CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ GIỚI THIỆU TÁC GIẢ TÁC PHẨM Chương này, bước đầu thống kê tất cả những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài và bước đầu giới thiệu văn bản tác phẩm Ngự chế cổ kim thể cách thi pháp tập. Khái quát giới thiệu về thân thế, sự nghiệp chính trị và văn chương của Thiệu Trị. Từ đó, đưa ra những đánh giá và định hướng nghiên cứu cho luận án.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Tư liệu cổ ghi chép thơ Ngự chế và tác phẩm Ngự chế cổ kim thể cách thi pháp tập của Thiệu Trị a. Ghi chép trong chính sử: Trong mục này, chúng tôi bước đầu khảo cứu ở hai bộ chính sử quan trọng là: Đại Nam thực lục và Đại Nam nhất thống chí.
Sách ĐNTL ghi chép về việc Thiệu Trị hạ lệnh Nội các lựa chọn các bài thơ trong Thiệu Trị Ngự chế thi để biên soạn thành tác phẩm và đặt tên là Ngự chế cổ kim thể cách thi pháp tập, sau đó đưa tác phẩm đi san khắc, lưu hành. Điểm này chúng tôi trình bày rõ ở chương 2. Sách ĐNTL và ĐNNTC, mục cung Bảo Định, có giới thiệu về thơ ngự chế của Thiệu Trị như sau: “Kính xét: đời Thiệu Trị có thơ thánh chế vịnh 12 cảnh cung Bảo Định: 1. Cung khai phiên yến (Cung mở tiệc đãi phiên vương); 2.
Điện hội từ thần (Điện họp bầy tôi văn học); 3. Các thưởng hồ sơn (Trên gác ngắm cảnh hồ và núi); 4. Tạ lâm thiên thủy (Thủy tạ nhìn trời nước); 5. Hiên đàm kinh sử (Trước hiên bàn kinh sử); 6.
Lang nạp yên hà (Hành lang chứa mây ráng); 7. Nam y cung khuyết (Phía Nam tựa vào cung khuyết); 8. Bắc tiếp viên trì (Phía Bắc liền với vườn hồ); 9. Đông quan vạn tỉnh (Phía Đông xem muôn cái giếng); 10.
Tây lãm thiên phong (Phía Tây xem ngàn ngọn núi); 11. Hạm tĩnh khán hoa (Dựa lan can lặng xem hoa); 12. Song thanh tọa nguyệt (Ngồi ở cửa sổ thưởng trăng sáng)” [64, tr. Sách ĐNNTC, mục chép về Doanh Châu: “Khoảng niên hiệu Thiệu Trị có thơ thánh chế tả 22 cảnh Doanh Châu, đầu đề là: 1.
Gác Hải Tĩnh niên phong; 2. Lầu Vô hạn ý; 3. Lầu Nhật thành; 4. Hiên Tự ấm; 6.
Tạ Tứ phương bình định; 7. Tạ trừng tâm; 8. Tạ truyền tâm; 9. Đình Hồ tâm; 10.
Đình Quang đức; 11. Đình Bát phong tùng luật; 12. Đình Bộ nguyệt; 13. Đình Thất 7 hạm; 14.
Hiên Ấm lục; 16. An phường; 19. Đảo Thiêu hô; 20. Đảo Trấn bắc; 21.
Cầu Kim thủy; 22. Đê Phượng anh” [68, tr. Sách ĐNTL và ĐNNTC, mục chép về vườn Cơ Hạ: “Đầu đời Thiệu Trị dựng dinh điện, tôn gọi là viên. Thơ thánh chế tả 14 cảnh Cơ Hạ viên, đầu đề là: 1.
Điện khai văn yến; 2. Lâu thưởng bồng doanh; 3. Các minh tứ chiếu; 4. Lang tập quân phương; 5.
Hiên sinh thi tứ; 6. Trai tả thi hoài; 7. Trị lưu liên phưởng; 8. Sơn tủng tùng đình; 9.
Nghê kiều tễ nguyệt; 10. Thủy tạ quang phong; 11. Vũ giang thắng tích; 12. Tiên động phương tung; 13.
