CHƯƠNG 1 Giới thiệu Bước sang thế kỷ 21, xu thế hội nhập và cạnh tranh của nền kinh tế toàn cầu ngày càng gia tăng (Levy 2005). Trong bối cảnh đó, năng lực cạnh tranh kinh tế vĩ mô, cụ thể là môi trường kinh doanh, một trong các yếu tố của lý thuyết cạnh tranh trở thành vấn đề thời sự và là mối quan tâm của các nhà nghiên cứu (Ketels, 2013). Các khảo sát về môi trường kinh doanh của quốc gia trở nên phổ biến và là cơ sở để đánh giá, so sánh triển vọng tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia (Bland and Vaz, 2017). Tiếp cận tăng trưởng từ góc độ quản trị kinh tế dần dần được nhấn mạnh, với tham chiếu đến chỉ số cạnh tranh tại các quốc gia Châu Á, trong đó Việt Nam cũng không nằm ngoài ngoại lệ (Merchant-Vega và Malesky, 2011).
Nền tảng của tiếp cận này là xem xét vai trò của quản trị kinh tế đối với sự tăng trưởng và phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, và thông qua đó giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở phạm vi địa phương. Bộ chỉ số Năng lực Cạnh tranh cấp Tỉnh (Provincial Competitiveness Index- PCI) đã được thực hiện tại Việt Nam thí điểm lần đầu tiên năm 2005, sau đó đã trở thành bộ chỉ số thường niên nhằm đo lường năng lực quản trị kinh tế địa phương. Bộ chỉ số này được đo lường kết hợp giữa số liệu điều tra ý kiến doanh nghiệp và các số liệu kinh tế thứ cấp khác. Cho đến nay, Việt Nam là một trong số ít nước vẫn tiếp tục duy trì bộ chỉ số này và công bố hàng năm, với 10 chỉ số thành phần được xây dựng dựa trên 128 thang đo.
Dựa trên bộ chỉ số này, nhiều nghiên cứu về năng lực cạnh tranh cấp quốc gia cũng như cấp địa phương đã được thực hiện (Viet, 2013). Tuy nhiên, các nghiên cứu này đa phần dựa trên các nhiều vào việc phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh chung của cả nước hoặc năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của các địa phương thông qua chỉ số năng lực cạnh tranh được công bố, tìm hiểu vai trò của lực cạnh tranh nhưng chưa có nhiều nghiên cứu tìm hiểu vai trò của từng chỉ số thành phần PCI đối với thành tựu kinh tế của địa phương, tập trung vào tầm quan 1 trọng và hiệu quả của từng chỉ số thành phần và tìm hiểu nội tại nguyên nhân tại sao năng lực cạnh tranh của địa phương lại có những đánh giá khác nhau. Một vài nghiên cứu lựa chọn sử dụng các thang đo cụ thể trong bộ PCI, nhưng lại xem xét tác động trực tiếp thay vì khảo sát tác động của các thang đo này thông qua các chỉ số thành phần và hệ thống chỉ số của phương pháp luận PCI. Mặt khác tiếp cận phân tích tầm quan trọng-thực hiện hầu nhưng chưa được sử dụng trong các nghiên cứu về đóng góp của của PCI, đóng góp của các chỉ số thành phần, hoặc của các thang đo chi tiết được sử dụng.
Điều này dẫn đến những giới hạn nhất định đứng về mặt hoặch định chính sách. Quy mô lớn về số lượng thang đo cũng như các chỉ số thành phần là một ưu điểm của phương pháp luận PCI. Tuy nhiên đây cũng là một điểm có thể gây ra những bất cập khi áp dụng các kết quả nghiên cứu và muốn cải thiện PCI, đặc biệt khi người làm chính sách đối mặt với các ràng buộc về nguồn lực hay thời gian. Lý do là vì khi đó sẽ gặp khó khăn trong việc lựa chọn mức độ ưu tiên của các lĩnh vực hoặc khía cạnh cần tập trung cải thiện, dẫn đến các đánh giá sai lệch, những khuynh hướng phát triển sai lệch Tung (2014), Hoi, Nam và Tuan (2017).
