Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống quản lý nhà nước, pháp luật giữ vai trò là công cụ điều chỉnh mang tính bắt buộc chung nhằm duy trì trật tự và định hướng sự phát triển của mọi quan hệ xã hội. Tại Việt Nam, văn hóa được xác định là nền tảng tinh thần, đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển bền vững của con người và đất nước, như tư tưởng được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 1946: "Văn hóa soi đường cho quốc dân đi". Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, ngành công nghiệp văn hóa dần trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng, đòi hỏi khung pháp lý tương ứng phải được xây dựng đồng bộ, khoa học và thích ứng kịp thời.

Mặc dù công tác xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) trong lĩnh vực văn hóa của các cơ quan nhà nước đã đạt được những bước chuyển biến nhất định, thực tiễn hoạt động lập quy tại lĩnh vực này vẫn bộc lộ nhiều điểm hạn chế. Tình trạng văn bản ban hành thiếu kịp thời, mâu thuẫn, chồng chéo, tính khả thi thấp hoặc thiếu đồng bộ đã gây cản trở cho công tác quản lý chuyên ngành, đồng thời tác động tiêu cực đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia hoạt động văn hóa trong xã hội. Nhằm làm rõ thực trạng và tìm kiếm các luận cứ khoa học để hoàn thiện hoạt động này, tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hà (chuyên ngành Xây dựng văn bản pháp luật, khóa luận thực hiện năm 2023 dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Nguyễn Hoài Anh) đã thực hiện đề tài: "Ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa".

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là thông qua việc phân tích cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng hoạt động ban hành VBQPPL trong lĩnh vực văn hóa, đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác ban hành VBQPPL của cơ quan nhà nước trong thời gian tới. Để thực hiện mục đích này, đề tài giải quyết các nhiệm vụ cụ thể:

  1. Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về VBQPPL và hoạt động ban hành VBQPPL trong lĩnh vực văn hóa (khái niệm, đặc điểm, thẩm quyền và quy trình ban hành).
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng ban hành VBQPPL trong lĩnh vực văn hóa từ góc độ số lượng, chất lượng, chỉ ra những hạn chế, bất cập và làm rõ nguyên nhân chủ quan, khách quan.
  3. Đề xuất các phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao năng lực thực thi của bộ máy ban hành VBQPPL trong lĩnh vực văn hóa.

Về đối tượng nghiên cứu, đề tài tập trung làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về VBQPPL và hoạt động ban hành VBQPPL của Việt Nam trong lĩnh vực văn hóa. Về phạm vi nghiên cứu, không gian nghiên cứu được giới hạn ở hoạt động ban hành VBQPPL của các cơ quan nhà nước từ cấp trung ương đến cấp tỉnh; thời gian nghiên cứu tập trung khảo sát thực trạng văn bản pháp luật và hoạt động ban hành, thực hiện VBQPPL trong lĩnh vực văn hóa ở Việt Nam kể từ năm 2020 đến thời điểm nghiên cứu (năm 2023).

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng hệ thống luận điểm dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về văn hóa và nhà nước pháp quyền.

Cơ sở pháp lý nền tảng được tác giả sử dụng xuyên suốt công trình bao gồm:

  • Hiến pháp năm 2013 (Điều 84 về quyền trình dự án luật của các chủ thể).
  • Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), trực tiếp là các quy định tại Điều 2, Điều 3, Điều 4, Điều 5, Điều 32, Điều 39, Điều 40, Điều 63, Điều 64, Điều 65 và Điều 124.
  • Nghị định số 34/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
  • Nghị quyết số 351/2017/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật.
  • Luật Xử lý vi phạm hành chính và các nghị định xử phạt vi phạm hành chính liên quan (Nghị định số 38/2021/NĐ-CP trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo; Nghị định số 158/2013/NĐ-CP; Nghị định số 06/2008/NĐ-CP trong lĩnh vực thương mại).
  • Hệ thống luật chuyên ngành: Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); Luật Điện ảnh năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2022); Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2022); Luật Quảng cáo năm 2012; Luật Xuất bản năm 2012; Luật Thư viện năm 2019; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022; Luật Bình đẳng giới năm 2006; Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật Trẻ em năm 2016.