Hồ tâu liễu lãng; 14. Đảo thụ oanh thanh”. Sách ĐNNTC, mục chép về hồ Tĩnh Tâm: “Niên hiệu Thiệu Trị thơ thánh chế vịnh 20 cảnh thần kinh, nơi đây là một cảnh, gọi là Tĩnh hồ hạ hứng có chạm vào bảng đồng” [68, tr.55] và mục chép vườn Thư Quang: “Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), thánh chế thi vịnh 20 cảnh thần kinh, đây là một cảnh gọi là Thư uyển xuân quang, có chạm vào bảng đồng” [68, tr. Sách ĐNTL và ĐNNTC, mục chép về vườn Thường Mậu do vua Minh Mạng xây và ban cho Hoàng tử Miên Tông khi còn tiềm để, dùng làm chỗ nghiên cứu kinh sử sau khi thị vấn được rảnh rỗi.
Đầu niên hiệu Thiệu Trị nơi này từng được dùng làm chỗ tư tất cày ruộng Tịch điền. “Có thơ Ngự chế vịnh 10 cảnh trong vườn Thường Mậu: 1. Cao lâu thắng thưởng; 2. Quảng hạ đàm văn; 3.
Hiên lan hoa lộ; 4. Trai dũ tịch hà; 5. Thủy các hoa phong; 7. Thanh trì hương luyện; 8.
Lương tạ tình ba; 9. Song kiều giá nguyệt; 10. Tam phong sáp vân” [64, tr. Vườn Thường Mậu và Quốc Tử Giám là những thắng cảnh trong Thần kinh nhị thập cảnh với các bài thơ Thường Mậu quan canh chạm vào biển đồng và Hoàng vũ thư thanh, chạm vào bia dựng ở đình trước Quốc Tử Giám.
Ghi chép trên miếu điện: Thơ văn trên kiến trúc cung điện, lăng tẩm chính là hồn cốt của người xưa để lại. Về thơ văn Ngự chế của Thiệu Trị ghi chép trên miếu điện, chúng tôi tập trung khảo sát tại điện Long An mà nay là Bảo tàng cổ vật cung đình Huế trực thuộc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế. 8 Theo sách ĐNNTC, điện Long An (隆安殿) là điện chính thuộc cung Bảo Định trong Tử Cấm Thành, được xây dựng năm Thiệu Trị thứ 5 (1845), là thời kỳ thịnh vượng của mỹ thuật cung đình Nguyễn. Điện Long An là hành cung được dùng làm chỗ thư giãn ngâm thơ của Thiệu Trị những lúc nhàn rỗi, dùng làm chỗ nghỉ chân của nhà vua sau lễ Tịch điền hàng năm.
Nơi này được mệnh danh là một bảo tàng thơ, vì mục đích xây dựng dùng để thưởng ngoạn ngâm nga thơ phú, nên khi xây dựng Thiệu Trị đã cho trang trí khắc chạm thơ của mình lên đây bằng nhiều hình thức phong phú, tạo cho ngôi điện mang một nét tao nhã đúng với đúng ý nghĩa vườn thơ. Thơ ca được chạm khắc chìm nổi trên các ô hộc, liên ba, đố bản bằng gỗ với lối thể hiện đặc trưng ‘nhất thi nhất họa’ (一詩一畫, một bài thơ một bức tranh) của nghệ thuật cung đình thời kì này, thơ được sơn son thếp vàng, khảm xà cừ, khảm ngà voi… hai gian chính ngôi điện Long An nổi bật trang trọng với nghệ thuật khảm xà cừ hai bài thơ Vũ trung sơn thủy 雨中山水 (Non nước trong mưa) và Phước Viên văn hội lương dạ mạn ngâm 福園文會良夜漫吟 (Đêm thơ ở Phước Viên) được trình bày theo thể Hồi văn thể kiêm liên hoàn độc đáo là một bí ẩn thơ trong nghệ thuật dùng chữ, chơi chữ của Thiệu Trị. Mặt sau đố bản của hai bài thơ này đều chạm bài minh Ngự diên văn bảo minh 御筵文寶銘, đây là bài minh Thiệu Trị sáng tác phỏng theo bài Cổ nghiễn minh 古硯銘 của Lương Vũ Đế, được trình bày theo dạng hình tròn vơi ý nghĩa răn mình. Ngoài ra, trong điện Long An còn hàng trăm bài thơ, câu thơ được trích dẫn trang trí, khiến cho ngôi điện mang dáng vẻ thanh tao và đậm chất thi tứ.
