phần mở đầu và kết luận gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về nghiên cứu văn bia Bắc Ninh và văn bia Phật giáo - Những vấn đề đặt ra Trong chƣơng này, trƣớc khi giới thiệu về vị trí địa lý, sự diên cách địa lý của tỉnh Bắc Ninh, chúng tôi tiến hành giới thuyết một số khái niệm cơ bản về văn bia, văn bia Phật giáo tình hình nghiên cứu văn bia Việt Nam nói chung cũng nhƣ văn bia Phật giáo tỉnh Bắc Ninh nói riêng, tiếp theo là một số nhận xét về các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài và một số vấn đề liên quan đến định hƣớng nghiên cứu của luận án. Chƣơng 2: Khảo sát văn bản văn bia Phật giáo thế kỷ XVII - XVIII tỉnh Bắc Ninh Trong chƣơng 2 tác giả giới thiệu bƣớc đầu về tình hình di tích Phật giáo tỉnh Bắc Ninh (hiện nay) trong bối cảnh chung của các loại hình di tích khác trong toàn tỉnh. Tiếp đến là việc khảo sát về sự phân bố văn bia Phật giảo của tỉnh Bắc Ninh theo thời gian (phân chia theo thế kỷ, theo niên hiệu) và phân chia theo không gian (theo đơn vị hành chính các huyện trong tỉnh). Trong chƣơng này, tác giả cũng tiến hành khảo sát về đặc điểm văn bản của văn bia Phật giáo với những đặc trƣng nhƣ văn tự, chữ húy, những lƣu ý về văn bản học (ngụy tạo) và tác giả biên soạn văn bia.
Chƣơng 3: Quá trình hình thành và phát triển của một số ngôi chùa tiêu biểu thế kỷ XVII – XVIII tỉnh Bắc Ninh Trƣớc hết, tác giả giới thiệu sơ qua về tình hình những di tích Phật giáo và những văn bia Phật giáo trƣớc Tk XVII - XVIII tỉnh Bắc Ninh để thấy đƣợc sự phát 6 triển có tính kế thừa, tiếp nối liên tục của một số di tích Phật giáo ở tỉnh Bắc Ninh. Qua tƣ liệu văn bia, tác giả trình bày về quá trình xây dựng, trùng tu một số ngôi chùa tiêu biểu của tỉnh Bắc Ninh nhƣ chùa Dâu, chùa Bút Tháp, chùa Hàm Long, chùa Phật Tích. và một số ngôi chùa khác. Tác giả cũng kiến giải nguyên nhân của việc xây dựng, trùng tu ở thế kỷ XVII - XVIII là do các nguyên nhân khác nhau nhƣ: Thiên nhiên hủy hoại, chiến tranh tàn phá những ngôi danh lam cổ tự.
Từ các cứ liệu của văn bia Phật giáo, tác giả cũng trình bày về quy mô, hệ thống tƣợng thờ,. vai trò của nó đối với đời sống cộng đồng và đặc biệt là sự đóng góp xây dựng của tầng lớp quý tộc Lê - Trịnh đối với sự phát triển của Phật giáo nói chung và các ngôi chùa lớn ở Bắc Ninh nói riêng. Chƣơng 4: Văn bia Phật giáo thế kỷ XVII - XVIII tỉnh Bắc Ninh góp phần nghiên cứu vấn đề tông phái, sƣ tổ và văn hóa Phật giáo Qua các nguồn tƣ liệu văn bia và các tƣ liệu bổ trợ khác, tác giả bƣớc đầu giới thiệu về một số vị sƣ tổ, hành trạng, tông phái cùng một số nét sinh hoạt văn hóa Phật giáo độc đáo của Bắc Ninh thế kỷ XVII - XVIII nhƣ Phật giáo gắn liền với tín ngƣỡng nông nghiệp. KẾT LUẬN DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 7 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU VĂN BIA PHẬT GIÁO VÀ VĂN BIA TỈNH BẮC NINH, NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA Trƣớc hết, luận án xác định một số khái niệm đồng thời khái quát về lịch sử hình thành, diên cách tỉnh Bắc Ninh trong lịch sử.