Để triển khai các nội dung nghiên cứu, tác giả kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, phân loại và nghiên cứu các văn bản luật, nghị định, thông tư, sách chuyên khảo, bài báo khoa học trên các tạp chí luật học và các bài viết liên quan. Đồng thời, tác giả khai thác báo cáo thẩm định dự thảo, báo cáo tổng kết tình hình thi hành VBQPPL của các bộ, ngành liên quan để làm cơ sở chứng minh cho nhận định.
  • Phương pháp phân tích: Phân tích các quy định pháp luật thực định nhằm làm sáng tỏ các khía cạnh lý luận về thẩm quyền, quy trình, cấu trúc của hệ thống VBQPPL trong lĩnh vực văn hóa.
  • Phương pháp thống kê: Thống kê số lượng, cơ cấu văn bản và tỷ lệ các loại VBQPPL được ban hành trong từng chuyên ngành văn hóa nhằm xác định mức độ điều chỉnh và tính khả thi của hệ thống văn bản.
  • Các phương pháp bổ trợ: Phương pháp tổng hợp, so sánh quy định giữa các văn bản pháp luật, tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật tại các ngành và địa phương.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát chung về hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa

Trong chương đầu tiên, khóa luận tập trung xây dựng cơ sở lý luận về văn bản quy phạm pháp luật áp dụng riêng cho lĩnh vực văn hóa:

  • Khái niệm và định nghĩa: Từ định nghĩa chung tại Điều 2 và Điều 3 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), tác giả rút ra khái niệm chuyên biệt: VBQPPL trong lĩnh vực văn hóa là văn bản chứa đựng các quy tắc xử sự chung trong lĩnh vực văn hóa, do các chủ thể có thẩm quyền ban hành theo hình thức, trình tự, thủ tục luật định, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước và được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần trong đời sống thực tiễn.
  • Đặc điểm: Khóa luận xác lập 4 đặc điểm cốt lõi của VBQPPL trong lĩnh vực văn hóa:
    1. Do các chủ thể có thẩm quyền ban hành hoặc phối hợp ban hành (Quốc hội, Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, HĐND và UBND các cấp...).
    2. Được ban hành theo đúng hình thức, trình tự và thủ tục do pháp luật quy định.
    3. Có nội dung chứa đựng các quy phạm pháp luật mang tính bắt buộc chung, thể hiện ý chí của Nhà nước và được áp dụng nhiều lần đối với nhiều đối tượng.
    4. Được Nhà nước bảo đảm thực hiện thông qua hệ thống thiết chế quyền lực, các nguồn lực vật chất, biện pháp phổ biến giáo dục pháp luật và các biện pháp cưỡng chế hành chính, hình sự khi có vi phạm.
  • Thẩm quyền ban hành: Phân định rõ thẩm quyền về hình thức (loại tên văn bản mà từng cơ quan được phép ban hành theo Điều 4 Luật năm 2015) và thẩm quyền về nội dung (giới hạn quyền lực quản lý đối với các quan hệ xã hội trong lĩnh vực văn hóa). Thẩm quyền này được phân bố từ các cơ quan lập pháp, hành pháp trung ương (Quốc hội, UBTVQH, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ VHTTDL và các bộ liên quan) đến chính quyền địa phương cấp tỉnh (Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh và Quyết định của UBND cấp tỉnh, minh họa qua Nghị quyết số 59/2021/NQ-HĐND tỉnh Lai Châu và Quyết định số 3495/QĐ-UBND của UBND TP. Hồ Chí Minh).
  • Quy trình ban hành: Phân tích chi tiết quy trình 5 bước áp dụng đối với VBQPPL ngành văn hóa:
    • Bước 1 - Lập đề nghị xây dựng: Xác định cơ sở chính trị, cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn; phân định quy trình lập đề nghị của Chính phủ/UBND với quy trình lập đề nghị của các cơ quan, tổ chức khác và đại biểu dân cử.
    • Bước 2 - Soạn thảo văn bản: Thành lập ban soạn thảo, xây dựng đề cương (sơ lược và chi tiết), tổ chức lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động (quy định bắt buộc đăng tải 60 ngày trên cổng thông tin điện tử đối với văn bản trung ương).
    • Bước 3 - Thẩm định, thẩm tra: Làm rõ trách nhiệm thẩm định của Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp, Vụ Pháp chế thuộc Bộ VHTTDL; trách nhiệm thẩm tra của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban Pháp luật, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội và Ban Pháp chế HĐND cấp tỉnh.
    • Bước 4 - Trình văn bản: Chuẩn bị đầy đủ hồ sơ gồm tờ trình, dự thảo, báo cáo thẩm định, báo cáo tiếp thu giải trình, báo cáo đánh giá tác động chính sách (RIA), báo cáo lồng ghép giới.
    • Bước 5 - Thông qua, ký chứng thực và ban hành: Thực hiện theo chế độ thủ trưởng hoặc chế độ tập thể thảo luận biểu quyết đa số.