Trong bối cảnh đó, nghiên cứu này đóng góp vào lĩnh vực nghiên cứu PCI bằng một tiếp cận khác. Mục tiêu chung là đánh giá giá vai trò của các chỉ số thành phần của PCI đến tăng trưởng kinh tế. Các câu hỏi nghiên cứu cụ thể bao gồm: 1. Các chỉ số thành phần nào quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế? 2.
Tầm quan trọng của các thành phần này đối với tăng trưởng kinh tế như thế nào so với năng lực thực hiện hiện nay? 3. Các khía cạnh cụ thể nào (thang đo nào) trong năng lực cạnh tranh cần được chú trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế? Câu hỏi thứ nhất sẽ được giải quyết bằng phương pháp phỏng vấn chuyên gia. Câu hỏi thứ hai sẽ được giải quyết bằng việc áp dụng kỹ thuật phân tích EFA và PLS-SEM sử dụng bộ dữ liệu PCI cho giai đoạn 2017-2020 và xây dựng ma trận tầm quan trọng-thực hiện. Câu hỏi thứ ba sẽ được giải quyết bằng cách khai thác 2 các kết quả từ việc phân tích ma trận tầm quan trọng-thực hiện ở câu hỏi nghiên cứu thứ 2.
Báo cáo nghiên cứu này được cấu trúc gồm 5 phần. Sau phần giới thiệu này, chương 2 sẽ xem xét các khía cạnh lý thuyết, bao gồm hai nhóm vấn đề chính. Thứ nhất là các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế, trong đó đặc biệt chú trọng đến các lý thuyết tăng trưởng hiện đại và tiếp cận về thể chế, từ đó làm sáng tỏ vai trò của quản trị kinh tế trong tăng trưởng. Thứ hai là các nghiên cứu thực nghiệm về PCI và tăng trưởng kinh tế trên thế giới cũng như Việt Nam.
Chương 3 giới thiệu về các phương pháp nghiên cứu sẽ được sử dụng, bao gồm phương pháp định tính để giải quyết câu hỏi nghiên cứu 1 và phương pháp định lượng để giải quyết câu hỏi nghiên cứu 2. Chương này cũng giới thiệu về bộ dữ liệu PCI và lý giải việc lựa chọn thời đoạn 2017-2020 cho nghiên cứu. Chương 4 trình bày các kết quả nghiên cứu, bao gồm nghiên cứu định tính, nghiên cứu định lượng, kết quả xây dựng ma trận tầm quan trọng-thực hiện và các kết quả rút ra từ các ma trận này để trả lời cho câu hỏi 4. Cuối cùng, chương 5 tóm tắt các kết quả nghiên cứu, đưa ra các gợi ý khuyến nghị về chính sách cũng như lưu ý một số vấn đề về giới hạn của nghiên cứu và các thận trọng khi tham khảo, sử dụng các các kết quả.
3 CHƯƠNG 2 Cơ Sở Lý Thuyết 2. Những Vấn Đề Chung về Tăng Trưởng Kinh Tế và PCI Phần này nhằm xem xét các lý thuyết nền về tăng trưởng kinh tế. Nội dung này bao gồm các phần chính. Trước hết là xem xét các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế từ cổ điển đến hiện đại.
Thứ hai là xem xét các công trình thực nghiệm về tăng trưởng kinh tế, từ đó xác định đề xuất các yếu tố ảnh hướng đến tăng trưởng kinh tế. Các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế Theo Perkin và các cộng sự (2006), mặc dù mối quan tâm về vấn đề tăng trưởng đã có từ lâu và mặc dù đã có nhiều nỗ lực tìm hiểu cũng như nghiên cứu, người ta vẫn chưa hiểu thấu đáo các yếu tố có tác động đến tăng trưởng kinh tế. Xét tổng quát, quá trình tăng trưởng sẽ phụ thuộc vào hai thành tố: sự tích tụ của các yếu tố sản xuất (vốn, lao động, đất dai) và việc sử dụng hiệu quả hơn các yếu tố sản xuất. Nhìn chung, các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế có thể phân thành hai nhóm: các lý thuyết cổ điển và lý thuyết hiện đại hay lý thuyết mới.