Điều đó, giúp cho ngƣời đọc hình dung đƣợc bề dày lịch sử của tỉnh Bắc Ninh cũng nhƣ tình hình các di tích lịch sử của tỉnh trong đó có di tích Phật giáo. Đồng thời hệ thống tình hình nghiên cứu văn bia tỉnh Bắc Ninh và văn bia Phật giáo Bắc Ninh thế kỷ XVII – XVIII. Trên cơ sở đó, định ra vấn đề cần đi sâu nghiên cứu. Khái lược phân loại theo loại hình văn bia nói chung Ở Việt Nam hiện nay, tồn tại hai loại hình chữ viết văn bia thời Cổ trung đại: Đó là loại hình chữ Sancrit (Phạn) của ngƣời Chăm (Chămpa) có sớm nhất có từ Tk III CN) và loại hình chữ khối vuông, chịu ảnh hƣởng từ văn hóa Trung Hoa.
Ở đây, chúng tôi chỉ đề cập đến loại hình văn hóa khối chữ vuông (chữ Hán - Nôm) đƣợc hình thành và phát triển từ lâu đời trên đất nƣớc Trung Hoa rồi đƣợc truyền nhập vào Việt Nam qua quá trình lịch sử. Chữ Hán đã đƣợc ra đời từ thời nhà Thƣơng (Tk XVII - XI TCN) viết trên mai rùa, xƣơng thú… đƣợc dùng nhiều trong đời sống tín ngƣỡng, tôn giáo và đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội. Theo học giả Chu Kiếm Tâm 朱劍心 trong tác phẩm Kim thạch học 金石学 thì văn khắc trên đá đƣợc chia làm các loại: Khắc Thạch; Bi kiệt 碑竭; Thuật đức 述德; Khắc công 刻功; Kỷ sự 紀事; Toản ngôn 纂言; Mộ chí 墓誌… Trong văn bia Phật giáo thế kỷ XVII - XVIII tỉnh Bắc Ninh, về cơ bản chúng tôi phân chia thành các loại hình sau: - Văn bia xây dựng, trùng tu: là những văn bia ghi về quá trình xây dựng, trùng tu một số hạng mục công trình của chùa. - Văn bia cung tiến: Loại văn bia cung tiến thực chất có quan hệ mật thiết với loại bia trùng tu.
Bởi khi trùng tu, cần phải huy động sức ngƣời, sức của, tiềm lực kinh tế. Trên thực tế, ngƣời viết văn bia muốn thể hiện sự quan tâm đến quá trình 8 kiến thiết, xây dựng và lịch sử hình thành thì đặt tiêu đề bia là xây dựng, trùng tu. Trên thực tế, rất hiếm có những văn bia chỉ mô tả quy mô, diện mạo trùng tu di tích mà không ghi kè theo danh sách ngƣời cugn tiến. Chính vì thế việc phân chia giữa hai loại văn bia trùng tu và cung tiến chỉ có ý nghĩa tƣơng đối.
- Văn bia ghi về tiểu sử, hành trạng: Loại văn bia này cũng thƣờng hay gặp đối với những ngƣời có công xây dựng kiến thiết hoặc những vị Sƣ có công lao trụ trì, ngƣời đỗ đạt, hoặc những ngƣời có địa vị cao trong xã hội có đóng góp quan trọng đối với danh lam cổ tự. - Văn bia ghi về việc gửi giỗ, cúng Hậu: Đây là những loại hình văn bia phổ biến, chiếm số lƣợng lớn đƣợc lƣu giữ trong những ngôi chùa. Về bản chất, loại văn bia này đƣợc coi nhƣ là những “văn bản hợp đồng”, những bản “khế ƣớc” về kinh tế giữa một cá nhân, một gia đình đối với cộng đồng, tổ chức xã hội. Do hoàn cảnh đặc biệt, họ không có con nối dõi hoặc không có con trai nên đã đóng góp tiền để sau này khi chết đi đƣợc cộng đồng làm giỗ ở chùa.
Đặc biệt, những ngƣời có nhiều ruộng đất, nhiều tiền của cúng vào chùa đƣợc gọi là Hậu Phật, cúng vào đình làng đƣợc gọi là Hậu Thần. Vì thế, có ngƣời vừa gửi giỗ vào chùa vừa gửi giỗ vào đình, vừa trở thành Hậu thần vừa trở thành Hậu Phật. - Bia tháp: Tháp nơi yên nghỉ, trữ xá lỵ của các vị tăng, ni, trong tiếng Phạn gọi là Đổ ba 睹婆 hoặc Tốt đổ ba 窣睹婆 Sputra. Về hình thức, bia tháp cũng rất đa dạng, có bia tháp kiêm luôn bia ghi về tiểu sử, hành trạng nhƣng cũng có bia chỉ ghi rất đơn giản họ tên thế danh, pháp danh, ngày sinh, ngày hoá(viên tịch).