Thơ văn Ngự chế của vua được ghi chép trong các nguồn tư liệu cổ là các bộ chính sử và trên các công trình cung điện, lăng tẩm, đền gác có niên đại từ thời nhà Nguyễn, điều này thể hiện tính chính thống của nó, thể hiện tính chất giáo hóa và chức năng mô phạm của thơ văn. Công trình thư mục học, số hoá về thơ văn Ngự chế của Thiệu Trị a. Về Thiệu Trị Ngự chế thi 紹治御製詩, theo Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu, Trần Nghĩa và Francois Gros, thơ ngự chế của Thiệu Trị hiện đang được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm - Hà Nội gồm có 3 bản in có mục lục, 1 tựa, 1 biểu, 1 bạt, 1 chí, gồm: Thiệu Trị Ngự chế thi 紹治御製詩, kí hiệu: A.135/1- 9 13; Thiệu Trị Ngự chế thi 紹治御製詩, kí hiệu: VHv.72/1-11; Thiệu Trị Ngự chế thi 紹治御製詩, kí hiệu: VHv. Về tác phẩm Ngự chế cổ kim thể cách thi pháp tập, được ghi chép trong các bộ sách sau: - A.3052: Ngự chế cổ kim thể cách thi pháp tập, bản in quyển nhất, lưu trữ tại VNCHN, Hà Nội.1960: Ngự chế cổ kim thể cách thi pháp tập, bản chép tay gồm 4 quyển, lưu trữ tại VNCHN, Hà Nội.123: Thiệu Trị Ngự chế cổ kim thể cách thi pháp tập, 150 trang, khổ 29 x 17, lưu trữ tại VNCHN, Hà Nội.1165: Ngự chế cổ kim thể cách thi pháp, 62 trang, khổ 27 x 15,5, lưu trữ tại VNCHN, Hà Nội.1877: Ngự chế cổ kim thi thể tập sao, 54 trang, khổ 29,5 x 19, lưu trữ tại VNCHN, Hà Nội.1597: Ngự chế cổ kim thể cách thi pháp tập, bản in quyển mục lục, lưu trữ tại TVQG, Hà Nội.1598: Ngự chế cổ kim thể cách thi pháp tập, bản in quyển tam, lưu trữ tại TVQG, Hà Nội.
- Tư liệu mộc bản tác phẩm Ngự chế cổ kim thể cách thi pháp tập, 4 quyển đang bảo quản tại TTLTQG IV - Đà Lạt. Trong nghiên cứu Mộc bản triều Nguyễn - Đề mục tổng quan, đã thống kê số lượng và kí hiệu các văn bản thơ Ngự chế của Thiệu Trị hiện đang lưu trữ ở TTLTQG IV - Đà Lạt. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc giới thiệu sơ lược về các văn bản tác phẩm Ngự chế thi mà chưa có khảo cứu cụ thể về văn bản học cũng như giá trị của văn bản. Nghiên cứu về tiểu sử, sự nghiệp văn chương của Thiệu Trị a.
Về tác giả Thiệu Trị - vị Hoàng đế thứ 3 của triều Nguyễn nên phần nhiều các tiểu sử đều được ghi chép rất rõ ràng đầy đủ trong chính sử, cụ thể là bộ Đại Nam thực lục, chính biên đệ tam kỷ 大南實錄, 正編第三紀 của Quốc Sử quán triều Nguyễn, đã ghi 10 chép chi tiết cuộc đời, quá trình trị vì và sự nghiệp sáng tác của ông. Các nghiên cứu về thân thế sự nghiệp của ông đều dựa theo tài liệu chính thống này. Bộ sử này đã được Viện Sử học phiên dịch vào những năm 60 của thế kỷ XX và xuất bản. Sách Nguyễn Phúc tộc thế phả của Hội đồng trị sự Nguyễn Phúc tộc, phần Đế phả, Thiệu Trị - Nguyễn Phúc Tuyền thuộc đời thứ 13 tính từ Triệu Tổ Tĩnh Hoàng đế - Nguyễn Kim.
Nghiên cứu này, ghi chép khái quát về thân thế sự nghiệp chính trị và thơ văn của Thiệu Trị, ghi chép đầy đủ về gia đình, hậu phi, hậu duệ của ông theo hình thức của một cuốn tộc phả. Ngoài ra, các nghiên cứu trong sách, luận văn, khoá luận, bài báo khoa học đều có đề cập sơ lược tiểu sử Thiệu Trị. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ đề cập một cách tổng quan về cuộc đời và sự nghiệp của ông mà chưa có phân tích chi tiết từng khía cạnh cuộc đời và đóng góp của ông với đất nước trên lĩnh vực trị quốc và văn chương. Về sự nghiệp văn chương Những giá trị văn học, văn hóa và lịch sử thời Nguyễn vốn đã được nghiên cứu từ những thời kỳ trước nhưng phải đến cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỷ XX mới được nghiên cứu chuyên sâu.