Chương 2: Thực trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa

Chương 2 là phần trọng tâm phân tích thực tiễn lập quy của ngành văn hóa giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2023:

  • Những kết quả đạt được về số lượng và chất lượng:
    • Hệ thống văn bản đã bao quát hầu hết các lĩnh vực chuyên môn. Hiện có 06 lĩnh vực chuyên môn đã được điều chỉnh bởi Luật (Điện ảnh; Di sản văn hóa; Quảng cáo; Thư viện; Sở hữu trí tuệ; Phòng, chống bạo lực gia đình). 04 lĩnh vực chuyên môn còn lại được điều chỉnh bằng văn bản dưới luật (Nghị định, Quyết định, Thông tư) gồm: nghệ thuật biểu diễn; mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; văn hóa quần chúng, văn hóa dân tộc và tuyên truyền cổ động; văn học (chưa có văn bản trực tiếp). Toàn ngành có 34 Nghị định, 15 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 110 Thông tư và Thông tư liên tịch.
    • Về chất lượng: Lĩnh vực di sản văn hóa đã hoàn thiện cơ chế phân cấp khi phân quyền 14/25 thủ tục hành chính về địa phương; ban hành Nghị định số 109/2017/NĐ-CP tiếp cận Công ước UNESCO 1972. Luật Điện ảnh năm 2022 (có hiệu lực từ 01/01/2023) xác lập sự đổi mới căn bản trong tư duy quản lý khi chuyển từ quan niệm "nghệ thuật thuần túy" sang phát triển "ngành công nghiệp điện ảnh". Lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn chuyển biến với Nghị định số 144/2020/NĐ-CP; lĩnh vực mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm được định hình qua Nghị định số 113/2013/NĐ-CP, Nghị định số 72/2016/NĐ-CP, Nghị định số 23/2019/NĐ-CP và Thông tư số 08/2020/TT-BVHTTDL ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật phần mỹ thuật xây dựng tượng đài, phù điêu.

Bảng tổng hợp tỷ trọng số lượng văn bản theo các mảng chuyên môn trong lĩnh vực văn hóa được tác giả trích xuất từ dữ liệu rà soát:

Lĩnh vực chuyên môn Số lượng văn bản chủ yếu Tỷ trọng trên tổng số VBQPPL về văn hóa
Văn hóa quần chúng, văn hóa dân tộc và tuyên truyền cổ động 06 Nghị định, 04 Quyết định của Thủ tướng, 28 Thông tư 24%
Điện ảnh 01 Luật, 05 Nghị định, 02 Quyết định của Thủ tướng, 14 Thông tư 14%
Nghệ thuật biểu diễn 07 Nghị định, 02 Quyết định của Thủ tướng, 10 Thông tư 12%
Mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm 06 Nghị định, 02 Quyết định của Thủ tướng, 08 Thông tư 10%
Công tác gia đình 04 Luật liên quan, 03 Nghị định, 02 Quyết định của Thủ tướng, 06 Thông tư 07%
Thư viện 01 Luật, 02 Nghị định, 07 Thông tư 06%
Quảng cáo 01 Luật, 02 Nghị định, 05 Thông tư 05%
Di sản văn hóa 01 Luật, 08 Nghị định, 03 Quyết định và 01 Chỉ thị của Thủ tướng, 17 Thông tư, 08 Quyết định, 03 Chỉ thị cấp Bộ, 02 TTLT Đang rà soát tổng thể (văn bản khuyết tỷ lệ %)
  • Những hạn chế, tồn tại được chỉ ra:
    1. Văn bản còn mâu thuẫn, chồng chéo, trái pháp luật: Điển hình là sự thiếu thống nhất giữa Điều 7 Luật Điện ảnh và Luật Sở hữu trí tuệ; Luật Sở hữu trí tuệ chưa có quy định bảo vệ bản quyền phim trên không gian mạng dẫn đến lúng túng trong xử lý vi phạm.
    2. Ban hành chưa kịp thời, chưa sát thực tiễn: Tình trạng luật chờ văn bản hướng dẫn diễn ra phổ biến (các quy chuẩn về rạp chiếu phim, thuốc lá trong phim phải mất 7 năm sau khi có Luật Điện ảnh mới được ban hành); khoản 3 Điều 21 Luật Di sản văn hóa năm 2009 quy định ban hành văn bản bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt nhưng đến nay vẫn chưa có văn bản thực hiện; vấn đề quản lý và sử dụng tiền công đức tại các di tích lịch sử, cơ sở tín ngưỡng chưa có khung pháp lý điều chỉnh; tiêu chuẩn tu bổ di tích và mô hình Ban quản lý di tích còn chồng chéo.
    3. Quy định còn bất cập, thiếu tính hợp lý: Tiêu chuẩn xét tặng danh hiệu "Nghệ sĩ nhân dân", "Nghệ sĩ ưu tú" theo Nghị định số 40/2021/NĐ-CP quá nặng về số lượng huy chương vàng, bạc quốc gia và thời gian công tác (15-20 năm), gây thiệt thòi cho các ngành ít có cuộc thi chuyên nghiệp (như trường hợp nghệ sĩ Văn Hiệp chỉ được truy tặng danh hiệu sau khi qua đời); Nghị định số 54/2019/NĐ-CP quy định cơ sở karaoke, vũ trường phải cách trường học, bệnh viện từ 200m trở lên nhưng bỏ sót quy chuẩn kỹ thuật cách âm để bảo vệ người dân sinh sống xung quanh.
    4. Khoảng trống pháp lý: Nhiều lĩnh vực văn hóa chưa có Luật hay Pháp lệnh điều chỉnh mà mới chỉ dừng ở mức Nghị định (nghệ thuật biểu diễn; mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm; thiết chế văn hóa; quyền và nghĩa vụ của văn nghệ sĩ).
    5. Quy trình ban hành mang tính hình thức: Việc lấy ý kiến đối tượng chịu tác động chưa sâu sát, trang tin đăng tải chưa hiệu quả, ít phản hồi ý kiến đóng góp của người dân; công tác thẩm định, thẩm tra thiếu thời gian nghiên cứu do cơ quan chủ trì gửi hồ sơ chậm trễ.
    6. Hệ thống chế tài thiếu và chưa đủ sức răn đe: Thiếu quy định xử phạt hành vi cho thuê, mượn giấy phép biểu diễn nghệ thuật (theo Nghị định số 158/2013/NĐ-CP mức phạt từ 15 triệu đồng là quá thấp so với lợi nhuận); hành vi in lậu sách chỉ bị phạt tối đa 20 triệu đồng theo Nghị định số 06/2008/NĐ-CP trong khi lợi nhuận bất chính gấp hàng chục lần; hành vi bói toán, gọi hồn trục lợi mức phạt chỉ từ 3.000.000 đồng; tiêu chí xử lý vi phạm mang tính định tính, trừu tượng (như "khiêu dâm", "bạo lực", "không phù hợp với thuần phong mỹ tục") dẫn đến sự đánh giá cảm tính.
  • Nguyên nhân của hạn chế: Tác giả chỉ rõ 7 nguyên nhân chủ quan (hệ thống pháp luật chưa đồng bộ; nhận thức của cơ quan quản lý về xây dựng pháp luật văn hóa còn xem nhẹ so với hoạt động sự nghiệp; trình độ, năng lực kỹ thuật lập pháp của đội ngũ soạn thảo còn yếu; thiếu tổng kết thực tiễn và nghiên cứu khoa học; quy trình thủ tục kéo dài; lấy ý kiến hình thức; kinh phí và cơ sở vật chất eo hẹp) và nguyên nhân khách quan do sự biến đổi nhanh chóng của nền kinh tế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế tạo ra nhiều quan hệ xã hội phức tạp chưa thể dự báo.