Có những bia kiêm gồm cả những bài minh, tán thán công đức nên gọi là “Bi tháp tịnh minh” hoặc gọi tắt là “tháp minh”. Có một số tháp, trên thân còn ghi tiểu sử, hành trạng và công đức của những vị tăng, ni sau khi viên tịch. Tiếp đó, có khi lại ghi danh sách những vị đệ tử, những vị nối pháp… Nhƣ thế, nội dung của bia tháp hay bia tiểu sử, hành trạng có khi lại cung cấp nhiều thôn tin khác nhau. Vì vậy, sự phân chia theo loại hình trên chỉ có ý nghĩa rất tƣơng đối nhƣ một thao tác trong quá trình nghiên cứu.
Với cách phân loại văn bia khá chi tiết và định danh tên gọi văn bia khá cụ thể nên có thể nói, loại hình văn bia tồn tại cho đến ngày nay rất đa dạng, phong phú. Cho đến hiện nay, số liệu thống kê chƣa đầy đủ, số lƣợng văn bia trên đất nƣớc 9 Việt Nam có khoảng hơn 50.000 đơn vị thác bản. Chỉ tính riêng toàn bộ tổng thể số văn bia mà FEEO đã sƣu tầm ở Bắc Ninh vào đầu Tk XX là khoảng hơn 1000 văn bia1. Vị trí địa lý và lịch sử hình thành tỉnh Bắc Ninh Lịch sử hình thành của tỉnh Bắc Ninh hiện nay (xứ Kinh Bắc xƣa) trải qua một quá trình lâu đời gắn liền với nền Văn minh sông Hồng.
Luy Lâu từng là một trong những trung tâm kinh tế - chính trị, tôn giáo cổ xƣa nhất của Việt Nam nằm trọn trong khu vực của các xã Khƣơng Tự, Tam Á, Trí Quả thuộc huyện Thuận Thành. Từ mấy nghìn năm trƣớc, ngƣời Việt cổ đã cƣ trú và lập làng ở ven sông Cầu, sông Dâu, sông Đuống, sông Ngũ Huyện Khê, sông Tiêu Tƣơng… sống chủ yếu bằng canh tác nông nghiệp kết hợp làm nghề thủ công. Hàng loạt di vật nhƣ trống đồng, dao găm, rìu, giáo, mảnh giáp bằng đồng với những hoa văn độc đáo đƣợc tìm thấy ở các di tích Lãng Ngâm, Đại Lai (huyện Gia Bình); các xã Đại Trạch, Quả Cảm (huyện Thuận Thành)… Mảnh khuôn đúc trống đồng trong thành cổ Luy Lâu đã chứng tỏ ngƣời xứ Bắc đã có nghề đúc đồng rất sớm và tinh xảo đồng thời chứng minh trống đồng là hiện vật có tính chất bản địa. Ngoài ra, các ngành nghề khác nhƣ chế tác các đồ trang sức, nghề làm gốm cũng rất phát triển.
Tỉnh Bắc Ninh cũng là một trong những địa phƣơng để lại nhiều di tích lịch sử tiêu biểu phản ánh quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam qua các di tích thuộc giai đoạn tiền sơ sử nhƣ di tích về: Kinh Dƣơng Vƣơng, Lạc Long Quân, Âu Cơ, Thánh Gióng, các tƣớng của Hai Bà Trƣng và nhiều nhân vật lịch sử khác thời Bắc thuộc, Lý - Trần - Lê. Phía Tây và Tây Nam của tỉnh Bắc Ninh giáp với thủ đô Hà Nội, phía Bắc giáp với địa bàn tỉnh Bắc Giang, phía Đông và Đông Nam giáp với tỉnh Hải Dƣơng, phía Nam giáp tỉnh Hƣng Yên. Ngoài ra, Bắc Ninh còn nằm trên 2 hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.