Đặc điểm chung của các lý thuyết cổ điển là lý giải nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế dựa vào tích tụ nhân tố sản xuất trong khi đó các lý thuyết hiện đại tập trung hơn vào việc sử dụng hiệu quả hơn các nhân tố sản xuất (tr 90). Các mô hình tăng trưởng cổ điển Theo Todaro và Smith (2020, ch3), các mô hình tăng trưởng cổ điển có thể phân thành ba nhóm chính: Mô hình tăng trưởng theo các giai đoạn tuyến tính, mô hình tái cấu trúc, và mô hình tăng trưởng tân cổ điển Solow. Mô hình tăng trưởng theo các giai đoạn tuyến tính: Mô hình này, còn gọi là mô hình Rostow, do nhà sử học người Mỹ Walt W. Rostow đề xuất trong giai đoạn sau thế chiến thứ hai.
Theo mô hình này, các quốc gia phải đi qua lần lượt từng giai đoạn trước khi có thể đạt được giai đoạn cất cánh 4 và duy trì được tăng trưởng. Điểm chủ đạo trong mô hình này là nó nhấn mạnh để đạt được điều kiện cho giai đoạn, nền kinh tế phải đạt được mức độ đầu tư cần thiết để nền kinh tế có thể “cất cánh và duy trì”. Để đạt được lượng đầu tư này, nền kinh tế có thể dựa vào tiết kiệm nội địa. Nếu tiết kiệm nội địa không đủ, nền kinh tế có thể dựa vào nguồn vốn nước ngoài (Todaro và Smith 2003, tr.
Dựa trên nguyên tắc này, hai nhà kinh tế học Harrod và Domar đã đưa ra mô hình tăng trưởng Harrod-Domar. Nét chính của mô hình này là lượng vốn cần thiết của một nền kinh tế sẽ phụ thuộc vào sản lượng với một tỷ lệ cố định. K = cY, từ đây chúng ta có mối quan hệ giữa lượng đầu tư (tính theo tỷ lệ so với sản lượng) và tốc độ tăng trưởng là ∆K = I = c∆Y. Trong mô hình này, hệ số c thường được gọi là hệ số vốn-sản lượng (capital-output ratio).
Nó thể hiện nhu cầu vốn cho tăng trưởng. Thông thường, hệ số này dao động từ 1 đến 3, với hệ số càng cao càng thể hiện hiệu quả đầu tư thấp. Để tài đáp ứng nguồn vốn cho đầu tư, mô hình giả định tiết kiệm trên sản lượng là một hệ số cố định s. Do đó ta có cân bằng S = sY.
Từ đây ta có cân bằng sY = c∆Y, hay ∆Y/Y = s/c. Nếu ký hiệu tốc độ tăng trưởng của sản lượng là gY, thì ta có gY = s/c (Perkins và các cộng sự 2006, tr 96-98). Như vậy, theo mô hình tăng trưởng Harrod-Domar, hai yếu tố tác động đến tăng trưởng là tỷ lệ tiết kiệm và hệ số vốn-sản lượng. Yếu tố sau về bản chất thể hiện hiệu quả của việc sử dụng nhân tố sản xuất (vốn).
Tuy nhiên trong cách tiếp cận và sử dụng kinh điển của mô hình này, yếu tố này được xem là cố định với giá trị tùy theo đặc tính sản xuất của mỗi quốc gia. Các chính sách thường chỉ tập trung vào việc tác động để gia tăng tiết kiệm. Nếu tỉ lệ tiết kiệm nội địa không đủ cao để bảo đảm nguồn vốn cho tăng trưởng, các chính sách sẽ tập trung vào khía cạnh khai thác, huy động các nguồn vốn quốc tế.