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa

Trên cơ sở các tồn tại và nguyên nhân đã phân tích, khóa luận xác định 5 nhóm giải pháp cụ thể trong chương cuối:

  • Hoàn thiện quy định pháp luật: Khắc phục sự chồng chéo giữa các đạo luật (giữa Luật Điện ảnh, Luật Di sản văn hóa với Luật Sở hữu trí tuệ, Bộ luật Dân sự); sớm xây dựng Luật điều chỉnh các mảng chuyên môn lớn như Luật Nghệ thuật biểu diễn, Luật Mỹ thuật, Nhiếp ảnh; lượng hóa các tiêu chí thẩm định, chế tài xử lý vi phạm hành chính để loại bỏ tính định tính, cảm tính.
  • Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Bồi dưỡng chuyên sâu kỹ năng phân tích chính sách và kỹ thuật soạn thảo VBQPPL cho đội ngũ cán bộ pháp chế tại Bộ VHTTDL và các Sở địa phương; khắc phục tình trạng giao việc cho cán bộ thiếu kỹ năng pháp lý chuyên sâu.
  • Tăng cường nguồn kinh phí: Bố trí ngân sách thỏa đáng, phân bổ kinh phí tương xứng cho các hoạt động điều tra xã hội học, khảo sát thực tế, tổng kết thi hành và tổ chức hội thảo khoa học lấy ý kiến chuyên gia.
  • Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan: Thiết lập cơ chế phối hợp thực chất giữa Bộ VHTTDL với Bộ Tư pháp, các bộ quản lý ngành (Tài chính, Thông tin và Truyền thông, Tài nguyên và Môi trường) và chính quyền cấp tỉnh trong việc thẩm định và rà soát văn bản.
  • Tăng cường công tác truyền thông: Đổi mới hình thức lấy ý kiến nhân dân, bảo đảm thực hiện nghiêm túc thời hạn đăng tải dự thảo tối thiểu 60 ngày; công khai báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến đóng góp của người dân và doanh nghiệp nhằm nâng cao tính dân chủ và tính khả thi của văn bản ban hành.

Kết quả và đóng góp

Công trình của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hà mang lại những kết quả và đóng góp cụ thể về cả phương diện học thuật lẫn thực tiễn lập quy:

  • Về kết quả dữ liệu: Khóa luận đã hệ thống hóa và phân loại toàn bộ hệ thống VBQPPL trong lĩnh vực văn hóa tại Việt Nam theo cơ cấu 10 mảng chuyên môn, chỉ ra sự phân bổ cụ thể của 34 Nghị định, 15 Quyết định của Thủ tướng và 110 Thông tư, Thông tư liên tịch. Công trình cung cấp các số liệu tỷ trọng cụ thể của từng mảng (Văn hóa quần chúng 24%, Điện ảnh 14%, Biểu diễn 12%, Mỹ thuật 10%, Gia đình 7%, Thư viện 6%, Quảng cáo 5%), đồng thời thống kê được kết quả phân cấp 14/25 thủ tục hành chính trong di sản văn hóa về cấp địa phương.
  • Đóng góp khoa học: Tác giả đã cụ thể hóa khái niệm, đặc điểm và quy trình ban hành VBQPPL theo Luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) vào bối cảnh đặc thù của ngành văn hóa - một lĩnh vực có tính chất nhạy cảm về mặt tư tưởng nhưng đồng thời mang tính kinh tế - dịch vụ giải trí theo cơ chế thị trường.
  • Đóng góp so với nghiên cứu trước: Khóa luận đã khắc phục tính chung chung của các nghiên cứu lập quy trước đây (thường chỉ tập trung vào VBQPPL nói chung hoặc nghiên cứu chính quyền địa phương), cập nhật trực tiếp những văn bản mới có hiệu lực trong giai đoạn 2020 - 2023 như Luật Điện ảnh năm 2022, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022, Nghị định số 144/2020/NĐ-CP và chỉ ra các khoảng trống pháp lý còn tồn tại đến thời điểm năm 2023.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Đề tài tập trung phạm vi nghiên cứu từ các cơ quan trung ương đến cấp tỉnh trong giai đoạn từ năm 2020 đến 2023, do đó chưa khảo sát sâu thực tiễn áp dụng và ban hành văn bản quy phạm của HĐND, UBND ở cấp huyện và cấp xã. Một số dữ liệu hệ thống hóa đối với mảng di sản văn hóa chưa tính toán được con số tỷ trọng phần trăm tuyệt đối trong tổng thể hệ thống văn bản. Ngoài ra, việc nghiên cứu các giải pháp chủ yếu tiếp cận dưới góc độ thể chế và quy trình xây dựng văn bản, chưa có điều kiện khảo sát thực nghiệm xã hội học về mức độ hài lòng của công chúng đối với từng văn bản cụ thể.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi nghiên cứu xuống cấp cơ sở (cấp huyện, xã) gắn với công tác phân cấp quản lý lễ hội và thiết chế văn hóa cơ sở; thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu về đánh giá tác động chính sách (RIA) đối với các dự thảo luật mới thuộc khối văn hóa như dự án Luật Di sản văn hóa (sửa đổi) hoặc dự án Luật Nghệ thuật biểu diễn trong tương lai.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:

  • Sinh viên và học viên cao học: Phù hợp với các chuyên ngành Luật học, Xây dựng văn bản pháp luật, Luật Hành chính, Quản lý nhà nước và Quản lý văn hóa. Đặc biệt, nội dung Chương 1 và Chương 2 cung cấp hệ thống luận cứ và dữ liệu thực tế hữu ích cho người đang nghiên cứu về kỹ thuật lập quy và thực trạng pháp luật chuyên ngành.
  • Cơ quan soạn thảo và thực thi chính sách: Cung cấp góc nhìn thực tiễn và danh mục các "điểm nghẽn" pháp lý (mâu thuẫn giữa Luật Điện ảnh và Luật Sở hữu trí tuệ; bất cập tiêu chuẩn thi đua khen thưởng nghệ sĩ; khoảng trống quản lý tiền công đức; bất cập chế tài vi phạm bản quyền) cho cán bộ pháp chế của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Vụ Pháp luật (Văn phòng Chính phủ), Ban Pháp chế HĐND và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tại các địa phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Hệ thống VBQPPL trong lĩnh vực văn hóa hiện phân bổ tỷ trọng lớn nhất và nhỏ nhất ở những mảng chuyên môn nào?
Theo kết quả thống kê của khóa luận, mảng chuyên môn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hệ thống VBQPPL văn hóa là "Văn hóa quần chúng, văn hóa dân tộc và tuyên truyền cổ động", chiếm 24% (gồm 06 Nghị định, 04 Quyết định của Thủ tướng, 28 Thông tư). Mảng chuyên môn có tỷ trọng nhỏ nhất là "Quảng cáo", chiếm 05% tổng số văn bản (gồm 01 Luật, 02 Nghị định, 05 Thông tư).

