sư Chuyết Chuyết (1590 - 1644) và đệ tử Minh Hành tại chùa Phật Tích và chùa Bút Tháp. Đồng thời, văn bia ghi nhận sự tiếp nối và phục hưng của Thiền phái Trúc Lâm thông qua hành trạng của thiền sư Chân Nguyên (1647 - 1726) và đệ tử Trịnh Thập - Trịnh Lân Giác (1696 - 1733) trụ trì tại chùa Hàm Long.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Nghiên cứu văn bia Phật giáo thế kỷ XVII - XVIII tỉnh Bắc Ninh" của tác giả Nguyễn Quang Hà là công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện về di sản văn khắc Phật giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong hai thế kỷ XVII và XVIII. Bằng phương pháp giám định văn bản học Hán Nôm kết hợp thống kê định lượng và khảo sát liên ngành, luận án đã xử lý khối lượng tư liệu gồm 382 văn bia tại 160 ngôi chùa, làm rõ diện mạo kiến trúc, phong tục cúng Hậu, hoạt động khắc in kinh Phật và sự truyền thừa của các thiền phái Lâm Tế, Trúc Lâm. Kết quả nghiên cứu bổ sung nguồn sử liệu chuẩn xác cho lịch sử Phật giáo, lịch sử tư tưởng và văn hóa làng xã vùng Kinh Bắc, đồng thời tạo cơ sở khoa học trực tiếp cho công tác bảo tồn di tích và phát huy giá trị di sản văn hóa địa phương.