2. Điểm mâu thuẫn giữa Luật Điện ảnh và Luật Sở hữu trí tuệ được tác giả chỉ ra là gì?
Điều 7 Luật Điện ảnh quy định Nhà nước bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan của chủ sở hữu tác phẩm điện ảnh theo quy định của Bộ luật Dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, Luật Sở hữu trí tuệ lại không quy định cụ thể về cơ chế bảo vệ bản quyền phim trên không gian mạng, khiến các cơ quan quản lý chức năng thiếu căn cứ pháp lý để xử lý các hành vi xâm phạm bản quyền điện ảnh trực tuyến đang diễn ra phổ biến.

3. Khóa luận nêu bất cập gì về tiêu chuẩn xét tặng danh hiệu "Nghệ sĩ nhân dân", "Nghệ sĩ ưu tú" theo Nghị định số 40/2021/NĐ-CP?
Nghị định số 40/2021/NĐ-CP (sửa đổi Nghị định số 89/2014/NĐ-CP) quy định tiêu chuẩn cứng nhắc khi yêu cầu nghệ sĩ phải có từ 2 đến 3 giải vàng quốc gia (hoặc 1 giải vàng và 2 giải bạc) cùng thời gian hoạt động liên tục hoặc cộng dồn từ 15 đến 20 năm trở lên. Tiêu chí này chưa lượng hóa phù hợp với các loại hình nghệ thuật ít có cuộc thi quốc gia (như mỹ thuật, âm nhạc, nhiếp ảnh) và dẫn đến trường hợp nghệ sĩ tài năng, có cống hiến thực tế được công chúng ghi nhận nhưng không đủ điều kiện xét tặng khi còn sống (như trường hợp nghệ sĩ hài Văn Hiệp phải chờ 6 tháng sau khi mất mới được truy tặng danh hiệu).

4. Trong quy trình 5 bước ban hành VBQPPL ngành văn hóa, cơ quan nào chịu trách nhiệm thẩm định dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh và thông tư của Bộ VHTTDL?
Căn cứ theo quy định của Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (sửa đổi năm 2020) được tác giả phân tích tại Bước 3, Sở Tư pháp chịu trách nhiệm thẩm định dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh (do UBND trình) và quyết định của UBND cấp tỉnh; trong khi đó, Vụ Pháp chế thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm thẩm định các thông tư do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành.

5. Vì sao các chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong văn hóa được đánh giá là chưa đủ sức răn đe?
Khóa luận dẫn chứng nhiều mức phạt tiền hiện hành quá thấp so với nguồn lợi nhuận bất chính thu được: hành vi in lậu sách theo Nghị định số 06/2008/NĐ-CP chỉ phạt tối đa 20 triệu đồng; hành vi cho mượn, cho thuê giấy phép biểu diễn nghệ thuật chỉ phạt từ 15 triệu đồng (Nghị định số 158/2013/NĐ-CP); hành vi bói toán, gọi hồn trục lợi chỉ phạt từ 3.000.000 đồng. Mặt khác, các tiêu chí xác định hành vi vi phạm như "khiêu dâm", "bạo lực", "không phù hợp với thuần phong mỹ tục" còn mang tính trừu tượng, định tính, phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của người thi hành công vụ.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hà đã làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản và thẩm quyền, quy trình lập quy chuyên ngành văn hóa theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Bằng việc tổng hợp số liệu thực tiễn giai đoạn từ năm 2020 đến năm 2023, tác giả đã phản ánh chân thực bức tranh hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, phân định rõ kết quả đạt được cũng như các "lỗ hổng" về mâu thuẫn pháp luật, chậm ban hành văn bản hướng dẫn và chế tài xử lý bất cập. Hệ thống 5 nhóm giải pháp được đề xuất trong công trình là cơ sở khoa học và thực tiễn hữu ích nhằm hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về văn hóa, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và công nghiệp hóa văn hóa tại Việt Nam.